Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất tại xã hua la, thành phố sơn la, tỉnh sơn la giai đoạn 2003 2012 - Pdf 34

TRƢỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA
KHOA NÔNG LÂM

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Chuyên đề:
Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp xã Mƣờng Bon Huyện Mai Sơn - Tỉnh Sơn La

Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Sinh viên thực hiện:
Lớp:
Giáo viên hƣớng dẫn:

Tòng Văn Hùng
CĐ Quản lý đất đai k47
ThS. Trần Thị Oanh

Sơn La, tháng 4 năm 2013


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện chuyên đề tốt nghiêp, em đã
nhận đƣợc sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp, quý báu của các thầy cô giáo,
Trƣờng Cao Đẳng Sơn La.
Để có kết quả nhiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân
em, em còn nhận đƣợc sự hƣớng dẫn chu đáo, tận tình của cô giáo Trần Thị
Oanh là ngƣời hƣớng dẫn trực tiếp em trong suốt thời gian nghiên cứu
chuyên đề và hoàn thành chuyên đề.
Em cũng nhận đƣợc sự giúp đỡ, tạo điệu kiện của UBND xã Mƣờng
Bon và nhân dân trong xã, các thầy cô giáo trƣờng Trung học cơ sở xã

PHẦN 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
3
2.1 Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất.
3
2.1.1 Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp.
3
2.2. Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp.
6
2.2.1.Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất.
6
2.2.2 Đặc điểm, phƣơng pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. 8
2.3 Các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
11
2.3.1. Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên.
11
2.3.2. Nhóm các yếu tố kinh tế - tổ chức.
12
2.3.3. Nhóm yếu tố xã hội.
12
2.4 Những xu hƣớng sử dụng đất nông nghiệp.
13
2.4.1Phƣơng hƣớng phát triển nông nghiệp ở xã Mƣờng Bon trong tƣơng lai13
2.4.2 Sự cần thiết phải xây dựng nền nông nghiệp bền vững.
14
2.4.3 Định hƣớng sử dụng đất nông nghiệp bền vững.
14
2.4.4.Những nghiên cứu liên quan đến nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp và sản xuất nông nghiệp bền vững.
16

32
ii


4.2.1.Thực trạng phát triển sản xuất nông nghiệp.
4.2.2Hiện trạng cây trồng và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp.
4.3Hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp xã Mƣờng Bon.
4.3.1Hiệu quả kinh tế.
4.3.1.1 Hiệu quả kinh tế của các cây trồng.
4.3.2Hiệu quả xã hội.
4.4.1Quan điểm phát triển nông nghiệp xã Mƣờng Bon.
4.4.2Định hƣớng sử dụng đất nông nghiệp xã MƣờngBon.
PHẦN 5. KẾT LUẬN
5.1 Kết luận.
5.2. Đề nghị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
BẢN ĐỒ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NĂM 2010
DANH MỤC HÌNH ẢNH
NHẬT KÝ THỰC TẬP
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN
NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP
PHIẾU ĐIỀU TRA NÔNG HỘ

iii

32
33
37
37
37


3

CPTG

Chi phí trung gian

4

GTGT

Giá trị gia tăng

5

GTSX

Giá trị sản xuất

6



7

LX - LM

8

LUT

Bảng 4.2 Các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội của xã Mƣờng bon
Bảng 4.3: Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp
Bảng 4.4. Hiện trạng hệ thống cây trồng của xã Mƣờng Bon
Bảng 4.5: Diện tích các loại hình sử dụng đất chính xã Mƣờng Bon
Bảng 4.6. Hiệu quả kinh tế các cây trồng vùng 1
Bảng 4.7. Hiệu quả kinh tế các cây trồng vùng 2
Bảng 4.8. Hiệu quả kinh tế các cây trồng vùng 3
Bảng 4.9. Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất vùng 1
Bảng 4.10. Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất vùng 2
Bảng 4.11. Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất vùng 3
Bảng 4.12. Tổng hợp hiệu quả kinh tế theo các LUT trên các vùng
Bảng 4.13 Hiểu quả xã hội tiểu vùng 1
Bảng 4.14 Hiểu quả xã hội tiểu vùng 2
Bảng 4.15 Hiểu quả xã hội tiểu vùng 3
Bảng 4.16. So sánh mức đầu tƣ phân bón thực tế tại địa phƣơng với
chuẩn bón phân cân đối và hợp lý
Bảng 4.17 Danh mục các loại thuốc BVTV ngƣời dân xã sử dụng
Bảng 4.18. Định hƣớng sử dụng đất nông nghiệp xã Mƣờng Bon

v

27
31
32
34
36
37
38
39
40

hình sử dụng đất đó làm cơ sở cho việc đề xuất sử dụng đất hợp lý, hiệu quả,
đảm bảo sự phát triển bền vững là vấn đề có tính chiến lƣợc và cấp thiết của
Quốc gia và của từng địa phƣơng.
Xã Mƣờng Bon nằm ở phía Tây Bắc, cách thành phố 20 km vế phía
Đông Nam , nằm ở phía Tây Bắc của huyện, cách trung tâm huyện Mai Sơn 6
km. Với tổng diện tích 3.944,00 ha đất tự nhiên, tổng dân số trong xã là 6.109
ngƣời. Hiện nay xã Mƣờng Bon đã có đƣờng nhựa đến trung tâm xã, đây là một
điều kiện thuận lợi cho việc giao lƣu trao đổi buôn bán hàng hóa để phát triển
bền vững.
Sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Mừơng Bon chủ yếu là trồng lúa
nƣớc, các loại cây trồng hàng năm khác nhƣ: mía, ngô, khoai, sắn, lạc, đậu
tƣơng và các loại cây ăn quả. Tuy nhiên diện tích sử dụng đất nông nghiệp
của xã đang bị thu hẹp và xói mòn rất nghiêm trọng do vậy địa bàn xã cần
1.1

1


phải khác phục sử dụng đất nông nghiệp một cách hợp lý. Do xã Mừơng Bon
nằm ở vùng cao khí hậu khắc nhiệt nên hiệu quả phát triển kinh tế của các loại
cây trồng chƣa cao, sản phẩm nông sản còn nghèo.
Việc nghiên cứu đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại, đánh giá
đúng mức độ của các loại hình sử dụng đất, để tổ chức, hộ gia đình cán nhân,
sử dụng đất hợp lý có hiệu quả cao theo quan điểm bền vững làm cơ sở cho
việc đề xuất quy hoạch sử dụng đất và định hƣớng phát triển sản xuất nông
nghiệp của xã Mừơng Bon vấn đề có tính chiến lƣợc và cấp thiết.
Trƣớc tình hình đó xã Mừơng Bon cần đánh giá quỹ đất nông nghiệp
hiện có và định hƣớng sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất nông nghiệp
nhằm hƣớng tới sự phát triển bền vững và đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa,
đô thị hóa. Xuất phát từ thực tiễn trên, đƣợc sự phân công của Bộ môn Quản

2.1.1 Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp.
Theo Luật đất đai năm 2003 đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2009 đất
nông nghiệp đƣợc chia ra làm các nhóm đất chính sau: Đất sản xuất nông
nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông
nghiệp khác. Sự phân chia cụ thể này sẽ giúp cho việc khai thác tiền năng
và nâng cao hiệu quả sử dụng từng loại đất.
Cùng với việc phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội, công nghệ, khoa học
và kỹ thuật, công năng của đất đƣợc mở rộng và có vai trò quan trọng đối với
cuộc sống của con ngƣời. Nhân loại đã có những bƣớc tiến kỳ diệu làm thay
đổi bộ mặt trái đất và mức sống hằng ngày. Nhƣng do chạy theo lợi nhuận tối
đa cục bộ không có một chiến lƣợc phát triển chung nên đã gây ra những hậu
quả tiêu cực nhƣ: ô nhiễm môi trƣờng, thoái hoá đất… Hàng năm gần 12 triệu
ha rừng nhiệt đới bị tán phá ở Châu Mỹ La Tinh và Châu á. Cân bằng sinh thái
bị phá vỡ, hàng triệu ha đất đai bị hoang mạc hoá . Sự thoái hoá đất đai tập
trung chủ yếu ở các nƣớc đang phát triển. Theo kết quả điều tra của UNDP và
trung tâm thông tin nghiên cứu đất quốc tế (ISRIC), thế giới có khoảng 13,4 tỷ
ha đất thì đã có khoảng 2 tỷ ha đất bị hoang hoá ở các mức độ khác nhau trong
đó Châu á và Châu Phi là 1,2 tỷ ha chiếm 62% tổng diện tích bị thoái hoá .
Lịch sử của thế giới đã chứng minh bất kỳ nƣớc nào dù là nƣớc phát
triển hay đang phát triển thì sản xuất nông nghiệp đều có vị trí quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân, tạo ra sự ổn định xã hội và mức an toàn lƣơng
thực quốc gia. Đối với các nƣớc đang phát triển, sản phẩm nông nghiệp và
còn là nguồn tạo ra thu nhập ngoại tệ. Tuỳ theo lợi thế của mình mà mỗi nƣớc
có thể lựa chọn những nông sản phù hợp để xuất khẩu thu ngoại tệ hay trao
3


đổi lấy sản phẩm công nghiệp để đầu tƣ lại cho nông nghiệp và các ngành
khác trong nền kinh tế quốc dân.
Theo bản báo cáo của tổ chức ngân hàng thế giới World Bank, hàng

ra vấn đề là phát triển sản xuất nông nghiệp đi đôi với bảo vệ cải tạo đất, xây
dựng nền nông nghiệp hiệu quả và bền vững .
2.1.3 Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp .
Hiện tƣợng suy thoái đất nông nghiệp có liên quan chặt chẽ đến chất
lƣợng đất và môi trƣờng. Để đáp ứng đƣợc lƣơng thực, thực phẩm cho con
ngƣời trong hiện tại và tƣơng lai, con đƣờng duy nhất là thâm canh tăng năng
suất cây trồng trong điều kiện hầu hết đất canh tác đất trong khu vực đều bị
nghèo độ phì nhiêu, đòi hỏi con ngƣời phải bổ sung cho đất một lƣợng dinh
dƣỡng cần thiết qua con đƣờng sử dụng phân bón tƣới tiêu hợp lý.
Trong đó hoạt động sản xuất nông nghiệp là một nguyên nhân không
nhỏ làm suy thoái đất. Quá trình thâm canh tăng vụ nông nghiệp đã làm phá
huỷ cấu trúc đất, bị xói mòn và suy kiệt dinh dƣỡng đất.
Tại sở và phòng tài nguyên môi trƣờng nghiên cứu các kết quả đều cho
thấy đất ở vùng trung du miền núi đều nghèo các chất dinh dƣỡng P, K, Ca
và Mg rất ít. Để đảm bảo đủ dinh dƣỡng, đất không bị thoái hoá thì N, P là hai
yếu tố cần phải đƣợc bổ sung thƣờng xuyên, trong quá trình sử dụng đất, do
chƣa tìm đƣợc các loại hình sử dụng đất hợp lý hoặc chƣa có công thức luân
canh tác hợp lý cũng gây ra hiện tƣợng thoái hoá đất nhƣ vùng đất dốc mà
trồng cây lƣơng thực, đất có dinh dƣỡng kém lại không luân canh với cây đậu.
Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con ngƣời còn thấp dẫn tới việc sử dụng
phân bón còn nhiều chƣa hạn chế và chƣa biết sử dụng thuốc bảo vệ thực vật,
ảnh hƣởng tới cây lƣơng thực và môi trƣờng. Do vậy việc cải tạo độ phì của đất
để tạo ra sản phẩm cho chính con ngƣời tiêu dùng.
2.1.4 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững.
* Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp.
Ngày nay, nhu cầu sử dụng đất của con ngƣời ngày càng tăng trong
khi quỹ đất nông nghiệp có hạn. Đất đai đang là nguồn tài nguyên đƣợc con
ngƣời khai thác với nhiều mục đích khác nhau. Chính vì vậy một phần lớn
diện tích đất nông nghiệp đang đƣợc chuyển đổi sang mục đích sử dụng
khác. Do đó, mục tiêu sử dụng đất nông nghiệp là nâng cao hiệu quả kinh

vững.
2.2. Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp.
2.2.1. Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất.
- Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con ngƣời chờ
đợi hƣớng tới, nó có những nội dung khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có
nghĩa là hiệu suất, là năng suất. Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi
nhuận. Trong lao động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động đƣợc đánh giá
6


bằng số lƣợng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, bằng số
lƣợng sản phẩm đƣợc sản xuất ra trong một đơn vị thời gian.
- Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử
dụng đất, thì hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện
pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi
thế, khác phục các khó khăn, khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những
hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền
kinh tế quốc dân, gắn liền sản xuất trong nƣớc với thị trƣờng quốc tế.
- Hiện nay các nhà khoa học đều cho rằng, vấn đề đánh giá hiệu quả sử
dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó
mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã
hội và hiệu quả môi trƣờng.
2.2.1.1. Hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền
sản xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau.
Vì thế, hiệu quả kinh tế phải đáp ứng đƣợc 3 vấn đề:
- Một là mọi hoạt động của con ngƣời đều phải quan tâm và tuân theo
quy luật “tiết kiệm thời gian”;
- Hai là hiệu quả kinh tế phải đƣợc xem xét trên quan điểm bằng hệ

Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trƣờng đƣợc đánh
giá thông qua mức độ sử dụng các chất hoá học trong nông nghiệp. Đó là việc
sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất đảm bảo
cho cây trồng sinh trƣởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và không gây ô
nhiễm môi trƣờng.
Hiệu quả sinh học môi trƣờng đƣợc thể hiện qua mối tác động qua lại
giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại nhằm giảm thiểu
việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt đƣợc mục tiêu đề ra.
Hiệu quả vật lý môi trƣờng đƣợc thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt
nhất tài nguyên khí hậu nhƣ ánh sáng, nhiệt độ, nƣớc mƣa của các kiểu sử
dụng đất để đạt đƣợc sản lƣợng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào.
2.2.2 Đặc điểm, phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
2.2.2.1. Đặc điểm đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp.
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là rất cần thiết, có thể xem
xét ở các mặt:
- Quá trình sản xuất trên đất nông nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu
vào kinh tế. Vì thế, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trƣớc tiên
phải đƣợc xác định bằng kết quả thu đƣợc trên một đơn vị diện tích cụ thể
(thƣờng là 1 ha), tính trên 1 đồng chi phí, trên 1 công lao động.
8


- Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân
canh, do đó cần phải đánh giá hiệu quả từng loại cây trồng, từng công thức
luân canh.
- Thâm canh là biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác
động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trƣớc mắt và lâu dài. Vì thế, cần
phải nghiên cứu hậu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên
cứu việc ảnh hƣởng và tăng đầu tƣ thâm canh đến quá trình sử dụng đất.
- Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp đƣợc khi con ngƣời biết

H = (K - C)/C
H = (K1 - K0)/(C1 - C0)
Trong đó: - H: Hiệu quả
- C: Chi phí
* Hiệu quả kinh tế.

- K: Kết quả
- 1, 0 là chỉ số thời gian (năm)

+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 ha đất nông nghiệp
- Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch
vụ đƣợc tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thƣờng là một năm).
- Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất
thƣờng xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu
vào và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất.
- Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí
trung gian, là giá trị sản phẩm xã hội tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó.
GTGT = GTSX - CPTG
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG,
GTGT/CPTG): Đây là chỉ tiêu tƣơng đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử
dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ.
+ Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, gồm có
(GTSX/LĐ, GTGT/LĐ). Thực chất là đánh giá kết quả đầu tƣ lao động sống
cho từng kiểu sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí
cơ hội của ngƣời lao động.
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội.
Hiệu quả xã hội đƣợc phân tích bởi các chỉ tiêu sau:
- Đảm bảo an toàn lƣơng thực, gia tăng lợi ích của ngƣời nông dân;
- Đáp ứng mục tiêu chiến lƣợc phát triển của vùng;
- Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân;

cấu cây trồng đòi hỏi ngƣời nông dân phải am hiểu sâu sắc về tình hình đất
đai, khí hậu, thời tiết của vùng mình, địa phƣơng mình để bố trí cây trồng hợp
lý nhằm tận dụng những điều kiện thuận lợi của tự nhiên đồng thời tránh đƣợc
những thiệt hại mà thiên tai gây ra.
- Cây trồng khác nhau yêu cầu về cƣờng độ ánh sáng cũng khác nhau,
trong quá trình sống của cây trồng hàng năm cƣờng độ ánh sáng tới ảnh
hƣởng có quan hệ thuận với năng suất cây trồng ở giai đoạn cuối khoảng 45 60 ngày trƣớc khi thu hoạch cây trồng.
- Cây trồng sống trong điều kiện nhiệt độ khác nhau đã thích nghi với
nhiệt độ khác nhau.
- Nƣớc là yếu tố sinh trƣởng quan trọng của cây trồng, nƣớc vừa tham
11


gia cấu trúc nên cơ thể thực vật vừa quyết định các biến đổi sinh hoá và các
hoạt động sinh lý trong cây cũng nhƣ quá trình sinh trƣởng, phát triển của cây
cho nên nƣớc đƣợc xem là yếu tố sinh thái quan trọng nhất quyết định năng
suất cây trồng.
- Đất (loại đất, địa hình, thành phần cơ giới, chế độ nƣớc, độ phì, chua mặn,...): Có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp, các yếu tố của
đất đai là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối, do vậy cần đánh giá đúng
điều kiện đất đai để trên cơ sở xác định cây trồng vật nuôi phù hợp, tuỳ theo vị
trí địa hình, chất đất mà lựa chọn, bố trí cây trồng của từng vùng thích hợp trên
từng loại đất mới cho năng suất, chất lƣợng sản phẩm cao, bố trí sản xuất hợp
lý, thực hiện đa dạng hoá sản xuất và định hƣớng đầu tƣ thâm canh đúng.
2.3.2. Nhóm các yếu tố kinh tế - tổ chức.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật là nhân tố có vị trí quan trọng ảnh hƣởng lớn
đến cây trồng, bởi muốn phát triển hệ thống cây trồng phải có những điều
kiện chủ yếu nhƣ các công trình thuỷ lợi, các công trình phúc lợi,...
- Vốn cũng là một nhân tố quyết định đến cây trồng, hộ nông dân muốn
có các loại giống mới có giá trị kinh tế cao đòi hỏi phải có một lƣợng vốn lớn.
Trong sản xuất nông nghiệp, nông hộ phải quyết định tất cả các khâu sản xuất

sở cung cầu của thị trƣờng nông sản trong nƣớc.
+ Xác định cơ cấu sản phẩm trên cơ sở các tiềm năng tự nhiên, kinh tế,
xã hội của từng vùng, lấy hiệu quả kinh tế tổng hợp làm thƣớc đo để xác định
cơ cấu, tỷ lệ sản phẩm hợp lý về các chỉ tiêu, kế hoạch đối với từng nông sản
hàng hoá;
+ Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hƣớng tăng tỷ trọng ngành
chăn nuôi, nhóm cây công nghiệp, rau quả so với cây lƣơng thực. Giảm tỷ
trọng lao động nông nghiệp xuống còn 50%, tăng quỹ đất nông nghiệp bình
quân trên một lao động nông nghiệp . Đồng thời đẩy mạnh công nghiệp hoá,
phát triển ngành nghề công nghiệp, dịch vụ ngoài nông nghiệp. Mặt khác, cần
phải phát triển mạnh các ngành nghề, dịch vụ trong nông nghiệp để giải quyết
lao động nông nhàn.
+ Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp. Cần
ứng dụng đồng bộ các yếu tố khoa học công nghệ vào sản xuất nông sản hàng
hoá, nâng cao trình độ khoa học công nghệ trong sản xuất, chế biến, lƣu thông
sản phẩm hàng hoá.
+ Sản phẩm làm ra chứa đựng một lƣợng tri thức khoa học - kỹ thuật
và tổ chức quản lý, không ngừng nâng cao năng suất, chất lƣợng, hạ giá thành
sản phẩm và tiếp cận tích cực nhất với kinh tế tri thức đang diễn ra trên toàn
cầu.
13


2.4.2 Sự cần thiết phải xây dựng nền nông nghiệp bền vững.
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan
hệ giữa ngƣời và đất đai. Mục tiêu của con ngƣời là sử dụng đất khoa học và
hợp lý việc sử dụng đất tối đa và có hiệu quả toàn bộ quỹ đất nông nghiệp của
xã Mƣờng Bon, nhằm phục vụ phát triển nền kinh tế quốc dân và phát triển xã hội. Việc sử dụng đất dựa trên nguyên tắc là ƣu tiên đất đai cho sản xuất
nông nghiệp.
Sử dụng đất một cách hiệu có quả và bền vững luôn là mong muốn

thoái hoá đối với chất lƣợng đất và nƣớc (bảo vệ).
- Khả thi về mặt kinh tế (tính khả thi).
- Đƣợc sự chấp nhận của xã hội (sự chấp nhận).
Các nguyên tắc nêu trên đƣợc coi là những trụ cột của sử dụng đất bền
vững và là những mục tiêu cần đạt đƣợc.
2.4.3. Định hướng sử dụng đất nông nghiệp bền vững.
Sử dụng đất gắn với các mục đích kinh tế, xã hội và môi trƣờng là vấn
đề sử dụng đất quan trọng. Trong thời kỳ cuộc sống xã hội phát triển ở mức
cao, việc sử dụng đất luân hƣớng tới mục tiêu kinh tế, nhằm đạt đƣợc lợi
nhuận. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng đất, các mục đích sử dụng đất nêu
trên luôn nảy sinh mâu thuẫn làm cho mối quan hệ giữa ngƣời và đất ngày càng
căng thẳng. Để thoả mãn nhu cầu của con ngƣời cả về 3 lợi ích kinh tế - xã hội
- môi trƣờng nhất thiết phải giải quyết những xung đột này để sử dụng đất có
hiệu quả. Sử dụng đất hợp lý, bền vững là hài hoà đƣợc các mục tiêu kinh tế xã hội và môi trƣờng.
* Sử dụng đất với mục tiêu kinh tế.
Sử dụng đất trƣớc hết cũng gắn với mục tiêu kinh tế, những mục tiêu
kinh tế trong sử dụng đất giữa chủ sử dụng thực tế và cộng đồng lớn hơn có
lúc trùng nhau và có lúc không trùng nhau.
Các hộ nông dân trong việc sử dụng đất của mình luôn đặt ra mục tiêu
làm ra sản phẩm để bán hoặc tự tiêu dùng, nếu thấy việc đó không có lợi họ
có thể thay đổi cây trồng để sản xuất có hiệu quả hơn hoặc nếu việc canh tác
không có lợi họ có thể bán phần đất của họ cho ngƣời nông dân khác, những
ngƣời mà sản xuất nông nghiệp đem lại lợi nhuận cao hơn hoặc họ cũng có
thể thay đổi mục đích sử dụng đất của mình kể cả việc vui chơi giải trí.
Sử dụng đất và các mục tiêu kinh tế đƣợc xem là hợp lý có nghĩa là
thoả mãn đƣợc nguyện vọng của từng chủ sử dụng đất và toàn thể cộng đồng
mà là quá trình xem xét cân nhắc để sử dụng đất hài hoà về mặt lợi ích của
toàn thể cộng đồng và các chủ sử dụng đất cụ thể. Trong vấn đề này bao giờ
cũng đặt ƣu tiên cho việc sử dụng đất lâu dài.
* Sử dụng đất với mục tiêu xã hội.

Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghệp để đáp ứng nhu cầu
trƣớc mắt và lâu dài là vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà
khoa học trên thế giới. Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu vào việc
đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi
loại đất, để từ đó sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác
16


tốt hơn lợi thế so sánh của vùng.
Hàng năm các Viện nghiên cứu nông nghiệp trên thế giới cũng đã đƣa
ra nhiều giống cây trồng mới, những kiểu sử dụng đất mới, giúp cho việc tạo
thành một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả cao hơn. Viện
nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và
hệ thống cây trồng trên đất lúa.
Nói chung về việc sử dụng đất đai, các nhà khoa học trên thế giới đều
cho rằng: đối các vùng nhiệt đới có thể thực hiện các công thức luân canh cây
trồng hàng năm, có thể chuyển từ chế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác
mới tiến bộ hơn, mang kết quả và hiệu quả cao hơn. Tạp chí “Farming Japan”
của Nhật Bản ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nƣớc trên thế
giới về các hình thức sử dụng đất đai cho ngƣời dân, nhất là ở nông thôn .
Tại Thái Lan nhiều vùng trong điều kiện thiếu nƣớc, từ sử dụng đất
thông qua công thức luân canh lúa xuân - lúa mùa hiệu quả thấp vì chi phí tƣới
nƣớc quá lớn và độc canh cây lúa làm ảnh hƣởng xấu đến chất lƣợng đất đã
đƣa cây đậu thay thế lúa xuân trong công thức luân canh. Kết quả là giá trị sản
lƣợng tăng lên đáng kể, hiệu quả kinh tế đƣợc nâng cao, độ phì nhiêu của đất
đƣợc tăng lên rõ rệt. Nhờ đó hiệu quả sử dụng đất đƣợc nâng cao .
Kinh nghiệm của Trung Quốc, việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu
tố quyết định để phát triển kinh tế xã hội nông thôn toàn diện. Chính phủ
Trung Quốc đã đƣa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai ổn định, chế
độ sở hữu giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và

cần thiết đối với Việt Nam trong những năm tới .
Thực tế những năm qua chúng ta đã quan tâm giải quyết tốt các vấn đề
về kỹ thuật và kinh tế, tổ chức trong sử dụng đất nông nghiệp , việc nghiên
cứu và ứng dụng đƣợc tập trung vào các vấn đề nhƣ: lai tạo các giống cây
trồng mới ngắn ngày có năng suất cao, bố trí luân canh cây trồng phù hợp với
từng loại đất, thực hiện thâm canh trên cơ sở ứng dụng khoa học kỹ thuật vào
sản xuất. Các công trình có giá trị trên phạm vi cả nƣớc phải kể đến công
trình nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và
phát triển lâu bền của tác giả Trần Anh Phong- Viện quy hoạch và thiết kế
nông nghiệp (1995).
18


Vùng Đồng Bằng Sông Hồng (ĐBSH) có tổng diện tích đất nông
nghiệp là 903.650 ha, chiếm 44%, diện tích tự nhiên trong vùng. Trong đó,
gần 90% đất nông nghiệp dùng để trồng trọt. Đây là trung tâm sản xuất lƣơng
thực lớn thứ 2 của cả nƣớc , là nơi thu hút nhiều công trình nghiên cứu khoa
học, góp phần định hƣớng cho việc xây dựng các hệ thống cây trồng và sử
dụng đất thích hợp. Trong đó phải kể đến các công trình nhƣ: Phân vùng sinh
thái nông nghiệp vùng ĐBSH của các tác giả Cao Liêm, Đào Châu Thu, Trần
Thị Tú Ngà (1990); Hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác trên đất phù sa
sông Hồng huyện Mỹ Văn - tỉnh Hải Hƣng của tác giả Vũ Thị Bình (1993);
Nghiên cứu hệ thống nông nghiệp lƣu vực sông Hồng của tác giả Đào Thế
Tuấn và Pascal Bergret (1998) ; Đánh giá kinh tế đất lúa vùng ĐBSH của tác
giả Quyền Đình Hà (1993); Quy hoạch sử dụng đất vùng ĐBSH của tác giả
Phùng Văn Phúc (1996); Đề tài đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hoá
cây trồng vùng ĐBSH của tác giả Vũ Năng Dũng (1997). Trong những năm
gần đây, chƣơng trình quy hoạch cụ thể vùng ĐBSH (1994) đã nghiên cứu đề
xuất dự án phát triển đa dạng hoá nông nghiệp ĐBSH, kết quả cho thấy:
Ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ đã xuất hiện nhiều mô hình luân canh cây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status