Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước ở việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 30

Cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt
Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
State enterprises equitization in Vietnam in international economic integration
conditions
NXB H. : ĐHKT, 2012 Số trang 83 tr. + Đặng Thanh Tâm Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế; Mã số: 60.31.07
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Vũ Đức Thanh
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Tổng hợp những vấn đề lý luận về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước. Phân
tích các chế độ, chính sách cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước trong các giai đoạn khác
nhau ở Việt Nam. Đánh giá thực trạng cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam
những năm qua. Tìm kiếm và đề xuất các giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá
các doanh nghiệp Nhà nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới.

Keywords: Doanh nghiệp nhà nước; Cổ phần hóa; Hội nhập kinh tế; Kinh tế quốc tế

Content.

̉
ĐÂ
̀
U
1. Tính cấp thiết của đề tài

ngành có trách nhiệm thực hiện nên chưa mang tính tổng hợp, chủ yếu phân tích về CPH DNNN,
nâng cao sức cạnh tranh nói chung, chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu về CPH các DNNN
ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới, các cam kết về CPH DNNN khi nước ta gia
nhập WTO trùng với đề tài luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục tiêu của luận văn là làm rõ những vấn đề lý luận, từ các số liệu thống kê thực tế đề xuất các
giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới. Để thực hiện mục tiêu này, luận văn sẽ giải quyết những
nhiệm vụ sau: Tổng hợp những vấn đề lý luận, chế độ, chính sách về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà
nước trong các giai đoạn khác nhau ở Việt Nam; đánh giá thực trạng của hoạt động này những năm
qua; tìm kiếm và đề xuất các giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà
nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước ở nước
ta. Về phạm vi thời gian, luận văn nghiên cứu quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước ở Việt
Nam từ năm 1992 cho đến nay và định hướng những năm tới – khi nền kinh tế hội nhập sâu vào nền
kinh tế quốc tế.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Trước hết luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng để phân tích tính tất yếu của việc cổ
phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước.
Bên cạnh đó, phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn giải quy nạp được sử dụng nhằm nêu rõ quá
trình triển khai thực hiện cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước.
Các phương pháp so sánh cũng được sử dụng để làm nổi bật tính đặc thù của cổ phần hoá doanh
nghiệp Nhà nước tại Việt Nam. Đồng thời, phương pháp thống kê được sử dụng như là một công cụ
phân tích số liệu để minh chứng cho các vấn đề nghiên cứu.
6. Những đóng góp mới của luận văn.
Hệ thống hoá cơ sở lý luận về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
Phát hiện những vấn đề vướng mắc, bất cập trong cổ phần hóa mới phát sinh trong điều kiện phát
triển kinh tế hiện nay.
Đề xuất định hướng và các giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà

nền kinh tế.
- Tiến hành CPH DNNN sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các DNNN sau khi CPH có khả năng cạnh tranh với các DN thuộc
các thành phần kinh tế khác. Quá trình CPH tạo cho mọi người lao động được thực sự làm chủ DN
- Cổ phần hoá sẽ góp phần thúc đẩy nhanh quá trình thành lập thị trường chứng khoán. Việc một
thị trường chứng khoán đi vào hoạt động bền vững sẽ là điều kiện tốt để thúc đẩy quá trình CPH, thu
hút được nguồn vốn trong và ngoài nước
1.1.3. Phân biệt cổ phần hóa và tư nhân hóa
Mục tiêu của cổ phần hóa DNNN là góp phần nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của DNNN,
huy động vốn của toàn xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp, đồng thời thông
qua CPH mà phát huy vai trò làm chủ thật sự của người lao động. Trong khi đó, tư nhân hóa mục tiêu
là xóa bỏ hẳn những DNNN mà Nhà nước xét thấy không cần thiết nắm giữ. Về hình thức, CPH đối
với các DNNN được thực hiện tùy thuộc vào hình thức cụ thể mà DN lựa chọn trong những hình
thức mà Nhà nước hướng dẫn rồi đề xuất lên cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt ra quyết
định. Hình thức tư nhân hóa DNNN lại chỉ là bán toàn bộ tài sản thuộc sở hữu Nhà nước ở các
DNNN cho tư nhân và xóa bỏ luôn DNNN này. Về nội dung, tư nhân hoá là chuyển sở hữu tài sản
của Nhà nước vào tay tư nhân hay nói rộng hơn là chuyển các lĩnh vực hoạt động trước đây do Nhà
nước độc quyền sang khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Cổ phần hoá là chuyển sở hữu tài sản và
lĩnh vực trước đây do Nhà nước nắm giữ vào tay các thành phần kinh tế khác nhau, trong đó có cả
thành phần kinh tế Nhà nước. Kết quả cuối cùng của CPH là chuyển từ một doanh nghiệp thuộc sở
hữu Nhà nước, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước thành một Công ty cổ phần hoạt động
theo Luật công ty (nay là Luật Doanh nghiệp).
1.2. Tính tất yếu của việc cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nƣớc trong bối cảnh Việt Nam hội
nhập kinh tế quốc tế
1.2.1. Cổ phần hóa, một yêu cầu bức thiết của các DNNN
Do nhiều năm thực thi một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, tuyệt đối hoá kinh tế Nhà nước,
coi kinh tế Nhà nước đồng nhất với DNNN, nên trong một thời gian dài đã phát triển hệ thống
DNNN với số lượng lớn, đầu tư tràn lan. Trong quá trình hoạt động, DNNN đã bộc lộ những yếu
kém, bất cập, đưa đất nước đến cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội.
Chính vì vậy, việc đổi mới, sắp xếp lại hệ thống DNNN là một đòi hỏi tất yếu. Việc định hướng

thống pháp luật, hệ thống các văn bản pháp quy liên quan đến sự vận hành của DN.
Thay đổi chế độ sở hữu tài sản mà trước đây, Nhà nước luôn giữ vai trò độc quyền, để hình thành
nên kết cấu đa dạng về quyền sở hữu tài sản trong nội bộ DN, tối ưu hóa kết cấu quản trị DN. Đây là
lợi ích căn bản và lâu dài nhất của việc cải cách, CPH các DNNN ở Trung Quốc.
1.4.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Sự thành công của CPH các DNNN ở Trung Quốc hiệu quả hơn so với Việt Nam là vì Trung
Quốc đã đi khá xa chúng ta trên nhiều phương diện quan trọng như tỷ phần kinh tế của khu vực công
trên nền kinh tế quốc gia, số DNNN có qui mô lớn được CPH tại Trung Quốc cũng diễn ra sớm hơn,
bắt đầu từ năm 1998 và điều này mới chỉ xảy ra rất gần đây tại Việt Nam. Ngoài ra, định chế tài
chính quan trọng hỗ trợ cho sự thành công của chương trình CPH ở Trung Quốc là thị trường chứng
khoán ở Trung Quốc cũng phát triển sớm và ổn định hơn ở Việt Nam, hiện chiếm khoảng 40% tổng
sản phẩm quốc gia, trong khi đó thị trường chứng khoán ở Việt Nam vẫn còn mới mẻ, chưa ổn định.

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HÓA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC Ở
VIỆT NAM TỪ NĂM 1992 ĐẾN NAY
2.1. Về cơ chế chính sách Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nƣớc của Việt Nam trong thời
gian qua
2.1.1. Cơ chế chính sách về CPH DNNN khi hội nhập KTQT
Là một bộ phận của chương trình cải cách DNNN, quá trình CPH ở nước ta được bắt đầu với
chương trình thử nghiệm vào năm 1992 bằng QĐ số 202- CT ngày 08/06/1992 và QĐ số 84/Ttg
ngày 04/04/1993. Trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và đặc biệt là khi Việt Nam gia nhập WTO,
nhận thấy cần thiết phải có giải pháp CPH mạnh hơn, ngày 07/05/1996, Chính phủ đã ban hành Nghị
định 28-CP “Chuyển đổi một số doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần”. Tiếp theo đó là
Nghị định số 44/1998/NĐ-CP, số 64/2002/NĐ-CP, số 187/2004/NĐ-CP, số 109/2007/NĐ-CP. Năm
2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2011/NĐ-CP nhằm cung cấp các hướng dẫn đối với
việc chuyển DN 100% vốn Nhà nước thành CTCP. Cùng với đó là việc thành lập và chính thức hoạt
động của Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC).
2.1.2. Các cam kết về cổ phần hóa các Doanh nghiệp Nhà nƣớc ở Việt Nam khi hội nhập
KTQT
Trong quá trình hội nhập KTQT, thế giới đã tập trung nhiều chú ý vào sự tồn tại và hoạt động của

2.2.2. Tổng quan về qui mô vốn
Về qui mô vốn của các DNNN được CPH, nếu như giai đoạn đầu năm 2002 chỉ có 37% DN có
qui mô vốn từ 10 tỉ đồng trở lên thì năm 2003 là 35%, năm 2004 là 41%, năm 2005 là 44%, năm
2006 là 50% trong những DNNN được CPH có vốn điều lệ trên 1000 tỷ đồng thì giai đoạn 10 năm
sau khi chính thức thí điểm chương trình CPH, 1992-2002, chỉ có 2 DNNN được CPH có vốn điều lệ
trên 1000 tỷ đồng (chiếm 12%). Giai đoạn 2006-2010, tuy số lượng các DNNN được CPH giảm
mạnh nhưng qui mô của các DNNN lại lớn hơn thậm chí là rất lớn, cụ thể trong giai đoạn này tập
trung đến 70% các DNNN lớn. Thời gian qua, Nhà nước luôn giữ một tỷ lệ cổ phần cao trong các
DNNN cổ phần hóa và giai đoạn gần đây tỷ lệ này có xu hướng tăng lên và ổn định.
2.2.3. Tổng quan về tình hình sản xuất, kinh doanh
Số doanh nghiệp sau CPH có lãi chiếm từ 84% đến 90%. Số công ty có lãi có xu hướng giảm và
chững lại, trong khi đó số công ty thua lỗ có xu hướng tăng từ 8% những năm đầu lên 15% giai đoạn
sau này.
Xét về các mức độ khác nhau, hầu hết các DNNN sau CPH hoạt động có hiệu quả hơn. Hiệu quả
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sau CPH thể hiện trên tất cả các chỉ tiêu về vốn, giá trị tài
sản, doanh thu, lợi nhuận… Chi phí Nhà nước chi ra để thực hiện cái cách, chuyển đổi DNNN thành
công ty cổ phần thấp hơn nhiều so với lợi nhuận DN thu được sau 2 năm hoạt động theo hình thức cổ
phần.
Một số các chỉ tiêu khác như năng suất lao động tăng 18,3%, cao hơn tốc độ tăng trưởng của
doanh thu. Đầu tư tài sản cố định tăng bình quân 16,4%, đạt tốc độ tăng trưởng tương đương mức
trung bình của toàn bộ khu vực doanh nghiệp tư nhân, nhưng thấp hơn mức tăng trưởng của các
DNNN. Điều này cho thấy nguồn lực tài chính để đầu tư của các DN sau CPH còn hạn chế so với
DNNN. Tuy nhiên, nếu như mức tăng trưởng này xuất phát từ đầu tư mới và lợi nhuận tái đầu tư thì
càng chứng tỏ tính bền vững của tăng trưởng trong các DN sau CPH. Lương bình quân tăng 11,4%,
phù hợp với tốc độ tăng trưởng doanh thu và lao động.
2.3. Đánh giá kết quả của quá trình CPH các DNNN ở Việt Nam khi hội nhập KTQT
2.3.1. Kết quả đạt được
Kết quả đầu tiên và cũng là thành tựu cơ bản nhất của tiến trình CPH các DNNN ở nước ta là việc
cơ cấu lại hệ thống DNNN với kết quả là đã sắp xếp lại, thu gọn số lượng DNNN, qua đó nâng mức
vốn bình quân của một DNNN lên. Sau gần 20 năm triển khai, đến hết năm 2011, cả nước đã CPH

nghệ, trình độ quản lý và thị trường…sẽ góp phần làm đổi mới nhân sự và làm cho Hội đồng quản trị
mạnh lên, bổ sung và nâng cao tiềm lực tài chính cho các doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hóa
nhưng chúng ta chưa có kinh nghiệm tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược. Các văn bản pháp lý điều tiết
việc CPH DNNN đã được thay đổi rất nhiều lần nhưng vẫn bất cập về giá bán và số lượng.
- Các DNNN hầu hết có trang bị máy móc cũ kỹ, công nghệ lạc hậu, biên chế cồng kềnh, khả
năng cạnh tranh thấp
- Nợ của DNNN: Các DNNN sau CPH vẫn còn ôm những món nợ do khi chuyển đổi không xác
định rõ trách nhiệm người phải trả.
- Lao động dôi dư: Lao động dôi dư là lực cản không nhỏ với sự phát triển của DN sau CPH, làm
tăng thêm những khoản chi như đào tạo lại cho người có trình độ thấp mà nếu không có nó, DN có
thể đầu tư mở rộng sản xuất hoặc tăng lương cho những người có chuyên môn cao để từ đó khuyến
khích họ tích cực lao động và cống hiến nhiều hơn cho sự phát triển của DN.
- Về tư tưởng và tâm lý của đại đa số mọi người trong xã hội còn chưa quen với vấn đề mới mẻ
này, thậm chí còn có những phản ứng nhất định ở những người đang sống yên ổn trong khu vực của
Nhà nước.
- Sự chưa ổn định trong chính sách vĩ mô của Nhà nước Nhà nước thiếu một nguồn tài chính cần
thiết để giải quyết hàng loạt các vấn đề liên quan đến chương trình cổ phần hóa.
2.3.3. Nguyên nhân của những thuận lợi và khó khăn trong quá trình CPH DNNN
- Điều kiện về môi trường pháp lý về cơ bản đã được xác lập đặt tất cả các doanh nghiệp hoạt
động theo cơ chế thị trường, hàng loạt các văn bản luật và dưới luật khác nhau nhằm thực hiện một
cách công khai và có kế hoạch chương trình cổ phần hóa.
- Nền kinh tế của nước ta đã có nhiều biến đổi theo hướng tích cực, giá cả thị trường đã được duy
trì tương đối ổn định, mức lạm phát đã được kiềm chế, đồng tiền Việt Nam đã được giữ giá, lãi suất
đã ở mức khuyến khích, thu nhập của người dân được nâng cao.
- Hoạt động trong cơ chế thị trường với thời gian chưa lâu nhưng đã xuất hiện đội ngũ các nhà
quản lý doanh nghiệp có khả năng kinh doanh, người lao động trong các DN đã có ý thức, tác phong
và hiệu quả công việc
- Cùng với Luật Đầu tư nước ngoài là sự xuất hiện của nhiều chi nhánh ngân hàng kinh doanh của
nước ngoài tại Việt Nam đã góp phần tạo môi trường lành mạnh và điều kiện thuận lợi để Nhà nước
tiến hành hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện CPH các DNNN tại Việt Nam.

Tổng công ty Nhà nước), đồng thời phải gắn với tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng
trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-
2020.
Vừa thực hiện tái cấu trúc hệ thống DNNN (trên 5 phương diện chủ yếu: ngành nghề; tài chính;
quản trị DN; quản lý Nhà nước; hệ thống pháp luật) vừa thực hiện tái cấu trúc theo thực thể (tại mỗi
tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nước).
Kiên định về mục tiêu và nguyên tắc, mềm dẻo trong hình thức và phương thức tổ chức thực hiện;
không tuyệt đối hóa, duy ý chí, không sử dụng mệnh lệnh hành chính trong quá trình tái cấu trúc
trong bán, giải thể, sáp nhập, phá sản và thành lập mới DNNN.
3.1.2. Phương hướng tiếp tục CPH DNNN
Đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN, chú trọng vào các tập đoàn kinh tế, TCT Nhà nước theo hướng
giảm số lượng DNNN và giảm vốn Nhà nước tại doanh nghiệp; thu hút các nhà đầu tư chiến lược tư
nhân lớn trong và ngoài nước tham gia đầu tư vào DNNN.
Đổi mới quản trị và cơ chế hoạt động của DNNN theo hướng chuyển sang tổ chức và hoạt động
theo mô hình công ty cổ phần.
Thực hiện công khai, minh bạch hoạt động của DNNN
Để đáp ứng yêu cầu của hội nhập KTQT, Chính phủ đặt ra phương hướng cần thực hiện là hoàn
thành chương trình CPH DNNN năm 2015 – 2020. Thực hiện thoái vốn ở các DN đã CPH mà Nhà
nước, tập đoàn, TCT không cần nắm giữ cổ phần chi phối. Việc thoái vốn phải thực hiện công khai,
minh bạch, theo nguyên tắc thị trường.
3.2. Các giải pháp đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nƣớc trong thời gian tới.
3.2.1. Giải pháp chung
- Nhà nước cần phải thiết lập một kênh thông tin hiệu quả giữa các ngành, địa phương, giữa khối
doanh nghiệp với các nhà hoạch định chính sách.
- Tăng cường tuyên truyền phổ biến các kiến thức cơ bản và lợi ích của việc CPH DNNN trên các
phương tiện thông tin đại chúng để mọi đối tượng trong xã hội hiểu được ý nghĩa, mục đích của
CPH.
- Củng cố, chấn chỉnh lại bộ máy giúp việc cho công tác CPH từ trung ương đến địa phương, chú
trọng đến năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ trong bộ máy.
- Nhà nước cần phải chuẩn bị một nguồn tài chính đủ mạnh để giải quyết hàng loạt các vấn đề

vào chức vụ mới ở CTCP (cổ đông sẽ chịu trách nhiệm cho sự lựa chọn của mình). Khi không còn đủ
năng lực và uy tín (năng lực, trình độ không còn phù hợp với cơ chế mới) thì họ cũng phải được xem
xét như các lao động dôi dư khác.
3.2.2.4. Giải quyết các vấn đề đất đai, công nợ
Để giải quyết khó khăn về vấn đề đất đai, Chính phủ cần yêu cầu các bộ, địa phương, tập đoàn
phải công bố công khai lộ trình và danh sách các DNNN thực hiện CPH hàng năm, làm cơ sở cho các
cơ quan xây dựng lộ trình triển khai phê duyệt phương án sắp xếp nhà đất theo quy định.
Về vấn đề đối chiếu công nợ, Chính phủ vẫn nên yêu cầu DNNN CPH thực hiện đối chiếu toàn
bộ các khoản công nợ phải thu, phải trả đến thời điểm xác định giá trị DN để phản ánh đầy đủ, đúng
toàn bộ giá trị DN.
3.2.2.5. Hoàn thiện, phát triển các yếu tố của kinh tế hội nhập, nhất là thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là một kênh thu hút vốn quan trọng từ xã hội để đầu tư phát triển các DN
Việt Nam nói chung và các DNNN nói riêng hiện đang rất thiếu vốn, đặc biệt là đứng trước nhu cầu
đầu tư để hiện đại hóa công nghệ sản xuất, cần phải và không nên bỏ qua kênh tạo vốn ngày càng có
ý nghĩa quan trọng này.
+ Phải duy trì tốc độ kinh tế cao của cả nước, kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá hối đoái.
+ Tăng số lượng và nâng cao chất lượng hàng hóa cho TTCK để huy động vốn rộng rãi hơn và
bán được giá cao hơn.
+ Xây dựng hệ thống văn bản pháp lý cho thị trường chứng khoán.
+ Coi trọng việc đào tạo cán bộ nhân viên cho TTCK.

KẾT LUẬN
DNNN có vị trí rất quan trọng, là lực lượng chủ yếu trong kinh tế Nhà nước. Trong những năm
qua, kết quả hoạt động của DNNN đã đạt được một số thành tựu quan trọng nhưng chưa tương xứng
với yêu cầu và năng lực sẵn có của DNNN. Khi nền kinh tế chuyển sang thời kỳ hội nhập, DNNN
càng bộc lộ nhiều yếu kém, hiệu quả sản xuất kinh doanh của DNNN không cao và ngày càng bộc lộ
nhiều nhược điểm.
Hiện nay, hội nhập kinh tế là một quá trình đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, nó có ảnh hưởng
tới hầu hết các quốc gia. Chúng ta mở cửa hội nhập nhằm mục đích thu hút các tiềm lực bên ngoài về
vốn đầu tư, về kỹ thuật công nghệ, về kinh nghiệm tổ chức sản xuất để phát triển nền kinh tế đất

DNNN ở Việt Nam, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Trường đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
2. Nguyễn Hoàng Anh (2002), “Một số kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp sau
CPH”, Kinh tế và dự báo, 9, (6), tr. 19-20.
3. Trương Văn Bân (1996), Bàn về cải cách DNNN, Sách dịch, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
4. Ban dự án tư vấn chính sách tài chính (2010), Một bức tranh sáng màu, Chuyên đề nghiên cứu
kinh tế Bộ Tài Chính, tr.1-5.
5. Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp (2010), Báo cáo kết quả sắp xếp, đổi mới, phát triển
DNNN và phương hướng nhiệm vụ 2006-2010.
6. Bộ Tài chính (2006), Báo cáo kết quả sắp xếp đổi mới các DNNN, Hội nghị về sắp xếp đổi mới
DNNN ngày 7/10/2006, Hà Nội.
7. Chính phủ (2006), “Báo cáo kết quả và phương hướng nhiệm vụ, giải pháp cổ phần hóa DNNN 5
năm 2006-2010”, Báo cáo Chính phủ, (133), tr1-3
8. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1992), Quyết định số 202 ngày 8/6/1992 của Chính phủ về
việc thí điểm chuyển DNNN thành công ty cổ phần.
9. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1996), Nghị định số 28/1996/NĐ-CP ngày 7/5/1996 của
Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.
10. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1998), Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 của
Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.
11. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2002), Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 của
Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.
12. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2004), Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004
của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.
13. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2007), Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của
Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.
14. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2011), Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2007 của
Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.
15. Nguyễn Kim Đức (2012), “Tái cấu trúc DNNN dưới góc nhìn của hoạt động thẩm giá trị doanh
nghiệp”, Phát triển và hội nhập, (5), tr. 29-38.
16. Võ Đại Lược và Cốc Nguyên Đường (1997), Cải cách DNNN ở Trung Quốc, so sánh với Việt
Nam, Nxb Khoa học, Hà Nội.

34. Hoàng Đức Tảo (2003), CPH – Kinh nghiệm thế giới, Nxb Thống kê, Hà Nội.
35. Lê Hữu Thành (2004), Sức cạnh tranh của DNNN ở nước ta trong hội nhập kinh tế quốc tế, Luận
văn Thạc sỹ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh.
36. Tổng cục thống kê (2005), Thực trạng doanh nghiệp qua kết quả điều tra năm 2003, 2004, 2005,
Nxb Thống kê, Hà Nội.
36. Tổng cục thống kê (2008), Thực trạng doanh nghiệp qua kết quả điều tra năm 2006, 2007, 2008,
Nxb Thống kê, Hà Nội.
36. Tổng cục thống kê (2011), Thực trạng doanh nghiệp qua kết quả điều tra năm 2009, 2010, 2011,
Nxb Thống kê, Hà Nội.
37. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 174/2002/QĐ-TTg ngày 02/12/2002 về tổ chức và hoạt động
của Quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hoá các DNNN.
38. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định sô 224/2006/QĐ-TTg ngày 6/10/2006 về Quy chế giám sát và
đánh giá hiệu quả hoạt động của DNNN.
39. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 14/2011/QĐ-TTg ngày 4/3/2011 về ban hành tiêu chí, danh
mục phân loại DNNN
40. Tổ chức thương mại thế giới (2007), WT/ACC/10/Rev.3.
41. Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (2008), giải thích các điều kiện gia nhập,
MutrapII (Dự án hỗ trợ thương mại đa biên), Nxb Lao động – xã hội, Hà Nội.
41. Leila Webster và Reza Amin (2003), Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam - Kinh nghiệm
hiện tại, Chuyên đề nghiên cứu kinh tế tư nhân.
Các trang tin điện tử





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status