Hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình của
Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh –
Thực trạng và định hướng phát triển
Dương Thanh Tùng
Trường Đại học KHXH&NV
Luận văn ThS. Chuyên ngành: Báo chí học; Mã số: 60 32 01
Người hướng dẫn: T.S Đặng Thị Thu Hương
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động xã hội hóa nói chung và xã hội
hóa truyền hình nói riêng. Đánh giá thực trạng hoạt động sản xuất chương trình truyền hình có
yếu tố xã hội hóa của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh. Xác định giải pháp và định
hướng phát triển xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình của Đài Truyền hình Thành phố
Hồ Chí Minh.
Keywords: Báo chí học; Sản xuất chương trình; Phương tiện truyền thông; Truyền hình Content:
MỤC LỤC
2.1.2. Các chương trình xã hội hóa đầu tiên của Đài Truyền hình thành
phố Hồ Chí Minh 35
2.1.3. Thành công và bất cập của các chương trình xã hội hóa trong giai
đoạn đầu 39
2.2. Khảo sát các chương trình xã hội hóa hiện nay ở Đài Truyền hình Thành
phố Hồ Chí Minh 40
2.2.1. Số lượng, tỷ lệ các chương trình, tiết mục xã hội hóa và không xã
hội hóa trên kênh HTV9 và kênh HTV7 40
2.2.2. Thời gian phát sóng các chương trình có yếu tố xã hội hóa 43
2.2.3. Nội dung của các chương trình có yếu tố xã hội hóa 48
2.2.4. Tuổi thọ của các chương trình có yếu tố xã hội hóa 54
2.3. Các phương thức liên kết sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa 60
2.4. Qui trình sản xuất và quản lý nội dung các chương trình có yếu tố xã hội
hóa 63
Tiểu kết chương 2 66
Chƣơng 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG
XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƢƠNG TRÌNH TẠI ĐÀI TRUYỀN HÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH. 68
3.1. Thành công và một số bất cập của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương
trình 68
3.1.1. Thành công của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình 68
3.1.2. Một số bất cập của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình 73
3.2. Định hướng phát triển hoạt động xã hội hóa của Đài Truyền hình Thành
phố Hồ Chí Minh 80
3.3. Giải pháp và đề xuất phát triển hoạt động xã hội hóa sản xuất chương
trình tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh 81
3.3.1. Thay đổi nhận thức, thái độ về xã hội hóa, về vai trò của công ty
truyền thông và khán giả truyền hình 82
3.3.2. Nâng cao năng lực lãnh đạo và công tác giáo dục chính trị tư tưởng . 84
3.3.3. Đổi mới bộ máy, phương thức tổ chức, quản lý và sử dụng nguồn
hướng xã hội hóa, liên kết sản xuất kênh, chương trình vẫn đang tiếp
tục phát triển nhanh trên chiều rộng, đa dạng về hình thức trong toàn
hệ thống truyền hình.
Tuy nhiên, song song với những hiệu quả tích cực nêu trên,
quá trình thực hiện chủ trương xã hội hóa, liên kết sản xuất kênh,
chương trình truyền hình đã bắt đầu bộc lộ rõ nét hơn một số vấn đề
bất cập. Những vấn đề nảy sinh cần được quan tâm, nghiên cứu, giải
quyết một cách toàn diện, thấu đáo chính là mối quan hệ giữa tăng
trưởng doanh thu và chức năng, nhiệm vụ chính trị của Đài Truyền
hình; mối quan hệ giữa vai trò, trách nhiệm của Đài Truyền hình và
các công ty truyền thông tư nhân trong quá trình liên kết, hợp tác sản
xuất; mối quan hệ tác động giữa Đài Truyền hình, công ty truyền 2
thông tư nhân và công chúng liên quan đến công tác quản lý và định
hướng nội dung… Đây là những vấn đề khó, liên quan đến lý luận và
thực tiễn, liên quan đến định hướng, mô hình phát triển, phương thức
hoạt động cụ thể được qui định cho từng chủ thể tham gia xã hội hóa.
Ngoài ra, công tác quản lý nói chung cũng như việc ban hành các văn
bản qui phạm pháp luật vẫn chưa theo kịp hoặc chậm so với sự phát
triển nhanh của xu thế xã hội hóa. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến
sự lúng túng trong công tác chỉ đạo, quản lý, khả năng chệch hướng
trong việc xác định nhiệm vụ chính trị và lợi ích kinh tế. Thực tế cho
thấy, hiệu quả kinh tế mang lại chỉ là một khía cạnh của vấn đề và
còn rất nhiều câu hỏi đang đặt ra, cần được nghiên cứu, xem xét như:
Mô hình, phương thức hợp tác nào phù hợp trong giai đoạn phát triển
sắp tới? Những lĩnh vực, chương trình nào của truyền hình có thể
thực hiện xã hội hóa hay không thể thực hiện xã hội hóa? Các công
đoạn nào có thể xã hội hóa trong qui trình hợp tác sản xuất? Làm thế
pháp, khuyến nghị nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện các mô
hình quản lý hoạt động xã hội hóa mang tính khả thi cao không chỉ
đối với Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và các đài
truyền hình ở Việt Nam nói chung.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích chính của luận văn là phân tích, đánh giá thực trạng
hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình trong mối
quan hệ với các công ty truyền thông tại Đài Truyền hình Thành phố
Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện các mô hình liên kết
sản xuất phù hợp với định hướng phát triển báo chí theo quan điểm,
đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước. Trong quá trình nghiên
cứu và thu thập thông tin, luận văn sẽ tập trung phân tích những điểm 4
tích cực và hạn chế trong qui trình ký kết, qui trình sản xuất và triển
khai thực hiện xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình trong
mối quan hệ giữa Đài Truyền hình - đơn vị hợp tác và công chúng;
phân tích và làm rõ thực trạng, yêu cầu và nhu cầu cần thực hiện xã
hội hóa đối với một số lĩnh vực, chương trình cụ thể. Để làm sáng tỏ
hơn luận điểm, luận văn sẽ kết hợp so sánh hiệu quả giữa chương
trình được xã hội hóa và chương trình không có yếu tố xã hội hóa;
phân tích và làm rõ vai trò, trách nhiệm, mối quan hệ tương tác giữa
các chủ thể, khách thể tác động vào quá trình xã hội hóa sản xuất
chương trình; đánh giá hiệu quả của công tác quản lý, định hướng
nội dung, đồng thời đề xuất mô hình, giải pháp thực hiện quá trình xã
hội hóa sản xuất chương trình của Đài Truyền hình Thành phố Hồ
Chí Minh.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn: hệ thống hóa cơ sở lý luận
và thực tiễn về hoạt động xã hội hóa nói chung và xã hội hóa truyền
trình với các đối tác là công ty truyền thông tư nhân. Về phương diện
lý luận, luận văn góp phần bổ sung thêm vào hệ thống lý luận về báo
chí truyền thông nói chung và truyền hình nói riêng trong bối cảnh
hiện nay, và đã cung cấp tư liệu cho một số chuyên đề trong đề tài
cấp Đại học Quốc gia về “Hiệu ứng kinh tế - xã hội của hoạt động xã
hội hóa sản xuất trong lĩnh vực truyền hình và những vấn đề đặt ra về
quản lý Nhà nước đối với hoạt động này”
7. Bố cục của luận văn
Chương 1: Cở sở lý luận và tổng quan thực tiễn hoạt động xã
hội hóa trong lĩnh vực truyền hình
Chương 2: Thực trạng hoạt động xã hội hóa sản xuất chương
trình của Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh 6
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển hoạt động xã
hội hóa sản xuất chương trình truyền hình tại Đài truyền hinh thành
phố Hồ Chí Minh.
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN THỰC
TIỄN HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA TRONG LĨNH VỰC
TRUYỀN HÌNH
1.1. Chủ trƣơng, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà
nƣớc về xã hội hóa trong lĩnh vực báo chí
1.1.1. Chủ trương, chính sách của Đảng về xã hội hóa
Sau hơn 25 năm thực hiện sự nghiệp đổi mới, chủ trương thu
hút sự tham gia của nhiều nguồn lực xã hội thông qua hoạt động xã
hội hóa ngày càng hiệu quả, phù hợp với điều kiện phát triển của cơ
chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Việc tham gia ngày càng
nhiều của các thành phần kinh tế, các nguồn lực xã hội đóng góp vào
vào các hoạt động của lĩnh vực này. Trong thời kỳ đầu, hoạt động xã
hội hóa trong lĩnh vực truyền hình chủ yếu chỉ là xã hội hóa sản xuất
chương trình truyền hình theo hình thức liên kết, hợp tác giữa đài
truyền hình với các đối tác. Trong thời gian gần đây, xã hội hóa ở
lĩnh vực truyền hình không chỉ dừng lại ở hoạt động thu hút nguồn
lực để sản xuất chương trình truyền hình đơn thuần mà còn có các
mô hình hợp tác, liên kết ở lĩnh vực khác như công đoạn truyền dẫn,
phát sóng…
1.3. Tổng quan về thực tiễn hoạt động xã hội hóa trong lĩnh
vực truyền hình tại Việt Nam
Một trong lý do đột phá dẫn đến sự phát triển nhanh của ngành
truyền hình là việc mạnh dạn thực hiện từng bước chủ trương xã hội 8
hóa. Xã hội hóa sản xuất chương trình là cơ sở để nâng cao chất
lượng, đa dạng hóa sản phẩm truyền hình, tăng doanh thu quảng cáo
để phục vụ phát triển sự nghiệp truyền hình. Trước khi Bộ Thông tin
- Truyền thông ban hành Thông tư số 19/2009/TT-BTTTT trở về
trước, hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình đã phát triển
qua nhiều giai đoạn với hình thức, qui mô và tính chất khác nhau.
Một số đài truyền hình vừa “thí điểm” xã hội hóa, vừa điều chỉnh sao
cho không đi chệch chủ trương. Từ năm 2009 đến nay, hoạt động xã
hội hóa nói chung và xã hội hóa sản xuất chương trình nói riêng phát
triển nhanh, song hành với sự phát triển của các công ty truyền
thông.
1.4. Một số yếu tố nền tảng cho hoạt động xã hội hóa sản
xuất chƣơng trình truyền hình tại Đài Truyền hình Thành phố
Hồ Chí Minh
1.4.1. Điều kiện phát triển kinh tế xã hội, dân số, mức tiêu thụ
buộc các đài truyền hình phải tiếp cận tư duy mới về kinh tế truyền
thông trong cơ chế thị trường cũng như sự phát triển nhanh của thị
trường truyền thông. Bên cạnh đó, mức sống và trình độ dân trí tăng,
nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu truyền thông tăng cũng là những điều
kiện thúc đẩy thị trường truyền thông phát triển. Trong xu thế này,
các đài truyền hình buộc phải tự đổi mới, tự nâng cao năng lực sản
xuất, năng lực cạnh tranh mới có thể đáp ứng những đòi hỏi hợp lý
của thị trường quảng cáo và tiêu dùng. Tự đổi mới bằng cách nào?
Làm thế nào có thể tăng nguồn thu? Làm thế nào có thể nâng nâng
chất lượng phục vụ thông qua các sản phẩm truyền hình nhưng vẫn
phải đảm bảo tính định hướng? 10
Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình có thể xem là
một trong những bước đi “tự đổi mới” mình của ngành truyền hình.
Vận dụng xã hội hóa mang lại kết quả khả quan về nhiều mặt, song
cũng không thiếu những khó khăn, thách thức và hạn chế…Xuất phát
từ những yêu cầu nêu trên mà luận văn sẽ tập trung nghiên cứu đối
tượng chính là thành phần kinh tế tư nhân tham gia liên kết, hợp tác
sản xuất chương trình với đài truyền hình. Nếu giải quyết tốt mối
quan hệ giữa đài truyền hình với các đối tác công ty truyền thông tư
nhân thông qua các hình thức xã hội hóa sẽ góp phần nâng cao hiệu
quả hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình, đảm bảo sự phát
triển nhanh, bền vững.
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA
SẢN XUẤT CHƢƠNG TRÌNH CỦA ĐÀI TRUYỀN HÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1. Lƣợc sử Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh và
không tính toán được khả năng và hiệu quả của công việc. Chính vì
vậy, công tác xã hội hóa có qui mô tương đối lớn, huy động nguồn
lực bên ngoài để tham gia tổ chức, điều hành, sản xuất chương trình
được khởi đầu bằng Cuộc đua xe đạp tranh cúp truyền hình”. Một
hoạt động xã hội hóa tiếp theo mà Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí
Minh triển khai thực hiện khá bài bản, đúng nghĩa xã hội hóa sản
xuất chương trình, đó là chương trình giải trí Rồng vàng (phiên bản
“Ai là triệu phú” của Anh) và chương trình Chung sức. Đây là hai
chương trình truyền hình liên kết sản xuất với các công ty truyền
thông tư nhân. 12
2.1.3. Thành công và bất cập của các chương trình xã hội hóa
trong giai đoạn đầu
Từ trông chờ vào nguồn ngân sách, thụ động trong tổ chức sản
xuất, không có nguồn vốn để đầu tư cơ sở vật chất, nâng cấp thiết bị
kỹ thuật, nhưng chỉ sau vài năm tiến hành xã hội hóa với các hình
thức đa dạng, với nhiều chương trình phát sóng thu hút khán giả, Đài
có điều kiện tăng nguồn thu hàng năm, tích lũy để phát triển sự
nghiệp, đồng thời nâng cao tính chuyên nghiệp của đội ngũ. Bên
cạnh những mặt tích cực, hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình
trong điều kiện thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng, thiếu các qui định cụ thể
càng làm cho hoạt động xã hội hóa có xu hướng phát triển thiếu định
hướng.
2.2. Khảo sát các chƣơng trình xã hội hóa hiện nay ở Đài
Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1. Số lượng, tỷ lệ các chương trình, tiết mục xã hội hóa và
không xã hội hóa trên kênh HTV9 và kênh HTV7
Hiện nay, mỗi đài truyền hình đều có chủ trương, định hướng
sản xuất phim truyền hình tuy mang đến lợi ích cho nhiều phía
nhưng cũng có không ít những hạn chế. Hạn chế lớn nhất chính là
chất lượng phim.
2.3. Các phƣơng thức liên kết sản xuất chƣơng trình
truyền hình xã hội hóa
Hình thức liên kết sản xuất chương trình giữa Đài Truyền hình
thành phố Hồ Chí Minh và các đối tác là các công ty truyền thông có
sự thay đổi, điều chỉnh trong từng thời kỳ. Các hình thức liên kết, xã
hội hóa sản xuất chương trình nói chung và các phương thức liên kết
cụ thể, đặc biệt ở góc độ tài chính cho thấy phương thức liên kết liên 14
quan đến tài chính mang yếu tố quyết định việc sẽ sản xuất hay
không sản xuất chương trình hoặc có sự tác động nhất định đến chất
lượng của quá trình sản xuất cũng như chất lượng của sản phẩm cuối
cùng; Bên cạnh đó, phương thức mua bản quyền chương trình phát
sóng và thu theo cam kết quảng cáo đang là xu hướng chủ đạo trong
hình thức, phương thức liên kết, xã hội hóa sản xuất chương trình.
2.4. Qui trình sản xuất và quản lý nội dung các chƣơng
trình có yếu tố xã hội hóa
Hiện nay có nhiều chương trình xã hội hóa có qui trình sản
xuất và cách thức quản lý nội dung khác nhau do tính chất đặc thù
của từng thể loại chương trình hoặc theo hình thức phân công quản lý
riêng của từng đơn vị chuyên môn. Tuy nhiên, dù ở hình thức,
phương thức liên kết với đối tác nào thì nguyên tắc chung nhất vẫn là
Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm biên tập,
thẩm định kịch bản, nội dung và duyệt sản phẩm cuối cùng trước khi
phát sóng.
Đứng trước xu hướng phát triển chung, đặc biệt là xu hướng
ty truyền thông và thị trường để từ đó xác định hướng đi cho hoạt
động xã hội hóa.
Chƣơng 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƢƠNG TRÌNH
TẠI ĐÀI TRUYỀN HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
3.1. Thành công và một số bất cập của hoạt động xã hội
hóa sản xuất chƣơng trình
Xã hội hóa nói chung là điều kiện cần, song xã hội hóa trong
lĩnh vực truyền hình không thể tách rời những tác động khách quan 16
trong mối quan hệ tổng thể với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, nhiều
thành phần kinh tế - xã hội khác. Có lẽ vì vậy mà hoạt động xã hội
hóa luôn tiềm ẩn nhiều yếu tố khó có thể nhận biết một cách sâu sắc
trong một khoảng thời gian ngắn. Chính yếu tố chủ quan trong quản
lý, điều hành, định hướng cùng những tác động khách quan ở từng
giai đoạn đã và đang làm nảy sinh không ít mâu thuẫn, bất cập ngay
trong nội hàm của hoạt động xã hội hóa. Những thành công hay bất
cập của kinh tế thị trường, của xã hội hóa luôn song hành và đó cũng
là lý do để giải thích vì sao các nhà quản lý cần sớm điều chỉnh, định
hướng hoạt động xã hội hóa.
3.1.1. Thành công của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương
trình
Đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước đã làm thay đổi
nhận thức, tư duy, cách tiếp cận của đội ngũ quản lý trong lĩnh vực
truyền hình. Từ tư duy bao cấp chuyển sang tư duy thị trường đòi hỏi
sự chủ động, năng động và đặc biệt không chấp nhận tư tưởng ỷ lại,
chỉ trông chờ vào nguồn ngân sách để phát triển sự nghiệp. Từ mô
truyền thông…
3.2. Định hƣớng phát triển hoạt động xã hội hóa của Đài
Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
Từ kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, định hướng hoạt động xã
hội hóa trong lĩnh vực truyền hình từ nay đến năm 2020 nhất thiết
cần phải tiếp tục bám sát các phương hướng, luận điểm quan trọng
trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, Chiến lược phát triển kinh
tế xã hội 2011 - 2020, Chương trình động của Thành ủy Thành phố
Hồ Chí Minh thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp 18
hành Trung ương khóa X về “Công tác tư tưởng, lý luận và báo chí
trước yêu cầu mới”, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí
Minh nhiệm kỳ 2011-2015 và đề án “Qui hoạch báo chí trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh tầm nhìn 2020”. Hoạt động xã hội hóa
truyền hình trong giai đoạn sắp tới chính là giải quyết bài toán lợi ích
kinh tế, phát triển kinh tế truyền hình song song với nhiệm vụ chính
trị và các chức năng, nhiệm vụ quan trọng khác của cơ quan báo chí
truyền thông.
3.3. Giải pháp và đề xuất phát triển hoạt động xã hội hóa
sản xuất chƣơng trình tại Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí
Minh
Để hoạt động xã hội hóa phát triển đúng định hướng, các chủ
trương, chính sách của Đảng, Nhà nước phải từng bước được cụ thể
hóa thông qua việc nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Luật Báo chí và các
văn bản hướng dẫn dưới luật, trong đó cần chú trọng giải quyết mối
quan hệ giữa chức năng nội dung và phát triển kinh tế, dịch vụ truyền
hình của một cơ quan báo chí. Các giải pháp phát triển chung, trong
đó có giải pháp phát triển hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình
môn nghiệp vụ để có khả năng chọn lọc, tiếp nhận hợp lý các xu thế
mới, ý tưởng mới của hoạt động truyền hình, tránh chủ quan, phiến
diện trong công tác quản lý, điều hành; nâng cao “nội lực” của đội
ngũ sẽ giúp cho hệ thống biên tập, thẩm định, kiểm duyệt nội dung
tránh sai sót, đảm bảo định hướng.
3.3.3. Đổi mới bộ máy, phương thức tổ chức, quản lý và sử
dụng nguồn nhân lực
Từ phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động xã hội hóa, nội
dung luận văn đề cập sâu đến giải pháp nâng cao năng lực tổ chức, 20
quản lý sát với thực tiễn hoạt động của Đài Truyền hình thành phố
Hồ Chí Minh. Mô hình tổ chức, quản lý và qui trình liên kết sản xuất
cần được điều chỉnh, bổ sung, đổi mới phương thức hoạt động theo
hướng chuyên môn hóa cao. Một số giải pháp cụ thể như: thành lập
bộ phận chuyên môn ở một số lĩnh vực có liên quan đến hoạt động
xã hội hóa; khảo sát, đánh giá năng lực thực tế của đội ngũ chuyên
môn, năng lực sản xuất, hậu kỳ, năng lực tài chính…của các công ty
truyền thông trước khi tiến hành hợp tác sản xuất…Đồng thời cần
đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng nhận thức chính trị, nhận thức
về trách nhiệm xã hội, nghề nghiệp cho đội ngũ sản xuất của các
công ty truyền thông tư nhân. Yêu cầu này hoàn toàn cần thiết một
khi các công ty truyền thông đã trở thành những đối tác bình đẳng,
cùng đồng hành và tham gia sâu vào quá trình sản xuất nội dung
chương trình. Để hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình đạt
hiệu quả, cần sớm hoàn thiện các qui chế, qui trình hợp tác, thẩm
định, kiểm duyệt, qui trình sản xuất ở từng thể loại chương trình cụ
thể theo hướng đảm bảo yêu cầu xuyên suốt về tính chủ động về mọi
mặt của Đài trong quá trình hợp tác sản xuất chương trình.
giữ vững định hướng nội dung.