1
LỜI NÓI ĐẦU
"Học đi đôi với hành”, lấy kiến thức lí thuyết làm nền tảng để vận dụng vào
thực tế công việc. Đó là phương trâm học của học sinh, sinh viên trường Trường Cao
Đẳng Sơn La.
Nhận được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường và khoa nông Lâm, và
UBND phường Chiềng Sinh - TPSơn La. Dưới sự hướng dẫn chi tiết của cô giáo lê
Thị Hương, bản thân em nhận thấy đây là một cơ hội quý báu để em vận dụng lý
thuyết đã học được ở trường vào công việc thực tế, đồng thời nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ của bản thân ngày một vững trắc hơn.
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp chuyên ngành địa chính môi trường và quá
trình viết báo cáo em đã tiếp thu được rất nhiều điều bổ ích về kiến thức cơ bản cũng
như chuyên môn nghiệp vụ đặc thù của chuyên ngành. Nhưng do thời gian có hạn và
trình độ tiếp thu kiến thức chưa cao nên bài báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu
xót. Vậy em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô trong khoa Lâm
nông, để bản báo cáo của em được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng em xin trân thành cảm ơn ban giám hiệu nhà trường và cùng toàn bộ
các thầy, cô trong khoa nông Lâm . Đồng thời xin trân thành cảm ơn UBND phường
Chiềng Sinh - TP Sơn La đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em hoàn thành đợt
thực tập tốt nghiệp này này.
Em xin trân thành cảm ơn!
Chiềng Sinh, ngày tháng 4 năm 2013
TÒNG VĂN TRUNG
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của chuyên đề
Trong những năm gần đây, cùng với sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hoá
và công nghiệp hoá tăng nhanh đã làm cho nhu cầu sử dụng đất của
- Thu thập đầy đủ và chính xác các số liệu liên quan đến tình hình quản lý
và sử dụng đất trên địa bàn phường.
- Đề xuất biện pháp tăng cường hiệu quả quản lý và sử dụng đất trên địa bàn
phường.
PHẦN II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học và tính pháp lý của công tác quản lý nhà nƣớc về
đất đai :
2.1.1. Sơ lược lịch sử của ngành Địa chính và Quản lý nhà nước về đất
đai qua các thời kỳ.
Đất đai là tài sản quốc gia, là yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất
xã hội, cộng đồng và cũng là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng của người sử
dụng đất. Tuy nhiên, đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu thì
ngày càng tăng, cùng với sức ép về dân số thì việc sử dụng đất cần tuân theo các
nguyên tắc hợp lý, tiết kiệm, bền vững. Từ yêu cầu cấp thiết trên, công tác địa
chính xuất hiện. Tại Việt Nam công tác địa chính được tiến hành từ thế kỷ thứ VI
bắt đầu bằng việc kiểm tra điền địa, trải qua các thời kỳ khác nhau nhưng đều ảnh
hưởng và có tác động trực tiếp đến việc quản lý sử dụng đất.
2.1.1.1. Thời kỳ phong kiến:
Trong lịch sử hàng ngàn năm phong kiến đất nước ta tồn tại song song hai
hình thức về ruộng đất: sở hữu đất công và sở hữu đất tư.
Thời kỳ Hùng Vương, Thời kỳ An Dương Vương - Thục phán: Quan hệ đất
đai thời kỳ này có nhiều hình thức sở hữu khác nhau: Sở hữu Nhà nước, sở hữu
của công xã nông thôn và sở hữu của quan lại quý tộc.
Thời kỳ nhà Đinh tồn tại chủ yếu hai hình thức sở hữu về đất đai: Sở hữu
của nhà vua, sở hữu của công xã nông thôn và gần như không có sở hữu của tư
nhân về ruộng đất. Một số quan lại được nhà vua cấp đất để thưởng công, nhưng
đất đó vẫn là đất thuộc sở hữu của Nhà nước.
Chúng chia nước ta thành ba kỳ để cai trị:
* Ở Nam Kỳ: Sở địa chính được thành lập năm 1867 và bắt đầu lập nền tam
giác đạc từ 1871 – 1895, ở các tỉnh có trắc địa viên làm bao đạc cho từng làng và
lập biểu thuế điền thổ.
Từ năm 1896, Sở Địa chính dưới đặc quyền của Thống đốc Nam Kỳ đã tiến
hành làm bản đồ giải thửa. Đến năm 1930, hầu hết các tỉnh Nam Kỳ đã đo đạc
xong bản đồ giải thửa ở tỷ lệ 1/4000, 1/2000 và 1/500.
Từ 1911 các tư liệu địa chính phải lưu trữ ở các Phòng Quản lý địa bộ. Các
Tỉnh trưởng đảm nhiệm việc quản thủ địa bộ cho người trong nước, còn Pháp và
ngoại kiều khác có chế độ Đế đương do Ty bảo vệ quyền sở hữu theo luật
napôlêôn.
* Tại Trung Kỳ: Để có căn cứ tính thuế, từ năm 1806 đã tiến hành đo đạc
đơn giản để lập địa bộ.
Ngày 26/4/1930, Khâm sứ Trung Kỳ ban hành Nghị quyết số 1358 lập Sở
Bảo tồn điền trạch, sau đổi thành Sở Quản thủ địa chính.
Các thủ tục lập tài liệu địa chính được quy định rõ, lập Hội đồng phân ranh
giới xã, có kèm theo sơ đồ cắm mốc giới, duyệt các bảng kê khai từng thửa, từng
chủ ruộng có ranh giới rõ ràng, lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/2000 được công sứ
duyệt. Các tài liệu này được công bố trong vòng hai tháng nếu có khiếu nại được
xử lý và chuyển sang Sở địa chính ghi vào sổ địa bộ chính thức. Thời kỳ này chủ
yếu duy trì quỹ đất công làng xã và sở hữu nhỏ của nông dân.
* Tại Bắc Kỳ: Năm 1906, Sở Địa chính chính thức ra đời và phân định địa
giới huyện, xã và bắt đầu làm bản đồ bao đạc nhằm mục đích đánh thuế.
Trong giai đoạn 1928, tiến hành lập bản đồ địa chính chính quy. Từ năm
1937, những nơi đã làm xong bản đồ địa chính chính quy thì được Quản thủ địa
chính thu các tài liệu đã được phê chuẩn, bao gồm các tài liệu: bản đồ giải thửa
chính xác, sổ địa chính, sổ điền chủ, sổ khai báo…
2.1.1.3. Thời kỳ Mỹ Ngụy:
Ngày 18/6/1949, thành lập Nha địa chính trong Bộ Tài chính, toàn bộ các
cán bộ địa chính được đưa đi làm thuế nông nghiệp;
Tháng 7/1949, Chính phủ ra Sắc lệnh số 78/SL quy định giảm 25% địa tô;
Theo sắc lệnh số 40/SL, ngày 13/7/1951, ngành địa chính chính thức hoạt
động theo chuyên ngành;
Ngày 05/3/1952, Chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về việc sử dụng công
điền, công thổ chia cho người nghèo;
Ngày 14/12/1953, Quốc hội thông qua “Luật cải cách ruộng đất”;
Ngày 19/12/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 179/SL ban hành
luật cải cách ruộng đất, nhằm đánh đổ hoàn toàn chế độ phong kiến, thực hiện triệt
để khẩu hiệu “người cày có ruộng”. Nhà nước thực hiện hình thức tịch thu, trưng
thu, trưng mua ruộng đất theo từng đối tượng sở hữu đất đai khác nhau để chia cho
nông dân.
Giai đoạn 1954 – 1959, giai cấp địa chủ phong kiến đã sụp đổ hoàn toàn, chế
độ sử dụng đất đã thay đổi căn bản, người cày thực sự có ruộng đất, sản lượng
lương thực tăng, kinh tế đất nước được phục hồi.
Ngày 03/7/1958 Chính phủ ban hành Chỉ Thị số 354/CT – TTg thành lập cơ
quan quản lý đất đai ở Trung ương là Sở địa chính, nằm trong Bộ Tài chính, chức
năng là quản lý ruộng đất và thu thuế nông nghiệp.
Ngày 9/12/1960, Chính phủ ra Nghị định số 70/1960/NĐ-CP quy định
nhiệm vụ, tổ chức ngành địa chính và chuyển ngành địa chính từ Bộ Tài chính
sang Bộ Nông nghiệp và đổi tên là ngành quản lý ruộng đất.
Ngày 9/11/1979, Chính phủ ban hành Nghị định số 404/NĐ-CP về thành lập
Hệ thống quản lý đất đai thuộc Hội đồng Bộ trưởng và UBND các cấp.
Năm 1988, Luật đất đai lần đầu tiên ra đời, tiếp sau hàng loạt các văn bản
dưới luật hướng dẫn thi hành luật nhằm đưa công tác quản lý ruộng đất vào nề nếp
và đúng pháp luật.
Chỉ thị số 67/CT-TTg ngày 23/3/1989 về triển khai thi hành Luật đất đai.
2.1.2. Cơ sở khoa học và căn cứ pháp lý của công tác quản lý sử dụng đất
2.1.2.1. Cơ sở lý luận
Để một hệ thống quản lý đất đai tốt phải đảm bảo được các mục tiêu sau:
- Trên cơ sở ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật đất đai nhằm tạo cơ sở
pháp lý đảm bảo quyền sở hữu nhà nước về đất đai (quyền giao đất, cho thuê đất,
thu hồi đất, hướng dẫn, thanh tra xử lý vi phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất …) và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, góp phần
giả quyết tốt mọi tranh chấp đất đai tạo cơ sở vững chắc cho việc tính thuế đất và
thuế bất động sản.
- Phát triển và quản lý tốt thị trường bất động sản bao gồm cả hệ thống thế
chấp quyền sử dụng đất đai và quyền sở hữu bất động sản.
- Trên cơ sở điều tra, khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng, thống kê, kiểm
kê đất nhà nước nắm chắc số lượng và chất lượng đất đai.
Như vậy, quản lý nhà nước về đất đai là nhằm bảo vệ quyền lợi cho mọi đối
tượng khi quyền và nghĩa vụ của các đối tượng sở hữu và sử dụng đất được giải
quyết thoả đáng thì sẽ mang lại ổn định xã hội, an ninh chính trị và có tác dụng
thúc đẩy phát triển kinh tế.
2.1.2.2. Căn cứ pháp lý liên quan đến đất đai
- Căn cứ luật đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003;
- Căn cứ Nghị định số 181/2004/ NĐ-CP ngày 29/10/2004 của chính phủ về
thi hành luật đất đai;
- Căn cứ Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 02/12/2004 của Chính phủ về
thu tiền sử dụng đất;
- Quyết định số 201/QĐ-CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về
việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong
cả nước;
- Chỉ thị số 299/CT-TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về công
tác đo đạc, phân hạng và đăng ký ruộng đất;
+ Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và
tổ chức thực hiện các văn bản đó;
+ Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập
bản đồ hành chính;
+ Khảo sat, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đò
hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất;
+ Quản lý quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất;
+ Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng
đất;
+ Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính cấp
GCNQSDĐ;
+ Thống kê, kiểm kê đất đai;
+ Quản lý tài chính về đất đai;
+ Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất
động sản;
+ Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;
+ Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai
và sử lý vi phạm về đất đai;
+ Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm
trong quản lý và sử dụng đất đai;
+ Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai;
2.3. Tình hình quản lý đất đai trên phạm vi cả nƣớc
2.3.1. Tình hình quản lý đất đai của cả nước trong những năm qua
Trước năm 1993, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để quản
lý đất đai một cách chặt chẽ. Tuy nhiên các văn bản chưa đáp ứng được yêu cầu
của công tác quản lý nhà nước về đất đai bởi việc sử dụng đất đai là vấn đề phức
tạp chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau. Từ năm 1993 đến nay, ngành tài
nguyên môi trường đã xây dựng được hệ thống chính sách tương đối đồng bộ về
các tỉnh, thành phố và hoàn thành đo vẽ 20 mảnh bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ
1/50000 khu vực Quảng Ninh - Hải Phòng và khu vực Bình Trị Thiên phục vụ hiệp
định phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc.
2.3.1.3. Công tác quản lý quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất
Công tác quy hoạch sử dụng đất là một nội dung quan trọng trong quản lý
đất đai, là cơ sở để tiến hành giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
cũng như thu hồi đất đai. Nhận thấy vai trò quan trọng của công tác lập quy hoạch
sử dụng đất, Nhà nước đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất trên phạm vi cả
nước.
2.3.1.4. Công tác giao đất cho thuê đất cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất
Hiện nay đang tiếp tục giao đất cho các tổ chức kinh tế và hộ gia đình, cá
nhân có nhu cầu sử dụng đất để phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá.
- Cấp GCNQSD đất:
Thực hiện luật đất đai năm 2003, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày
29/11/2004 của chính phủ về hướng dẫn thi hành luật đất đai năm 2003, Nghị định
số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 về việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, trình tự
thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu
nại về đất đai, trên cả nước đã tiến hành cấp GCNQSD đất cho các đối trượng sử
dụng đất.
2.3.1.5. Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp đất đai, giải
quyết khiếu nại, tố cáo
Công tác này thường xuyên được đôn đốc thực hiện. kết quả đã giả quyết
nhiều đơn thư khiếu nại tố cáo liên quan đến đất đai nhằm tạo điều kiện cho nhân
dân yên tâm sản xuất. Bên cạnh đó thì vấn đề khiếu nại vượt cấp về lĩnh vực đất
đai còn xảy ra nhiều mà nguyên nhân là do nhà nước chưa thực hiện đúng các
chính sách cho người dân, công tác quản lý còn lỏng lẻo. Vì vậy trong những năm
cũng như giao đất cho người dân sử dụng, tính đến năm 2003 tỉnh đã cơ bản hoàn
thành công tác giao đất nông nghiệp, giao rừng tự nhiên cho người dân sử dụng
vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp.
* Công tác thanh tra, kiểm tra cũng được tỉnh Sơn La tiến hành thường
xuyên và đầy đủ.
* Về quản lý thị trường đất trong thị trường bất động sản: Trước đây khi
Nhà nước chưa công nhận hoạt động của thị trường đất trong thị trường bất động
sản, các giao dịch có liên quan đến đất đai vẫn diễn ra nhưng không công khai làm
cho giá đất tại thời điểm đó lên cao. Từ khi có Luật đất đai 2003 ra đời công nhận
thị trường đất trong thị trường bất động sản thì hoạt động này càng ngày phát triển
mạnh.
* Về quản lý dịch vụ công: 11 huyện, thành phố đã thành lập Văn phòng
đăng ký quyền sử dụng đất từ cuối năm 2006, Văn phòng đã tiến hành tổ chức thực
hiện đăng ký sử dụng đất và biến động về sử dụng đất, quản lý hồ sơ địa chính về
giúp sở Tài nguyện và Môi trường trong việc thực hiện thủ tục hành chính về quản
lý và sử dụng đất trên địa bàn tỉnh.
Nhìn chung công tác quản lý nhà nước về đất đai của tỉnh Sơn la trong thời
gian qua được thực hiện tương đối tốt. Trong thời gian tới cẩn đẩy mạnh hơn nữa
công tác cấp giấy CNQSD đất , giải quyết dứt điểm các đơn thư khiếu nại tố cáo
còn tồn đọng trong thời gian qua, giúp người dân yên tâm sản xuất. Đồng thời cần
phát triển hơn nữa thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản để
làm tăng nguồn tài chính từ đất đai.
2.3.3. Tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên toàn phường Chiềng
Sinh.
Thực hiện Chỉ thị 364/CP ngày 6/11/1991 của Thủ tướng Chính phủ, địa
giới hành chính của phường Chiềng Sinh với các xã lân cận đã được xác định. Qua
công tác cập nhập, chỉnh lý theo số liệu thống kê đất đai theo địa giới hành chính
phường xác định tổng diện tích tự nhiên của phường là: 2.261 ha
tổng diện tích đất tự nhiên theo địa giới hành chính là 2.266 ha, chiếm 6,98% tổng
diện tích tự nhiên , bình quân 457 người/Km2 ( Lớn nhất trong 6 phường) gồm 3
nhóm đất chính.
- Nhóm đất nông nghiệp: 1.323,61 ha chiếm 58,41% tổng diện tích tự nhiên.
- Nhóm đát phi nông nghiệp: 456,57 ha chiếm 20,15% tổng diện tích tự
nhiên.
- Nhóm đất chưa sử dụng: 485,82 ha chiếm 21,44% tổng diện tích tự nhiên.
1. Nhóm đất nông nghiệp.
* Đất sản xuất nông nghiệp.
- Đất sản xuất nông nghiệp toàn phường có 1.323,61 ha chiếm 58,41% tổng
diện tích nhóm đất nông nghiệp.
- Trong cơ cấu diện tích đất nông nghiệp, chủ yếu là đất trồng cây hàng năm
với 309,93 ha, chiếm 23,42%, còn lại là đất trồng cây lâu năm 294,23 ha, chiếm
22,23% diện tích đất sản xuất nông nghiệp.
2. Nhóm đất phi nông nghiệp.
Năm 2010 phường Chiềng Sinh có 456,57 ha diện tích nhóm đất phi nông
nghiệp chiếm 20,15% tổng diện tích tự nhiên bao gồm:
2.1 - Đất ở.
Tổng diện tích đất ở 89,75 ha
2.2 Đất chuyên dùng.
Diện tích đất chuyên dùng là 376,83 ha, diện tích nhóm đất phi nông nghiệp
bao gồm các loại đất sau:
- Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp là 46,03 ha chiếm 1,32% diện tích đất
phi nông nghiệp được dừng để xây dựng Trụ sở UBND phường và các trụ sở cơ
quan nhà nước đóng trên địa bàn phường ( CHi cục dự trữ quốc gia khu vực Tây
Bắc, Cục thuê Tỉnh Sơn La, Trung tâm đăng kiểm cơ giới thủy bộ Sơn La, Liên
đoàn lao động tỉnh Sơn La...)
- Đất quốc phòng: Dện tích năm 2010 có diện tích là 40,30 ha, chiếm 8,83% diện
nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích của địa phương
PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu:
Công tác quản lý nhà nước về đất đai của phường Chiềng Sinh - TP Sơn La
giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2012.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu trong giới hạn 13 nội dung quản lý nhà nước về đất
đai được quy định trong Luật Đất Đai năm 2003.
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành:
Đề tài nghiên cứu tại UBND phường Chiềng Sinh - TP Sơn La từ ngày
18/02/2013 đến ngày 28/04/2013
3.3. Nội dung nghiên cứu:
- Đánh giá công tác quản lý đất đai theo 13 nội dung quản lý đất Nhà nước
về đất đai của phường Chiềng Sinh giai đoạn 2003 – 2012 cụ thể như sau:
1. Công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng
đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó.
2. Công tác xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành
chính, lập bản đồ hành chính.
3. Công tác khảo sát, đo đạc, đánh giá phân hạng đất đai, lập bản đồ hành
chính, bản đồ hiên trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sư dụng đất.
4. Công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
5. Công tác quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích
sử dụng đất.
6. Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
7. Công tác thống kê, kiểm kê đất đai.
8. Công tác quản lý tài chính về đất đai.
đối chiếu, so sánh với các quy định hiện hành trong luật.
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội:
4.1.1. Điều kiện tự nhiên:
4.1.1.1. Vị trí địa lý:
Phường Chiềng Sinh là cửa ngõ, trung tâm kinh tế, văn hóa phía Đông Nam
TP Sơn La, địa bàn rộng dân cư đông đúc , là đo thị trẻ đang trên đà phát triển, cơ
cấu kinh tế của phường đã từng bước chuyển dịch quan trọng, đúng hướng, phù
hợp với phát triển của Thành phố theo xu hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Phường có 25 cơ sở, tổ bản trong đó có 8 tổ và 17 bản. Đây là thế mạnh tạo
tiền đề cho nhân dân các dân tộc của phường Chiềng Sinh phát triển trên mọi lĩnh
vực kinh tế, văn hóa, xã hội, Quốc phòng - An ninh với tổng diện tích tự nhiên là
2.266 ha, với vị trí giáp ranh như sau:
+ Phía Bắc và phía Đông : Giáp xã Chiềng Ngần TP Sơn La..
+ Phía Nam : Giáp xã Chiềng Ban, Chiềng Mung huyện Mai Sơn.
+ Phía Tây : Giáp xã Chiềng Cơi, Hua La và phường Quyết Tâm -TP Sơn
La.
Trung tâm phường cách trung tâm TP 10 km. Phường có 8,2 km Quốc lộ 6
chạy dọc địa bàn từ Tây Bắc xuống Đông Nam, có 350 m Quốc lộ 4G đi huyện
Sông Mã chạy qua, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa, phát triển
kinh tế - xã hội của phường.
4.1.1.2. Địa Hình - Địa Mạo:
Phường Chiềng Sinh là phường mới thành lập, thuộc đô thị miền núi, có độ
cao trung bình từ 660 - 854m so với mực nước biển, địa bàn bị chia cắt bởi các dãy
núi đá vôi như: Núi Kéo Ngu Bướm, núi Ngu Lườn, núi Phòng Không, núi Pa Mút,
núi Xam Khá, núi Bọng Nọi ..... Địa hình dốc cục bộ nhiều, đi lại giữa các bản còn
- Núi đá vôi: 360 ha, chiếm 15,92% diện tích tự nhiên tập trung chủ yếu ở
các dãy núi bao quanh các thung lũng, một phần được khai thác sản xuất vật liệu
xây dựng và làm đường giao thông.
Hậu hết các loại đất ở phường Chiềng Sinh phù hợp với nhiều loại cây trồng
khác nhau song phần lớn diện tích đất đang bị suy thoái do thảm thực vật bị tàn
phá, đát bị sói mòn, rửa trôi và tập quán canh tác lạc hậu, quảng canh bóc lột đất.
Do vậy trong thời gian tới cần đầu tư thâm canh, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất nông nghiệp nhất là biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp nhằm
bảo vệ đất để sử dụng đất có hiệu quả lâu dài.
b,Tài nguyên nước:
Hầu hết nhân dân trong phường sử dụng nước máy và các mó nước tự
nhiên làm nước sinh hoạt, nước sản xuất chủ yếu dựa vào nước mưa để phục vụ
sản xuất do diện tích ao hồ và nguồn nước tự nhiên do địa bàn rồng diện tích ao hồ
và đập chứa kém , kênh tưới bị hư hỏng xuống cấp nên việc khai thác đưa vào sử
dụng cho sinh hoạt và sản xuất rất khó khăn.
c,Tài nguyên rừng
Nguồn tài nguyên rừng của phường không còn nhiều. Tập đoàn cây rừng tự
nhiên hiện chủ yêu là còn cây gỗ tạp như: Dùng, kháo, dẻ, cây bụi lùm bụi, cỏ..
diện tích rừng hiện còn 636,1 ha, độ che phủ rừng đạt 28,13%. Hiện tại rừng của
phường chủ yếu là rừng phục hồi trữ lượng nghèo, rừng tre mạy lay vằng hỗn giao.
Thảm thực vật tự nhiên còn lại thưa thớt, phân bố không đồng đều trên địa bàn
phường. Những năm gần đây các dự án khoanh nuôi bảo vệ, trồng rừng kinh tế
đang phát huy hiệu quả rừng đang dần được phục hồi. Trên địa bàn phường hiện có
20 ha rừng trông có tính đặc dụng, đó là khu vườn thực nghiệm đang khảo nghiệm
một số nguồn gen thực vật quý và cũng là điểm tham quan du lịch sinh thái, nghiên
cứu khoa học.
d, Tài nguyên nhân văn:
Phường Chiềng Sinh có nền văn hoá lâu đời mang đậm bản sắc văn hoá của
2011
2013
9.690 9,810 10,302 10,640 11,013