Chuyên đề Tốt Nghiệp Viện:Ngân hàng-Tài Chính
MỤC LỤC
PHẦN
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ HUY ĐỘNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 3
1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại 3
1.1.2 Lịch sử hình thành ngân hàng thương mại 3
1.3.2Các yếu tố chủ quan 13
1.3.3 Các dịch vụ cung ứng 14
CHƯƠNG2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN AN BÌNH CHI NHÁNH HƯNG
YÊN 18
SV:Vũ Thị Nhung SV:13110559
Chuyên đề Tốt Nghiệp Viện:Ngân hàng-Tài Chính
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ABBANK : Ngân hàng Thương mại cổ phần An Bình
CN : Chi nhánh
TMCP : Thương mại cổ phần
NH : Ngân hàng
NHNN : Ngân hàng nhà nước
USD : Đô la Mỹ
VND : Việt Nam đồng
NHTM : Ngân hàng thương mại
TCTD : Tổ chức tín dụng
TCKT-XH : Tổ chức kinh tế-Xã hội
ACB : Asia Commercial Bank - Ngân hàng Á Châu
MB : Ngân hàng Quân đội
BCKQKD : Báo cáo kết quả kinh doanh
SV:Vũ Thị Nhung SV:13110559
Chuyên đề Tốt Nghiệp Viện:Ngân hàng-Tài Chính
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU
nguồn vốn huy động. Nhận thấy được những vấn đề cấp thiết đó tại NHTM nơi em
thực tập. Em đã lựa chọn đề tài “ Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Ngân
hàng Thương mại cổ phần An Bình chi nhánh Hưng Yên” làm đề tài nghiên cứu cho
Chuyên đề tốt nghiệp cuối khóa của mình.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Khả năng huy động vốn, tạo nguồn vốn là nguồn gốc của
mọi hoạt động dịch vụ của Ngân hàng, Do vậy đề tài chỉ tập trung nghiên cứu
những giải pháp tăng cường khả năng huy động vốn của Ngân hàng TMCP An
Bình-CN Hưng Yên.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài này nghiên cứu việc tăng cường khả năng huy động
vốn của Ngân hàng TMCP An Bình-CN Hưng Yên trong điều kiện kinh tế thị trườn
hiện nay đã giới hạn trong khoảng thời gian phân tích là 3 năm (2010-2012)
SV:Vũ Thị Nhung MSV:13110559
1
Chuyên đề Tốt Nghiệp Viện:Ngân hàng-Tài Chính
3. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hóa những lý luận cơ bản của vấn đề tăng cường khả năng huy
động vốn của Ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
- Phân tích thực trạng phát triển khả năng huy động vốn của Ngân hàng TMCP
An Bình-CN Hưng Yên. Từ đó đánh giá những kết quả, những tồn tại và tìm ra
nguyên của những tồn tại đó
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy mạnh khả năng huy động vốn của
Chi nhánh trong điều kiện mức độ cạnh tranh của các ngân hàng ngày cảng gay gắt
4. Phương pháp nghiên cứu
Thu thập số liệu từ các báo cáo hoạt động kinh doanh của Chi nhánh trong 3
năm 2010- 2012. Từ số liệu được cung cấp đề tài sử dụng đồng bộ các phương pháp
nghiên cứu để làm sáng tỏ mục đích nghiên cứu như: Phương pháp biện chứng và
logic, phương pháp tổng hợp và phân tích hệ thống, phương pháp thống kê và so
sánh…
5. Kết cấu chuyên đề
nhân, chủ yếu là những người giàu.
Do lợi nhuận từ cho vay cao nên nhiều chủ ngân hàng đã lạm dụng ưu thế
của chứng chỉ tiền gửi, họ đã phát hành chứng chỉ tiền gửi khống để cho vay. Thực
trạng này đã đẩy nhiều ngân hàng đến chỗ mất khả năng thanh toán và phá sản.
Trước tình hình đó nhiều nhà buôn góp vốn để thành lập ngân hàng với chức
năng chính là tài trợ ngắn hạn, và thanh toán hộ, gắn liền với quá trình luân chuyển
của tư bản thương nghiệp. Ngân hàng này được gọi là ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại thực hiện các nghiệp vụ truyền thống như huy động
tiền gửi, thanh toán, cất giữ hộ, và cho vay. Tuy nhiên ngân hàng thương mại khác
các ngân hàng thợ vàng là ngân hàng thương mại chủ yếu cho vay bằng chiết khấu
thương phiếu.
1.1.3 Một số nghiệp vụ chính của ngân hàng thương mại
Có nhiều cách phân loại nghiệp vụ của ngân hàng thương mại. Trong phạm
vi nghiên cứu dưới góc độ ngân hàng thương mại, có thể phân loại các nghiệp vụ
chính của ngân hàng thương mại như sau:
- Nghiệp vụ huy động vốn: để có nguồn vốn kinh doanh, các ngân hàng thương
SV:Vũ Thị Nhung MSV:13110559
3
Chuyên đề Tốt Nghiệp Viện:Ngân hàng-Tài Chính
mại có thể huy động vốn qua nhiều kênh khác nhau như huy động tiền gửi tiết kiệm
từ dân cư, huy động tiền gửi không kỳ hạn qua tài khoản thanh toán của khách
hàng, huy động qua phát hành các giấy tờ có giá, huy động từ các hợp đồng tiền gửi
của doanh nghiệp. Nghiệp vụ huy động vốn cần phải tính toán, cân đối những
nguồn vốn để có thể có chiến lược kinh doanh hợp lý, phù hợp, tránh tình trạng lãng
phí vốn.
- Nghiệp vụ sử dụng vốn: tại các ngân hàng thương mại việc sử dụng vốn được
thực hiện qua rất nhiều nghiệp vụ khác nhau
+ Cho vay;
+ Tài trợ các dự án;
+ Chiết khấu giấy tờ có giá;
Để tăng cường huy động vốn ta cần nghiên cứu các hình thức huy động, các
tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn như quy mô, cơ cấu nguồn huy
động đủ lớn để tài trợ cho các danh mục tài sản và không ngừng tăng trưởng ổn
định; nguồn vốn có chi phí hợp lý; huy động vốn phù hợp với sử dụng vốn về mặt
kỳ hạn; quản lý tốt các loại rủi ro liên quan đến hoạt động huy động vốn. Vai trò
của hoạt động huy động vốn có vai trò nhất định đối với các đối tượng trong nền
kinh tê:
Đối với khách hàng:
- Cung cấp cho khách hàng kênh tiết kiệm và đầu tư nhằm làm cho tiền của
họ sinh lợi. Khi khách hàng có tiền nhàn rỗi, họ có thể lựa chọn nhiều hình thức đầu
tư, tiết kiệm khác nhau: tích trữ vàng, ngoại tệ, bất động sản…. song có thể thấy
rằng lợi nhuận luôn đi cùng với rủi ro. Một kênh đầu tư có lợi nhuận trong tương lai
lớn đồng nghĩa với nó là người đầu tư sẽ phải chấp nhận một mức rủi ro cao. Sự
biến động của tỷ giá, giá vàng, giá bất động sản có thể đem lại mức lợi nhuận chênh
lệch cao nhưng cũng có thể đẩy người đầu tư vào chỗ điêu đứng. Điển hình là bất
động sản đóng băng, giá vàng liên tục giảm…. Trong khi đó khi gửi tiền vào một
ngân hàng uy tín khách hàng có thể có mức lãi suất thấp hơn nhưng sự an toàn luôn
được đảm bảo.
- Cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn để cất trữ và tích lũy nguồn tiền
nhàn rỗi. Như đã nói ở trên ngân hàng là nơi để tích lũy nguồn tiền một cách an
SV:Vũ Thị Nhung MSV:13110559
5
Chuyên đề Tốt Nghiệp Viện:Ngân hàng-Tài Chính
toàn và sinh lợi chắc chắn.
- Tiếp cận được các dịch vụ tiện ích của ngân hàng: dịch vụ thanh toán qua
ngân hàng, và dịch vụ tín dụng khi khách hàng cần vốn cho sản xuất, tiêu dùng.
Đối với nền kinh tế:
- Kênh chu chuyển nguồn vốn: Nguồn vốn huy động tác động trực tiếp tới tích
lũy và tiêu dùng, bởi mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị, tổ chức
kinh tế và các cá nhân đều chịu sự tác động của thị trường, của các quy luật kinh tế,
- Cung cấp hàng hóa cho thị trường tài chính: hoạt động huy động vốn như đã
nói ở trên là một kênh tạo hàng hóa cho thị trường tài chính. Đó chủ yếu là trái
phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, cổ phiếu….Khi một Ngân
hàng thương mại đẩy mạnh về huy động vốn, sẽ có một loạt các phương thức đưa ra
để có thể thu hút được nguồn vốn. Trong khi đó công cụ thường được sử dụng nhất
đó là các chương trình khuyến mại, chính sách lãi suất hấp dẫn. Song để có lượng
vốn ổn định trong dài hạn các Ngân hàng lớn có thể huy động qua việc phát hành
trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi….từ đó tạo ra cho thị trường tài chính một
lượng hàng hóa nhất định. Các hàng hóa này trên thị trường tài chính có tính an
toàn cao và thu hút được nhiều nhà đầu tư.
Đối với NHTM:
- Tạo nguồn vốn chủ lực cho hoạt động kinh doanh. Không có nghiệp vụ huy
động vốn, ngân hàng thương mại sẽ không đủ nguồn vốn tài trợ cho hoạt động của
mình. Ngân hàng thương mại cũng là một doanh nghiệp nhưng là một Doanh
nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, các NHTM hiện nay đã
thực hiện hạch toán kinh doanh tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình.
Do đó các nguồn vốn huy động được sẽ quyết định quy mô cũng như định hướng
hoạt động của ngân hàng. Nếu nguồn vốn được coi là yếu tố đầu vào trong quá trình
kinh doanh của một NHTM thì nguồn vốn huy động được coi là yếu tốt đầu vào
thường xuyên, chủ yếu nhất của ngân hàng. Ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ tín
dụng đầu tư chủ yếu dựa vào nguồn này.
- Thông qua nghiệp vụ huy động vốn, ngân hàng thương mại có thể đo lường
được uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng. Từ đó ngân
hàng thương mại có biện pháp không ngừng hoàn thiện hoạt động huy động vốn để
SV:Vũ Thị Nhung MSV:13110559
7
Chuyên đề Tốt Nghiệp Viện:Ngân hàng-Tài Chính
giữ vững và mở rộng quan hệ với khách hàng.
- Nguồn vốn huy động có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động kinh doanh của
NHTM. Cụ thể, nếu ngân hàng huy động được nguồn vốn dồi dào với chi phí thấp
Huy động tiền gửi và cho vay là hoạt động căn bản của ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại huy động tiền gửi thông qua tài khoản vãng lai (hay
tài khoản thanh toán), tài khoản tiết kiệm không định kỳ và định kỳ (có thời hạn
nhất định). Thông thường, ngân hàng tính phí đối với tài khoản vãng lai và cấp phát
một tập chi phiếu để chủ tài khoản sử dụng trong thanh toán hay rút tiền. Ở nước ta
hiện nay, loại tài khoản này hiện nay không phổ biến mặc dù ngân hàng không tính
phí đối với tài khoản nhưng do quy định của ngân hàng Nhà nước trong việc ký
phát chi phiếu hay séc.
Có thể phân loại các hình thức huy động vốn bằng tiền gửi như sau:
a) Tiền gửi không kỳ hạn (tiền gửi thanh toán):
- Khái niệm: là loại tiền gửi mà người gửi tiền được sử dụng khoản tiền gửi
đó vào bất cứ thời điểm nào để phục vụ cho nhu cầu thanh toán.
- Đối tượng: doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân.
- Đặc điểm:
+ NH trả lãi thấp thậm chí ngân hàng không trả lãi, chi phí thấp, nâng cao khả
năng cạnh tranh
+ Số dư không lớn nhưng số lượng rất nhiều làm cho tổng vốn huy động qua
tiền gửi thanh toán tăng đáng kể
+ Tuy nhiên, NH khó kế hoạch hóa việc sử dụng.
b) Tiền gửi có kỳ hạn:
- Khái niệm: là loại tiền gửi mà khách hàng chỉ gửi vào ngân hàng trong một
khoảng thời gian xác định.
- Mỗi lần gửi tiền khách hàng phải ký một hợp đồng tiền gửi và thỏa thuận cụ
thể thời điểm rút tiền.
- Khi có nhu cầu rút tiền, khách hàng có thể rút một phần hoặc toàn bộ vốn
gốc (tùy vào điều kiện thỏa thuận trong hợp đồng tiền gửi có kỳ hạn).
- Tái lập kỳ hạn mới tùy thuộc vào thỏa thuận trong hợp đồng.
SV:Vũ Thị Nhung MSV:13110559
9
Chuyên đề Tốt Nghiệp Viện:Ngân hàng-Tài Chính
10
Chuyên đề Tốt Nghiệp Viện:Ngân hàng-Tài Chính
trường tài chính. Điều đó dẫn đến việc huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ
chức xã hội gắn liền với việc mở rộng, cải tiến các dịch vụ ngân hàng.
1.2.3.3 Huy động vốn bằng hình thức vay từ các tổ chức tín dụng khác và vay
từ NHNN:
- Huy động vốn của TCTD khác thông qua việc TCTD mở tài khoản tại
NHTM để tham gia hệ thống thanh toán, tham gi trên thị trường liên ngân hàng. Các
NHTM có thể vay của các NHTM hay TCTD khác. Các ngân hàng đang thiếu hụt
về dự trữ, có nhu cầu vay tức thời có thể vay của các ngân hàng đang dư thừa dự
trữ. Các ngân hàng vay trên thị trường liên ngân hàng rất đơn giản, tự liên hệ trực
tiếp với nhau hoặc cũng có thể liên hệ qua ngân hàng đại lý. Các khoản vay cũng có
thể không cần đảm bảo hoặc đảm bảo bằng các chứng khoán kho bạc.
- NHTM có thể huy động vốn từ NHNN dưới hình thức đi vay: đây là khoản
vay nhằm quyết nhu cầu cấp bách trong chị trả của ngân hàng thương mại. Trong
trường hợp thiếu hụt dự trữ bắt buộc và dự trữ thanh toán thì các NHTM sẽ vay của
NHNN. Hình thức cho vay chủ yếu của NHNN là tái chiết khấu( hoặc tái cấp vốn).
NHTM khi cần tiền sẽ mang các thương phiếu của họ đến NHNN để tái chiết khấu.
NHTM bị NHNN kiểm soát chặt chẽ việc cho vay này và thực hiện các điều kiện
đảm bảo nhất định.
Ngoài ra thì các NHTM có thể vay trên thị trường vốn: tương tự như các doanh
nghiệp khác, các NHTM vay mượn bằng cách phát hành các loại giấy nợ như trái
phiếu, kì phiếu, tín phiếu. Đây là các khoản nợ trung và dài hạnh của các ngân hàng
nên có thể bổ sung nguồn vốn cho ngân hàng khá hiệu quả. Tuy nhiên cách này ít
được áp dụng với số lượng lớn mà chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của
các ngân hàng. Nguyên nhân là do nghiệp vụ vay mượn này tương đối phức tạp, cần
phải nghiên cứu kỹ thị trường để quyết định quy mô,mệnh giá, lãi suất cũng như
thời điểm đáo hạn… Thêm vào nữa,các NHTM nhỏ ít khi huy động được lượng vốn
cao khi sử dụng biện pháp này bởi điều này phụ thuộc rất nhiều vào quy mô, uy tín
của ngân hàng.
hiểu đúng và hiểu sâu hơn nữa về vai trò và chức năng của NH.
SV:Vũ Thị Nhung MSV:13110559
12
Chuyên đề Tốt Nghiệp Viện:Ngân hàng-Tài Chính
1.3.2 Các yếu tố chủ quan
Uy tín của NH:
Mọi người thường chọn những NH có uy tín tốt để gửi tiền hay sử dụng các
dịch vụ với mong muốn an toàn và tiện lợi nhất, có nhiều khi họ còn phải chịu lãi
tiền gửi thấp hơn các NH khác, những TCTD sẽ chấp nhận cho vay các khách hàng
có danh tiếng, uy tín tốt, luôn kinh doanh có lãi bởi họ có khả năng trả được nợ
đúng hạn. Do đó không làm gián đoạn đến việc sử dụng vốn của tổ chức mình.
Trong điều kiện tại Việt Nạm hiện nay niềm tin của người dân vào hệ thống các
ngân hàng quốc doanh vẫn là rất lớn. Người dân quan niệm rằng, các ngân hàng
quốc doanh có sự đảm bảo của Nhà nước, khi tiền của họ gửi trong các ngân hàng
này, sẽ có sự đảm bảo của Chính phủ, tránh tình trạng khi ngân hàng phá sản, tiền
của người gửi sẽ mất. Lý giải tình trạng này còn có thể kể đến lịch sử hình thành
và phát triển lâu dài của hệ thống ngân hàng quốc doanh. Tại Việt Nam, hầu hết
các ngân hàng quốc doanh đều được hình thành và phát triển từ thời kỳ bao cấp,
trải qua nhiều năm, nó đã ăn sâu vào trong tiềm thức người dân, đặc biệt là tầng
lớp lớn tuổi. Vì vậy khi hai ngân hàng có cùng mức lãi suất huy động thì ngân
hàng nào thuộc sở hữu nhà nước sẽ được ưu tiên hơn.
Lãi suất huy động vốn :
Với tư cách là giá vốn, lãi suất có tác động điều tiết trực tiếp đến hoạt động tín
dụng, cho vay và huy động vốn của ngân hàng, tác động đến lợi nhuận khi xem xét
kết quả kinh doanh, tính toán lãi suất chênh lệch đầu ra và đầu vào. Khi lãi suất thay
đổi theo diễn biến quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường tiền tệ, phản ánh đúng
tín hiệu của thị trường, điều đó khiến ngân hàng phải tìm kiếm, hoạch định lãi suất
phù hợp cho mình. Trong trường hợp lãi suất biến động do tác động của các yếu tố
phi vật chất (yếu tố cạnh tranh không lành mạnh…) sẽ có tác động bất lợi đối với
hoạt động tín dụng của ngân hàng. Đây là khó khăn đối với các NHTM có quy mô
khách hàng hơn sẽ được lựa chọn. Cùng với thái độ niềm nở, tận tình, chuyên
nghiệp của cán bộ ngân hàng sẽ tạo niềm tin cho khách hàng.
1.3.4 Các nhân tố khác
Marketing NH: là hoạt động gây sự chú ý cho khách hàng về hình ảnh của
NH, các tiện ích, cơ hội hấp dẫn khi gửi tiền vào NH. Trong cơ chế thị trường các
SV:Vũ Thị Nhung MSV:13110559
14
Chuyên đề Tốt Nghiệp Viện:Ngân hàng-Tài Chính
ngân hàng phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển, tạo ra sự khác biệt, vượt trội hơn
hẳn so với các đối thủ cạnh tranh. Trong thực tế, để đạt được điều này không phải là
đơn giản vì khi áp dụng marketing vào ngân hàng thường gặp một số khó khăn
như : Với xu hướng phát triển kinh tế, nhu cầu của khách hàng ngày càng cao. Các
ngân hàng cần phải đổi mới nhanh chóng trang thiết bị, kỹ thuật, chuyên môn
nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ… Thông qua công tác marketing ngân hàng cần phải
đưa ra các hình thức huy động vốn với thời hạn, giá cả hợp lý,phù hợp với từng giai
đoạn phát triển cụ thể để đáp ứng tốt nhất nhu cầu, mong muốn của khách hàng về
chất lượng, chủng loại các sản phẩm của ngân hàng. Không những thế, công tác
marketing ngân hàng còn phải biết kích thích các nhu cầu của khách hàng nhằm lôi
kéo khách hàng về với mình đề không ngừng mở rộng thêm các khách hàng mới,
ngày càng thu hút được nhiều vốn hơn.
Trên cơ sở nghiên cứu thị trường ngân hàng có thể nắm bắt toàn bộ các thông
tin về môi trường kinh doanh, về khách hàng, đồng thời xây dựng chiến lược
marketing. Dựa trên yếu tố này, các ngân hàng sẽ sử dụng một cách linh hoạt, mềm
dẻo các công cụ kỹ thuật của marketing ứng dụng trong hoạt động của ngân hàng để
thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Các công cụ kỹ thuật marketing được
tập trung vào 4 chính sách lớn :
+ Chính sách thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu điều tra:
Thực thi chính sách này cần huy động toàn bộ phương tiện vật chất cần thiết
để thực hiện việc quan sát, phân tích và tổng hợp các lĩnh vực cơ bản có liên quan
đến thị trường của ngân hàng. Từ các thông tin có được ngân hàng sẽ đưa ra các
sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng đến với khách hàng. Việc đa dạng hóa các kênh
phân phối, mở rộng các quầy giao dịch (số lượng các quầy giao dịch, địa điểm mở
quầy, các sản phẩm, dịch vụ cung ứng tại quầy, trang thiết bị được sắp xếp tại quầy,
trình độ đội ngũ cán bộ nhân viên…) có ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy động
vốn của ngân hàng. Một ngân hàng có càng nhiều kênh phân phối, nhiều quầy giao
dịch thì cơ hội tiếp xúc với khách hàng càng nhiều, từ đó khả năng huy động vốn sẽ
tăng lên. Tuy nhiên, việc mở rộng các kênh phân phối, mở thêm nhiều quầy giao
dịch cần phải tính đến yếu tố chi phí để mở rộng sao cho phù hợp với hiệu quả thu
được từ nó.
SV:Vũ Thị Nhung MSV:13110559
16
Chuyên đề Tốt Nghiệp Viện:Ngân hàng-Tài Chính
+ Chính sách giao tiếp khuếch trương:
Các ngân hàng thường quan tâm hàng đầu tới các chính sách giao tiếp khuếch
trương. Bởi vì sự giao tiếp của nhân viên với khách hàng tạo ra hình ảnh của ngân
hàng, tạo ra sự tin tưởng của khách hàng đối với ngân hàng. Giao tiếp tốt sẽ bảo vệ
lợi ích của ngân hàng. Bên cạnh đó, quảng cáo cũng là một phương tiện rất quan
trọng để nâng cao vị thế của ngân hàng, thu hút thêm khách hàng cho ngân hàng,
tạo lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng.
Chiến lược kinh doanh của NH, quy mô cơ cấu vốn tự có, cơ sở vật chất kỹ
thuật trang thiết bị của NH là các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp sâu sắc đến mô hình,
cơ cấu tổ chức huy động, uy tín của NH trên thị trường.
Công tác tổ chức cán bộ :
Một ngân hàng có đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, đoàn kết, thân
thiện, năng động thì đó là nền tảng thành công của ngân hàng. Bởi lẽ khách hàng
muốn giao dịch, kinh doanh với một ngân hàng bế thế tiện lợi, các nhân viên dễ
mến,lịch sự và có chuyên môn.
SV:Vũ Thị Nhung MSV:13110559
17
Chuyên đề Tốt Nghiệp Viện:Ngân hàng-Tài Chính
Từ những năm 2000 hàng loạt ngân hàng thương mại cổ phần thành lập chi
nhánh tại Hưng Yên như:Vietinbank,Vietcombank,Sacommbank,ACB, MB,
Techcombank, Navibank, Đông Á Bank….
Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình với đặc thù có trụ sở chính tại
Thành phố Hồ Chí Minh nên đến năm 2009 mới thành lập ngân hàng tại Chi
nhánh Hưng Yên.
- Thành lập ngày 23/04/2009 theo quyết định số 08/2009-QĐ của chủ tịch hội
đồng quản trị Ngân hàng Thương Mại cổ phần An Bình.
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0301412222-017 do phòng đăng ký
kinh doanh và sở kế hoạch đầu tư cấp thay đổi lần thứ nhất ngày 08/09/2011.
Mã số thuế: 0301412222-017
- Địa chỉ: Trung tâm thể thao Gia Phong- Ngã Tư thị trấn Bần-huyện Mỹ
Hào-tỉnh Hưng Yên.
- Với lĩnh vực kinh doanh về tiền tệ, tín dụng, cung cấp các sản phẩm tài chính
như bảo lãnh, tư vấn, cho vay, nhận gửi tiền, và một số dịch vụ đặc thù của ngành
như thực hiện thu hộ tiền điện của EVN, đổ lương qua thẻ cho nhân viên EVN trên
địa bàn Hưng Yên….
Trong hơn 3 năm hoạt động và phát triển, ngân hàng thương mại cổ phần An
Bình chi nhánh Hưng Yên đã đạt được nhiều thành tích đáng kể. Năm 2010 khai
trương phòng giao dịch Phố Hiến tại thành phố Hưng Yên, năm 2011 khai trương
phòng giao dịch Văn Lâm tại địa chỉ Chợ Đường Cái- Văn Lâm- Hưng Yên. Và
mới đây nhất ngày mùng 5 tháng 3 năm 2013 khai trương thêm 1 phòng giao dịch
Khoái Châu tại ngã tư Dân Tiến huyện Khoái Châu. Việc lần lượt thành lập 3 phòng
giao dịch cho thấy ABBANK Hưng Yên không ngừng mở rộng địa bàn hoạt động
kinh doanh, tình hình kinh doanh 3 năm liền đem lại lợi nhuận cao. Việc cạnh tranh
với các ngân hàng lớn trong địa bàn có nhiều lợi thế, dần dần chiếm được 1 thị phần
nhất định trong vùng.
SV:Vũ Thị Nhung MSV:13110559
19
Chuyên đề Tốt Nghiệp Viện:Ngân hàng-Tài Chính
và
ngân
quỹ
Phòng
Quan
hệ
khách
hàng
P. kế
toán
và
ngân
quy
quỹ
Phòng
quản lý
tín
dụng
Phòng
Quan
hệ
khách
hàng
CHI NHÁNH HƯNG YÊN PGD VĂN LÂM PGD PHỐ HIẾN
GIÁM ĐỐC ĐIỀU HÀNH
Phòng hành chính nhân sự
Chuyên đề Tốt Nghiệp Viện:Ngân hàng-Tài Chính
người quản lý luôn là một thể thống nhất, có mối quan hệ chặt chẽ không thể tách
rời và giúp đỡ nhau cùng hoàn thành công việc một cách tốt nhất.
2.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban trong NH TMCP An Bình-CN
Thực hiện cho vay ngắn hạn đối với khách hàng là các thành phần kinh tế,
cho vay trung và dài hạn bằng VND và ngoại tệ đối với các dự án đầu tư, bảo lănh
cho khách hàng theo các quy chế tín dụng, bảo lănh hiện hành, đảm bảo an toàn
hiệu quả vốn ngân hàng.
Thực hiện tư vấn trong hoạt động tín dụng và dịch vụ, uỷ thác đầu tư theo
quy định. - Lập kế hoạch kinh doanh hằng tháng, quý, năm của phòng và thực hiện
các chỉ tiêu kinh doanh hàng quý, năm do giám đốc chi nhánh giao.
Thực hiện báo cáo thống kê tổng hợp định kỳ hoặc đề xuất về hoạt động tín
dụng bảo lãnh hằng tháng, quý, năm theo quy định của Ngân hàng thương mại cổ
phần An Bình và của Giám đốc Chi nhánh. Năm 2010 Chi nhánh Hưng Yên khai
trương Phòng giao dịch tại Thành phố Hưng Yên Năm 2011 Chi nhánh Hưng Yên
khai trương thêm Phòng giao dịch tại huyện Văn Lâm với tên giao dịch là: Ngân
hàng TMCP An Bình phòng giao dịch Văn Lâm.
Các phòng giao dịch trên hoạt động tương đối độc lập so với chi nhánh, song vẫn
có sự hỗ trợ từ chi nhánh. Tại 2 phòng giao dịch chưa có phòng quản lý tín dụng do
đó cán bộ phòng quản lý tín dụng tại chi nhánh luôn hỗ trợ nhiệt tình các nhân viên
phòng quan hệ khách hàng của 2 phòng giao dịch.
+ Phòng hành chính nhân sự:
Chi nhánh Hưng Yên với 2 phòng giao dịch và 1 chi nhánh, tổng nhân sự gồm
54 cán bộ nhân viên, do đó mới chỉ có 01 phòng hành chính nhân sự thực hiện quản
lý toàn bộ những vấn đề về nhân sự của cả chi nhánh và phòng giao dịch.
Với nhiệm vụ quản lý số lượng cán bộ nhân viên, thực hiện hỗ trợ về chế độ
thai sản, bảo hiểm, chế độ nghỉ phép, nghỉ lễ tết.
Thực hiện cung cấp tài liệu về lịch sử thành lập ngân hàng, chế độ lương bổng,
những quy định chung cho tất cả những nhân viên mới. Quản lý giấy tờ, sổ sách liên
quan đến hồ sơ cá nhân của nhân viên.
SV:Vũ Thị Nhung MSV:13110559
22