PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài.
Ngày nay, với sự phát triển của đời sống kinh tế - xã hội, sự gia tăng dân
số cộng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đã tạo rất nhiều áp
lực lên việc sử dụng đất đai, khiến cho quỹ đất nông nghiệp ngày càng bị thu
hẹp làm ảnh hưởng đến sản lượng lương thực, thực phẩm của cả nước, đồng
thời cũng làm thay đổi cơ cấu kinh tế, đời sống của nhân dân cả nước.
Mỗi vùng sản xuất nông nghiệp khác nhau thì có một phương thức canh
tác khác nhau. Sự khác nhau này phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên của vùng,
lãnh thổ đó. Điều kiện tự nhiên thuận lợi thì hiệu quả của việc sử dụng đất
đem lại cao, ngược lại điều kiện tự nhiên bất lợi không những ảnh hưởng lớn
đến việc bố trí các loại cây trồng vật nuôi mà còn ảnh hưởng đến đời sống
sinh hoạt của người dân.
Là xã miền núi của huyện Bố Trạch, nằm cách trung tâm huyện 25 km
Sơn Trạch có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển hoàn thiện cả về công –
nông nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất chính
của vùng với hơn 75% dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Là một
xã thuần nông nên sản xuất nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn do hạn chế
trong quá trình phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở chế biến và tiêu thụ, phương
thức canh tác chưa được chuyên môn hoá, trình độ thâm canh sản xuất chủ
yếu dựa vào kinh nghiệm, tài nguyên đất đai và nhân lực chưa được khai thác
đầy đủ. Trong những năm gần đây, quá trình chuyển dịch kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa – hiện đại hóa làm giảm quỹ đất nông nghiệp của xã. Bên
cạnh đó, nhu cầu lương thực, thực phẩm lại tăng nhanh do sự gia tăng dân số
tạo ra sức ép đối với đất canh tác.
Xuất phát từ thực tế đó, được sự đồng ý của khoa Tài nguyên đất và Môi
trường nông nghiệp và sự hướng dẫn của của cô giáo TS Trần Thị Thu Hà,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản
xuất nông nghiệp xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình" nhằm
xác định các loại hình sử dụng đất phù hợp và đề xuất một số giải pháp nhằm
2.1.2. Đặc điểm của đất đai
2.1.2.1. Các đặc điểm tự nhiên của đất đai
Xét về mặt tự nhiên, trong đất luôn có các đặc điểm tự nhiên được hình
thành nhờ vào các tính chất lý học, hóa học của đất đai.
* Tính chất vật lý của đất đai
Tính vật lý của đất đai thể hiện qua các yếu tố như tỷ trọng, dung trọng,
độ xốp, tính trương co, tính dẻo, độ chặt của đất. Các yếu tố này sẽ ảnh hưởng
đến các đặc tính của đất đai, đặc biệt là đặc tính thành phần cơ giới, ảnh
hưởng trực tiếp đến phương thức canh tác và các loại hình sử dụng đất được
lựa chọn.
* Tính chất hóa học của đất
Trong đất đai có nhiều tính chất hóa học đăc trưng, bởi vì bản thân
trong đất đai có nhiều nguyên tố hóa học và sự phản ứng giữa các nguyên tố
hóa học này sẽ tạo nên các tính chất hóa học. Các yếu tố thể hiện các tính chất
hóa học có trong đất như độ chua, các nhóm mùn, keo đất, tính đệm, dung
3
dịch đất...các yếu tố này ảnh hưởng đến chất lượng đất rất lớn, quyết định đến
loại hình sử dụng đất.[11]
2.1.2.2. Các đặc điểm về kinh tế - xã hội của đất đai
Xét về mặt kinh tế xã hội, đất đai là một tư liệu sản xuất đặc biệt, là
điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của
con người, đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là phương tiện lao động.
Đất đai là một vật thể tự nhiên mang tính lịch sử. Đất đai là một sản
phẩm của tự nhiên, suốt hiện và tồn tại ngoài ý chí và sự nhận thức của con
người. Qua quá trình lao động, con người tác động vào đất đai để thu lại sản
phẩm, chính trong quá trình này, con người đã chuyển tải vào đất đai giá trị
sức lao động của mình và làm cho đất đai tham gia vào các mối quan hệ xã
hội. Do đó, từ vật thể tự nhiên, đất đai đã mang tính lịch sử.
Tính chất quan trọng nhất của đất đai làm cho nó trở thành một tư liệu
sản xuất đặc biệt, đó chính là độ phì của đất. Độ phì là khả năng của đất cung
muốn chủ quan nhưng sức sản xuất của đất là chưa có giới hạn, nghĩa là con
người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thoả mãn nhu cầu tăng
lên của loài người về các nông sản phẩm.
Đối tượng sản xuất của nông nghiệp là cơ thể sống. Các loại cây trồng,
vật nuôi phát triển theo quy luật sinh học. Cây trồng và vật nuôi với tư cách là
tư liệu sản xuất đặc biệt được sản xuất trong bản thân nông nghiệp bằng cách
sử dụng trực tiếp sản phẩm thu được ở chu kỳ trước làm tư liệu sản xuất cho
kỳ sau.
Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao. Đó là nét đặc thù điển
hình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì một mặt quá trình sản xuất nông
nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế xoắn xuýt với quá trình tái sản xuất tự
nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ nhau, song lại không
hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp.[11]
2.2.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
Việc sử dụng đất luôn chịu ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên, kinh tế
- xã hội và nhân tố không gian. Có thể thấy rõ sự tác động của các nhân tố này
tới quá trình sử dụng đất như sau:
2.2.2.1. Điều kiện tự nhiên.
Việc sử dụng đất luôn chịu sự ảnh hưởng của nhân tố tự nhiên. Do vậy
khi sử dụng đất đai ngoài bề mặt không gian cần chú ý đến việc thích ứng với
điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố
bao quanh mặt đất như nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, không khí và các
5
khoáng sản trong lòng đất…Trong điều kiện tự nhiên, khí hậu là nhân tố hạn
chế hàng đầu của việc sử dụng đất đai, sau đó là điều kiện đất đai (chủ yếu là
địa hình, thổ nhưỡng) và các nhân tố khác. [9]
2.2.2.1.1. Điều kiện khí hậu và thời tiết.
Khí hậu và nguồn nước có ảnh hưởng mạnh mẽ, trực tiếp đến sản xuất
nông nghiệp. Đặc biệt, ảnh hưởng lớn tới việc xác định cơ cấu cây trồng, thời
vụ, khả năng xen canh, tăng vụ và hiệu quả sản xuất nông nghiệp ở từng địa
Nhưng với điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, dẫn đến tình trạng có vùng
đất đai được khai thác sử dụng triệt để từ lâu đời và đã đem lại những hiệu
quả kinh tế - xã hội rất cao nhưng có nơi đất đai bị bỏ hoang hoá hoặc khai
thác với hiệu quả kinh tế thấp. [10]
2.2.2.3. Nhân tố không gian.
Trong thực tế, mọi ngành sản xuất vật chất hay phi vật chất đều cần đến
đất đai như điều kiện không gian để hoạt động. Đặc tính cung cấp không gian
của đất đai là yếu tố vĩnh hằng của tự nhiên ban phát cho loài người. Vì vậy,
không gian trở thành một trong những nhân tố hạn chế cơ bản nhất của việc
sử dụng đất.
Vị trí và không gian của đất không tăng thêm cũng không mất đi trong
quá trình sử dụng do vậy tác dụng hạn chế của đất sẽ thường xuyên xảy ra khi
dân số và xã hội luôn phát triển. Sự bất biến của tổng diện tích đất đai không
chỉ hạn chế khả năng mở rộng không gian sử dụng mà còn chi phối giới hạn
thay đổi của cơ cấu đất đai.
Tài nguyên đất đai có hạn lại giới hạn về không gian vì vậy cần phải
thực hiện nghiêm ngặt nguyên tắc sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm có hiệu quả
kết hợp với việc bảo vệ đất và bảo vệ môi trường. [10]
2.2.3. Vai trò của sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
+ Cung cấp lương thực thực phẩm cho toàn xã hội.
Thực tế cho thấy rằng xã hội càng phát triển thì yêu cầu về dinh dưỡng
do lương thực và thực phẩm ( đặc biệt là thực phẩm ) ngày càng tăng nhanh.
Một đặc điểm quan trọng của hàng hóa lương thực, thực phẩm là không thể
thay thế bằng bất kỳ một loại hàng hóa nào khác. Những hàng hóa này dù cho
trình độ khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào
có thể thay thế được. Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên có tính chất
quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước. Những hàng hóa có chứa chất dinh dưỡng nuôi sống con người
này chỉ có thể có được thông qua hoạt động sống của cây trồng và vật nuôi
hay nói cách khác là thông qua quá trình sản xuất nông nghiệp.
phương pháp, trong đó nông nghiệp giữ một vị trí cực kỳ quan trọng trong
việc thiết lập lại cân bằng sinh thái động thực vật. Vì thế phát triển công
nghiệp phải trên cơ sở phát triển nông nghiệp bền vững. [1]
2.3. Hiệu quả sử dụng đất và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất
8
Khái niệm về hiệu quả được sử dụng trong đời sống xã hội, nói đến
hiệu quả người ta sẽ hiểu là công việc đạt kết quả tốt. Như vậy hiệu quả là kết
quả mong muốn, cái mà con người mong đợi và hướng tới khi thực hiện một
công việc. Nó có nội dung khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau. Trong
sản xuất hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất. Trong quy doanh
hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận, trong lao động hiệu quả là năng suất lao
động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn
vị sản phẩm hoặc là bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một
đơn vị thời gian. Trong xã hội, hiệu quả xã hội là có tác dụng tích cực đối
với một lĩnh vực xã hội nào đó. [2]
2.3.1. Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế (HQKT) là một phạm trù phản ánh chất lượng của các
hoạt động kinh tế. Theo ngành thống kê định nghĩa thì HQKT là một phạm
trù kinh tế, biểu hiện của sự tập trung phát triển theo chiều sâu, phản ánh trình
độ khai thác các nguồn lực và sự chi phí các nguồn lực trong quá trình sản
xuất. Nâng cao HQKT là một tất yếu của mọi nền sản xuất xã hội, yêu cầu
của công tác quản lý kinh tế buộc phải nâng cao chất lượng các hoạt động
kinh tế làm xuất hiện phạm trù HQKT. Nền kinh tế của mỗi quốc gia đều phát
triển theo hai chiều: chiều rộng và chiều sâu, phát triển theo chiều rộng là huy
động mọi nguồn lực vào sản xuất, tăng đầu tư chi phí vật chất, lao động, kỹ
thuật, mở mang thêm nhiều ngành nghề, xây dựng thêm nhiều nhà máy, xí
nghiệp… Phát triển theo chiều sâu là đẩy mạnh việc áp dụng các tiến bộ khoa
học kỹ thuật và công nghệ sản xuất, tiến hành hiện đại hóa, tăng cường
chuyên môn hóa và hợp tác hóa, nâng cao trình độ sử dụng các nguồn lực,
chú trọng chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Phát triển theo chiều sâu là nhằm
mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra.
Hiệu quả về mặt xã hội trong sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu
được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất
nông nghiệp.
Từ những quan điểm trên của các tác giả cho thấy hiệu quả kinh tế và
hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau
và là một phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất
với các lợi ích xã hội mà nó mang lại. Trong giai đoạn hiện nay, việc đánh giá
10
hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là nội dung được
các nhà khoa học quan tâm.[2][3]
2.3.3. Hiệu quả môi trường
Hiệu quả về môi trường là xem xét sự phản ứng của môi trường đối với
hoạt động sản xuất. Tất cả các hoạt động sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông
nghiệp đều ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường. Đó có thể là ảnh hưởng
tích cực đồng thời có thể là ảnh hưởng tiêu cực. Thông thường, hiệu qủa kinh
tế thường mâu thuẫn với hiệu quả môi trường. Chính vì vậy khi xem xét hiệu
quả môi trường cần phải đảm bảo tính cân bằng với phát triển kinh tế, nếu
không thường sẽ lệch và có những kết luận không tích cực.[2]
11
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Toàn bộ qũy đất sản xuất nông nghiệp của xã Sơn Trạch, huyện Bố
Trạch, tỉnh Quảng Bình.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Xã Sơn Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
+ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất chỉ đi sâu đánh giá hiệu quả kinh tế. Còn
hiệu quả về mặt xã hội và môi trường chủ yếu dựa vào các tiêu chí định tính
để đánh giá. Hiệu quả kinh tế chỉ tính cho một số loại cây trồng chính/ha.
- Chi phí trung gian (IC): là khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền
mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong
quá trình sản xuất.
- Giá trị gia tăng (VA): là hiệu số giữa giá trị sản xuất (GO) và chi phí
trung gian (IC), là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản
xuất đó: VA=GO - IC
- Hiệu quả kinh tế trên một đồng chi phí trung gian (IC):GO/IC; VA/IC.
- Hiệu quả kinh tế trên một ngày công lao động (LĐ) quy đổi: GO/ LĐ;
VA/LĐ.
Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng (giá trị) bằng tiền theo
thời giá hiện hành và định tính (phân cấp) được tính bằng mức độ cao, thấp.
Các chỉ tiêu đạt mức càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn. [2][3]
+ Chỉ tiêu hiệu quả về mặt xã hội, bao gồm các chỉ tiêu:
- Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người.
- Thu hút lao động, giải quyết công ăn việc làm.
- Thu nhập bình quân trên đầu người ở vùng nông thôn.
- Đảm bảo an toàn lương thực và gia tăng lợi ích của nông dân.
- Trình độ dân trí, trình độ hiểu biết xã hội. [2][3]
+ Chỉ tiêu hiệu quả về môi trường, bao gồm các chỉ tiêu:
Diện tích trồng cây lâu năm
+ diện tích đất lâm nghiệp có rừng
- Độ che phủ (%) =
Diện tích đất tự nhiên
Tổng diện tích gieo trồng hàng năm
- Hệ số sử dụng đất (lần) =
Tổng diện tích trồng cây hàng năm
13
- Đánh giá hệ thống sản xuất cây trồng.
- Sự thích hợp với môi trường đất khi thay đổi loại hình sử dụng đất.
mùa khô nóng diễn ra từ tháng 3 đến tháng 8 và trùng với gió mùa Đông-
Nam. Số giờ nắng bình quân hang ngày là 6,4 giờ, ngày nắng nhiều nhất đạt
9,9 giờ. Nắng gay gắt nhất diễn ra từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm, có những
năm nắng nóng kéo dài từ 4 đến 5 tháng liền. Mùa nay ít mưa, nhưng tháng 5,
tháng 6 thỉnh thoảng có những trận mưa giông. Nhiệt độ bắt đầu lên cao từ
tháng 3 và lên cao nhất từ tháng 6, tháng 7. Từ nửa tháng 7 trở đi, gió thổi
nóng, khô và rất dữ dội. Người ta gọi là gió Lào. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9
năm trước đến tháng giêng hoặc tháng 2 năm sau và kéo theo gió mùa Đông-
Bắc. Loại gió này có khi rất mạnh và mang theo không khí lạnh, mưa dầm
nhất là từ tháng chạp trở đi. Mưa nhiều nhất vào tháng 9, 10, 11. Trong 3
tháng này lượng mưa nhiều gần gấp đôi lượng mưa của những tháng còn lại
trong năm.
+ Nhiệt độ bình quân hàng năm biến động từ 23 đến 25
0
C. Nhiệt độ cao
nhất tuyệt đối là 41,6
0
C (tháng 5/1992). Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là 5,5
0
C
( tháng 11/1993 ). Sự dao động nhiệt giữa ngày và đêm rất lớn, biên độ nhiệt
trong ngày cũng rất lớn.
+ Lượng mưa lớn, bình quân từ 2000 đến 2500 mm/năm.
+ Độ ẩm không khí ở mức trung bình ( 83 – 84%). Mùa khô có độ ẩm
thấp hơn nhiều, chỉ còn ở mức 66 – 68%, cá biệt có ngày xuống tới 28%. Đây
là những ngày gió lào thổi mạnh, thời tiết rất khô, nóng, đe dọa cháy rừng và
hỏa hoạn. Có 2 mùa gió chính là mùa đông và mùa hè từ tháng 11 đến tháng 1
năm sau và từ tháng 5 đến tháng 8.
16
Nhìn chung, điều kiện tự nhiên ở khu vực này hết sức khắc nghiệt đã có
dân trong xã.
17
4.1.1.6. Tài nguyên cảnh quan và môi trường
Trên địa bàn xã có dòng sông Son. Về phía Tây Nam theo tuyến đường
20 lịch sử đến cửa khẩu Cà Ròong – Nọong Ma; tiếp giáp với nước bạn Lào là
vùng đổi của vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng được UNESCO công nhận
là di sản thiên nhiên thế giới.
Ngoài di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha – Kẻ Bàng, xã Sơn Trạch
còn là nơi quần tụ của các di tích lịch sử như: Phà Xuân Sơn, Km 0 đường 20
Quyết thắng, đường Nguyễn Văn Trỗi, phà Nguyễn Văn Trỗi.
Mặc dù vậy, nhưng trên địa bàn xã chưa có hệ thống cấp và thoát
nước nên về mùa mưa, lũ nước sông Son dâng ngập sâu từ 1m đến 2m
đối với toàn bộ các khu đân cư của xã sẽ gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng nếu không làm tốt công tác bảo vệ môi trường trước và sau
mưa, lũ. [6] [7]
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1. Dân số và lao động
Bảng 1 : Tình hình dân số và lao động của xã Sơn Trạch và toàn huyện
năm 2009
STT Chỉ tiêu Đơn vị
Số lượng
Xã Sơn Trạch Toàn huyện
1
Tổng số nhân khẩu Người 10.128 176.161
Trong đó: Số nam Người 4.981 86.693
Số nữ Người 5.147 89.468
2 Mật độ dân số Người/km
2
99,5 83,2
3 Tỷ lệ tăng dân số % 1,150 0,948
Tỷ lệ hộ nghèo
7,00
29,68
17,00
30,00
41,00
23,00
19,35
(Nguồn: [4][7])
4.1.2.3. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
- Hệ thống giao thông:
+ Giao thông đường bộ: Hiện đã có hai tuyến đường Hồ Chí
Minh đi qua (nhánh Tây 12km; nhánh Đông 7 km); Tuyến tỉnh lộ 20 đi nước
bạn Lào và đường quốc lộ 15 A nối đường khu quy hoạch với đường Hồ Chí
Minh và thị trấn Hoàn Lão.
Các tuyến giao thông đối nội trong khu vực có tổng chiều dài 64,4 km.
+ Giao thông đường thủy: Ngoài giao thông đường bộ thì giao
thông đường thủy rất quan trọng cho việc đi lại của nhân dân và khách du
lịch. Sông Son với chiều dài khoảng 15 km chạy trong địa phận của xã.
- Hệ thống cấp thoát nước: Dân cư trong khu vực chủ yếu dùng nước
giếng đào, giếng khoan và nước sông để sinh hoạt. Hiện nay sở Thương mại
và du lịch tỉnh Quảng Bình đang triển khai hệ thống cấp nước cho khu trung
tâm Phong Nha với dung tích đài nước 60 m
3
, bể nước 150 m
3
, đường ống dẫn
chính có đường kính Φ 150.
19
Hiện nay nguồn xả của các tuyến ống thoát nước, thoát nước mưa là
trong đó lúa là cây trồng chiếm diện tích lớn nhất với 449 ha, sau đó lần lượt
đến cây ngô, lạc và sắn,… Những năm gân đây nhờ chuyển đổi cơ cấu mùa
vụ, từng bước áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã là cho năng suất và
sản lượng cây trồng tăng lên, đảm bảo an toàn lương thực, thực phẩm và từng
bước nâng cao, cải thiện đời sống nhân dân
- Ngành Chăn nuôi: Chăn nuôi tiếp tục phát triển. Nhiều hộ nông dân
đã đầu tư đúng hướng và phát triển theo mô hình kinh tế trang trại. Công tác
phòng, chống dịch bệnh được tăng cường nên đàn gia súc, gia cầm có xu
hướng tăng đàn:
Đàn trâu: 870con, tăng 1,2% so với cùng kỳ; đàn bò: 2.225con, tăng
2% so với cùng kỳ; đàn lợn: 5.596con, tăng 3% so với cùng kỳ; đàn gia cầm:
15.315 con, tăng 5% so với cùng kỳ; đàn dê: 455 con.
20
- Ngành Lâm nghiệp:
Giá trị ngành Lâm nghiệp chiếm 6% giá trị tăng thêm ngành Nông-
Lâm-Thủy sản.
Công tác quản lý, bảo vệ vốn rừng được các cấp, các ngành, các chủ
rừng quan tâm. Công tác phòng chống cháy rừng được triển khai đến tận thôn
xóm, đã chú trọng đến tuyên truyền, giáo dục ý thức về phòng chống
cháy rừng.
- Ngành Thủy sản:
Giá trị ngành Thủy sản chiếm 29% giá trị tăng thêm ngành Nông-Lâm-
Thủy sản.
Sản lượng thuỷ sản đạt 252 tấn, bằng 118,6% kế hoạch, tăng 10,1%
so cùng kỳ, trong đó sản lượng nuôi trồng 176,4 tấn. Chương trình sản xuất
thuỷ sản được các cấp, các ngành tập trung chỉ đạo thực hiện và đã đạt
được những kết quả tích cực, đánh bắt và nuôi trồng có sự tăng trưởng,
phát triển khá. Cơ bản đáp ứng được thị hiếu của khách du lịch về đặc sản
cá trên sông Son.
Bảng 4. Các lớp tập huấn được tổ chức trên địa bàn xã Sơn Trạch
việc lưu thông, trao đổi hàng hoá nông sản, vật tư phục vụ sản xuất nông
nghiệp trong vùng và với vùng khác.
+ Điều kiện khí hậu với chế độ nhiệt và số giờ nắng cao khá phù hợp cho
sinh trưởng và phát triển của nhiều loại cây trồng nhiệt đới.
+ Tài nguyên nước khá dồi dào đáp ứng nhu cầu tưới cho phần lớn diện
tích đất canh tác của xã.
+ Diện tích rừng và hệ thống cây trồng nông nghiệp khá phát triển đã
làm cho cảnh quan môi trường của xã khá trong lành và ít bị ô nhiễm.
- Về điều kiện kinh tế - xã hội
+ Cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch theo hướng tăng dần phát triển ngành
nghề, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ.
+ Là một xã sản xuất nông nghiệp nhưng thương mại dịch vụ và tiểu thủ
công nghiệp khá phát triển góp phần đáng kể trong việc giải quyết việc làm và
nâng cao thu nhập cho người dân.
+ Các hoạt động thương mại, dịch vụ về vật tư nông nghiệp, chợ nông
thôn phát triển mạnh tạo điều kiện cho người dân mua bán thuận lợi.
+ Hệ thống giao thông khá phát triển là điều kiện thuận lợi cho việc giao
lưu trao đổi vật tư, sản phẩm nông nghiệp và tiếp cận thị trường (đường thủy,
đường bộ).
22
*. Khó khăn
- Về điều kiện tự nhiên:
+ Phần lớn diện tích đất trồng cây hàng năm của xã có độ phì khá thấp.
+ Xã có những vùng có địa hình thấp trũng nên thường gây ngập úng
trong mùa mưa, ảnh hưởng đến việc canh tác mùa vụ.
+ Xã chịu ảnh hưởng chung của khí hậu thời tiết của khu vực miền
Trung, hàng năm trên địa bàn xã thường xảy ra lụt bão, hiện tượng xói mòn ở
ven sông Son, ảnh hưởng đến việc bố trí mùa vụ và hệ thống cây trồng, làm
cho sản xuất nông nghiệp thường xuyên phải chịu nhiều rủi ro.
+ Phân bố tài nguyên nước không đồng đều giữa hai vụ (quá nhiều vào
1.1.1.2 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi COC 4,00
1.1.1.3 Đất trồng cây hàng năm khác HNK 189,36
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm CLN 208,08
1.2 Đất lâm nghiệp LNP 7.376,35 72,75
1.2.1 Đất rừng sản xuất RSX 3.266,15
1.2.2 Đất rừng đặc dụng RDD 4.110,20
1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản NTS 20,27 0,2
2 Đất phi nông nghiệp PNN 658,01 6,49
2.1 Đất ở nông thôn ODT 41,89
2.2 Đất chuyên dùng DCG 335,38
2.3 Đất sông suối mặt nước SMN 218,01
2.4 Đất tín ngưỡng tôn giáo TTN 0,42
2.5 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 62,31
3 Đất chưa sử dụng CSD 1.423,66 14,04
3.1 Đất bằng chưa sử dụng BCS 432,58
3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng DCS 790,48
3.3 Núi đá không có rừng cây NCS 200,60
(Nguồn: [8])
Từ số liệu được nêu ở bảng 5 có thể thấy:
Sơn Trạch là một xã thuần nông với diện tích đất nông nghiệp chiếm
79,47% tổng diện tích tự nhiên. Công nghiệp chưa phát triển, nhưng dịch vụ
du lịch cũng khá phát triển nhờ có di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha – Kẻ
Bàng, trong đó đặc biệt là 2 hang động Phong Nha và Tiên Sơn đã thu hút
lượng khách du lịch trong và ngoái nước hàng năm khá lớn. Nhưng diện tích
đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ 79,47% tổng diện tích tự nhiên là khá cao so với
cơ cấu. Tuy nhiên, với quỹ đất nông nghiệp như vậy nên bình quân diện tích
24
đất nông nghiệp trên đầu người đạt mức khá cao, tạo điều kiện tăng thu nhập
và hoạt động sản xuất hàng hóa nông nghiệp của địa phương.
Biểu đồ 1: Cơ cấu sử dụng đất của xã Sơn Trạch năm 2009
khác, không có diện tích đất trồng cây lâu năm. Diện tích các cây trồng vụ
Đông còn thấp và chưa đa dạng.
25