BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng
đất tại xã Phúc Trạch huyện Bố Trạch ,
tĩnh Quảng Bình giai đoạn 2005 - 2009
1
MỤC LỤC
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài sản quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố
các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh,
quốc phòng…Đối với nước ta, Đảng ta đã khẳng định: Đất đai thuộc sở
2
hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và
thống nhất quản lý.
Trong những năm gần đây, cùng với sự gia tăng dân số, quá trình đô thị
hoá và công nghiệp hoá tăng nhanh đã làm cho nhu cầu sử dụng đất ngày một
tăng cao, trong khi đó tài nguyên đất là hữu hạn. Vì vậy, vần đề đặt ra đối với
Đảng và nhà nước ta là làm thế nào để sử dụng một cách tiết kiệm, hiệu quả
và bền vững nguồn tài nguyên đất đai.
Trước yêu cầu bức thiết đó Nhà nước đã sớm ra các văn bản pháp luật quy
định quản lý và sử dụng đất đai như: Hiến pháp năm 1992 nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, luật đất đai 2003, Nghị định 181/2004/NĐ_CP ngày
29/10/2004 của chính phủ về việc thi hành luật đất đai năm 2003, Nghị định
188/CP về xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất đai được ban hành ngày 29 tháng
10 năm 2004, Thông tư 29 về hướng dẫn lập, chỉnh lý và quản lý hồ sơ địa
chính ngày 01 tháng 11 năm 2004…
Trong giai đoạn hiện nay, đất đai đang là một vấn đề hết sức nóng bỏng.
Quá trình phát triển kinh tế xã hội đã làm cho nhu cầu sử dụng đất ngày càng
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Khái niệm của đất đai
Đất đai về mặt thuật ngữ khoa học được hiểu theo nghĩa như sau: đất đai là
một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi
trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ
nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (sông suối hồ, đầm lầy,…) các lớp trầm tích
sát bề mặt cùng với các mạch nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập
đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả
của con người trong quá khứ và hiện tại để lại.
Như vậy đất đai là một khoảng không gian giới hạn theo chiều thẳng đứng
và theo chiều nằm ngang có vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với
hoạt động sản xuất cũng như trong cuộc sống của xã hội loài người
2.1.2. Các nhân tố tác động đến việc sử dụng đất
- Con người: Là nhân tố chi phối chủ yếu trong quá trình sử dụng đất. Đối
với đất nông nghiệp thì con người có vai trò rất quan trọng tác động đến đất
làm tăng độ phì của đất.
- Điều kiện tự nhiên: Việc sử dụng phù hợp với điều kiện tự nhiên của
vùng như: địa hình, thổ nhưỡng, ánh sáng, lượng mưa…Do đó chúng ta
phải xem xét điều kiện tự nhiên của mỗi vùng để có biện pháp bố trí sử
dụng đất phù hợp.
- Nhân tố kinh tế xã hội: Bao gồm chế độ xã hội, dân số, lao động, chính
sách đất đai, cơ cấu kinh tế…Đây là nhóm nhân tố chủ đạo và có ý nghĩa đối
với việc sử dụng đất bởi vì phương hướng sử dụng đất thường được quyết
định bởi yêu cầu xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định, điều
kiện kỹ thuật hiện có, tính khả thi, tính hợp lý, nhu cầu của thị trường.
- Nhân tố không gian: Đây là một trong những nhân tố hạn chế của việc sử
dụng đất mà nguyên nhân là do vị trí và không gian của đất không thay đổi
trong quá trình sử dụng đất. Trong khi đất đai là điều kiện không gian cho
mọi hoạt động sản xuất mà tài nguyên đất thì lại có hạn; bởi vậy đây là nhân
- Mục đích
+ Bảo vệ quyền sở hữu của nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền lợi hợp
pháp của người sử dụng.
6
+ Bảo đảm sử dụng vốn đất hợp lý của nhà nước.
+ Tăng cường hiệu quả kinh tế sử dụng đất.
+ Bảo vệ đất, cải tạo đất và bảo vệ môi trường sống.
- Yêu cầu
Phải đăng ký thống kê đất để nhà nước nắm chắc được toàn bộ diện tích,
chất lượng đất đai ở mỗi đơn vị hành chính từ cơ sở đến trung ương.
2.3.1.3. Nguyên tắc quản lý nhà nước về đất đai.
Đối tượng quản lý đất đai là tài nguyên đất đai cho nên quản lý Nhà nước
về đất đai phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Phải quản lý toàn bộ vốn đất đai hiện có của quốc gia, không được quản
lý lẻ tẻ từng vùng.
- Nội dung tài liệu quản lý không phụ thuộc vào mục đích sử dụng.
- Số liệu quản lý đất đai phải bao hàm cả số lượng, chất lượng, loại, hạng
phục vụ cho mục đích sử dụng của loại đó.
- Quản lý đất đai phải thể hiện theo hệ thống và phương pháp thống nhất
trong toàn quốc.
- Những quy định biểu mẫu phải được thống nhất trong cả nước, trong
ngành địa chính.
- Số liệu so sánh không chỉ theo từng đơn vị nhỏ mà phải được thống nhất
so sánh trong cả nước.
- Tài liệu trong quản lý phải đơn giản phổ thông trong cả nước.
- Những điều kiện riêng biệt của từng địa phương, cơ sở phải phản
ánh được.
- Những điều kiện riêng biệt phải được tổng hợp ở phần phụ lục để nhà
nước đầu tư cái chung và cái riêng của mỗi vùng.
- Quản lý đất đai phải khách quan chính xác, đúng những kết quả số liệu
- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
- Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Thống kê, kiểm kê đất đai
- Quản lý tài chính về đất đai
- Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất
động sản.
- Quản lý và giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
- Thanh tra kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai
và xử lý các vi phạm pháp luật về đất đai.
8
- Giải quyết các tranh chấp về đất đai, giải quyết khiếu nại tố cáo các vi
phạm trong việc quản lý và sử dụng đất.
- Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai
2.4. Cơ sở pháp lý
Dựa trên hệ thống luật đất đai, văn bản dưới luật là cơ sở vững nhất.
Hệ thống văn bản pháp luật về đất đai bao gồm:
- Luật đất đai năm 2003.
- Hiến pháp 1992.
- Nghị định 181/2004/NĐ_CP ngày 29/10/2004 của chính phủ về việc thi
hành luật đất đai năm 2003.
- Nghị định 188/CP về xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất đai được ban hành
ngày 29 tháng 10 năm 2004.
- Thông tư 29 về hướng dẫn lập, chỉnh lý và quản lý hồ sơ địa chính ngày
01 tháng 11 năm 2004.
- Chỉ thị số 05/2004/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 15 tháng 07
năm 2004 về thi hành luật đất đai năm 2003.
- Căn cứ vào số liệu, tài liệu về thống kê, kiểm kê đất của phường
qua các năm.
- Căn cứ vào phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội,
quản lý và sử dụng đất đai. Tháng 11/1953 hội nghị lần thứ V của ban chấp
hành trung ương Đảng thông qua cương lĩnh ruộng đất và quyết định cải cách
ruộng đất, tịch thu, trưng mua, trưng thu ruộng đất của địa chủ để chia cho
dân nghèo, đến khoảng 1956 đã hoàn thành cải cách ruộng đất. Như vậy với
chính sách đó đã đem lại ruộng đất cho nông dân, xoá bỏ giai cấp địa chủ đã
có hàng nghìn năm. Tuy nhiên công tác này gặp phải những sai lầm nhất định
và hậu quả để lại của nó là nạn đói hoành hành, đất đai bị hoang hoá.
Để ổn định tình trạng sử dụng đất ở nông thôn chính phủ đã ban hành chỉ
thị 354/TTg trong đó có việc hợp thức hoá nông nghiệp, người dân làm ăn
theo công điểm. Nhưng hiệu quả không cao, nông sản làm ra không đủ ăn, đời
sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn. Để giải quyết tình trạng trên Nhà
nước đã ban hành nghị quyết khoán mười (nghị quyết 10-NQ/TW). Sau khi
nghị quyết này ra đời đã kích thích tính chủ động sáng tạo của người dân,
người dân hăng hái tham gia sản xuất.
10
Hiến pháp năm 1960 đã xác lập quyền sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và
sở hữu tư nhân về đất đai.
Hiến pháp năm 1980 ra đời, quy định: Nhà nước là chủ sở hữu toàn bộ đất
đai, nhà nước thống nhất quản lý.
Năm 1987 luật đất đai đầu tiên ra đời mở ra bước ngoặc mới cho công tác
quản lý và sử dụng đất nước ta. Tiếp theo đó là các thông tư nghị định của các
bộ ban hành nhằm điều chỉnh, hướng dẫn những chính sách đất đai của Nhà
nước: Thông tư liên bộ số 05-TT/LB ngày 18/12/1991 của bộ thuỷ sản và
tổng cục quản lý ruộng đất hướng dẫn giao những ao nhỏ, mương rạch nằm
gọn trong đất thổ cư cho hộ gia đình và ao lớn, hồ lớn thì giao cho một nhóm
hộ gia đình sử dụng; quyết định số 327/CT của hội đồng bộ trưởng ngày
15/7/1992 về thực hiện chính sách giao ruộng đất, đồi núi trọc, ruộng bãi bồi,
ven biển và mặt nước cho hộ gia đình sử dụng.
Đến năm 1992 luật đất đai tiếp tục bổ sung, sửa đổi nhằm đáp ứng nhu cầu
sử dụng đất trong thời kỳ đổi mới.
hiện, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất lâm nghiệp còn chậm; cán bộ địa chính chưa đáp ứng nhu
cầu nên công tác tham mưu giúp UBND xã thực hiện chức năng quản lý Nhà
nước về đất đai còn nhiều bất cập dẫn đến việc khai thác tiềm năng đất đai
cũng như việc sử dụng các loại đất mang lại hiệu quả không cao.
12
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu.
- Công tác quản lý nhà nước về đất đai của xã Phúc Trạch
- Toàn bộ quỹ đất của xã Phúc Trạch
- Các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội liên quan đến quá trình sử dụng đất
trên địa bàn xã
3.2. Phạm vi nghiên cứu.
- Không gian: Đề tài được thực hiện tại xã Phúc Trạch, huyện Bố Trạch,
tỉnh Quảng Bình
- Thời gian: trong giai đoạn 2005-2009.
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Đánh giá các điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của xã Phúc Trạch trong
giai đoạn từ 2005-2009.
3.3.2. Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai của xã Phúc Trạch giai
đoạn 2005-2009
3.3.3. Đánh giá tình hình sử dụng đất của xã Phúc Trạch giai đoạn 2005-
2009.
3.3.4. Đề xuất một số giải pháp tăng cường hiệu quả công tác quản lý và sử
dụng đất.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
- Điều tra thu thập số liệu.
- Điều tra thực địa, khảo sát thực tế đối chiếu số liệu.
đây gọi là Khe Ngang ), Phúc Đồng (trước đây gọi là Troóc ), Thanh Sen và
Chày Lập.
14
4.1.1.3. Điều kiện khí hậu, thuỷ văn:
* Khí hậu
Phúc Trạch có chế độ khí hậu phức tạp, mang tính khí hậu nhiệt đới nóng
ẩm, mưa nhiều song phân bố không đều giữa các tháng trong năm. Khí hậu
được chia làm 2 mùa là mùa đông và mùa hè, ngoài ra còn chịu ảnh hưởng
của gió Tây Nam (gió Lào).
- Nhiệt độ bình quân hàng năm từ 23 - 24
0
C, nhiệt độ cao nhất trong
năm là 40 - 41
0
C (tháng 7) và nhiệt độ thấp nhất trong năm là 12
0
C(tháng 1).
- Số giờ nắng trung bình trong năm khoảng 1500 - 1700 giờ. Các tháng có
nắng nhiều là tháng 5, 6, 7 bình quân tới 7 đến 8 giờ\ngày, tháng ít nắng nhất
là tháng 2 bình quân có 1,6 giờ\ngày.
- Lượng mưa bình quân hàng năm là 1879 mm, tập trung chủ yếu vào
tháng 3, thời gian từ tháng 8 đến tháng 10 lượng mưa bình quân trên
1000mm, chiếm 60% lượng mưa cả năm.
- Chế độ gió hàng năm chịu ảnh hưởng lớn của 2 hướng chính là gió Tây
Nam và gió mùa Đông Bắc
- Độ ẩm không khí bình quân 85% , tháng có độ ẩm thấp nhất là 50%
(tháng 6, tháng 7), tháng có độ ẩm cao nhất là 95% (tháng 10, tháng 11).
* Thuỷ văn
Trên địa bàn xã có nhiều nhánh sông suối nhỏ đổ vào nhưng nguồn cung
cấp nước chủ yếu cho sản xuất và sinh hoạt là sông Chày cung cấp cho khu
327 hay 661. Do diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp và phần lớn là rừng mới
trồng nên khả năng che phủ và chống xói mòn vẫn chưa được tốt lắm, chất
lượng rừng vẫn ở mức trung bình do chưa được đầu tư thâm canh cao
* Tài nguyên khoáng sản
Phúc Trạch là xã với hơn 3/4 diện tích là đồi núi và đá vôi nên trữ lượng
đá vôi trên địa bàn xã khá lớn là nguồn cung cấp vật liệu lớn cho ngành xây
dựng, ngoài ra còn có một số trữ lượng mỏ sắt tương đối lớn chuẩn bị đưa vào
khai thác và đây có thể là nguồn thu lớn cho ngân sách xã trong tương lai.
* Môi trường cảnh quan
Phúc Trạch có môi trường tự nhiên tương đối sạch, tuy vậy nơi đây tập
trung một số điều kiện bất lợi về thời tiết, khí hậu cùng với sự ảnh hưởng của
hệ thống giao thông nên môi trường ít nhiều bị ảnh hưởng. Là một xã sản xuất
nông nghiệp là chủ yếu, cơ giới hoá vẫn chưa phát triển lắm, tiểu thủ công
nghiệp có quy mô nhỏ và phân tán nên chất lượng không khí còn khá sạch.
16
Những năm gần đây quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ cùng với nhịp
độ phát triển kinh tế - xã hội ngày một tăng nên cảnh quan môi trường củng
được quan tâm đáng kể, hệ thống cây xanh được trồng theo đúng quy định để
tạo môi trường xanh sạch đẹp cho toàn xã.
4.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội
4.1.2.1. Thực trạng phát triển các ngành nghề
* Nông nghiệp
Sản xuất năm 2009 gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của những yếu tố
khách quan như: giá cả hàng hoá, vật tư tăng nhanh, thời tiết…đã làm ảnh
hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên được sự quan tâm của Đảng và
các ban ngành đã chỉ đạo tốt chuyển đổi giống cây trồng vật nuôi, phòng
chống dịch lở mồm long móng ở trâu, bò; làm tốt công tác khuyến nông, ứng
dụng kịp thời các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi. Tổng
diện tích gieo trồng cả năm: 997.24 ha, trong đó vụ đông xuân 499.53 ha, vụ
hè thu, vụ 8, vụ 10: 497.71 ha, chuyển đổi 100% giống Ngô năng suất bình
vịt ,dê; vườn + ao + chuồng + rừng đang khôi phục, mở rộng và phát triển.
* Lâm nghiệp
Tổng diện tích đất lâm nghiệp hiện tại trên địa bàn là 3487.87 ha chiếm
tổng diện tích đất tự nhiên của xã. Xã đã hoàn thành việc đo đạc lại toàn bộ
diện tích đất rừng và làm thủ tục đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất rừng cho nhân dân gồm 405 hộ, diện tích 1654.09 ha. Rừng trồng chủ yếu
là cây tràm hoa vàng, keo, bạch đàn và thông. Trong những năm gần đây,
thấy được lợi ích to lớn về kinh tế và môi trường mà rừng mang lại. Công tác
giao đất giao rừng ngày càng được chú trọng. Bên cạnh đó được sự hỗ trợ của
các dự án và các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước. Nên người dân hăng
hái nhận rừng sản xuất. Đến nay, hầu hết diện tích rừng được phủ xanh. Tạo
công việc và nguồn thu nhập ổn định cho người dân.
* Tiểu thủ công nghiệp và xây dựng
Đây là ngành có vai trò quan trọng đối với người dân ở địa phương. Nó
giải quyết được công nhàn rỗi của nông dân trong lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp, tăng nguồn thu nhập. Tạo điều kiện trong việc chuyển dịch kinh tế
của địa phương.
Tiểu thủ công nghiệp chủ yếu là xay xát gạo, ngô, ép dầu lạc, đan lát,làm
gạch, bờ lô, xây dựng, bên cạnh đó nghề mộc hiện nay cũng tương đối phát
triển. Tuy nhiên chỉ hình thành ở quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu là hộ gia đình. Chưa
có tính tập trung, chuyên môn hoá. Nên sản phẩm ít, chất lương không cao,
khó cạnh tranh.
18
Ngành xây dựng trong những năm gần đây cũng phát triển mạnh. Trên địa
bàn xã có các tài nguyên khoáng sản như: sét, đá vôi cung cấp nguyên liệu cho
ngành xây dựng. ngoài ra trên dịa bàn xã còn có mỏ sắt trữ lượng khá lơn và
chuẩn bị đưa vào khai thác trong những năm tới.
* Dịch vụ
Các loại hình dịch vụ vận chuyển, kinh doanh các mặt hàng ăn uống, dịch
vụ thương mại chợ, quầy tạp hoá,… ngày càng phát triển.
cấp phối, với tổng chiều dài 6.5km.
- Tuyến đường Troóc – Thanh Sen – Chày Lập rộng 5m, kết cấu là bê tông
và nhựa, với tổng chiều dài 3km.
- Giao thông nội đồng khu vực Phúc khê khoảng 4.5km, rộng 3m.
- Giao thông nội đồng khu vực Phúc Đồng khoảng 3.8km, rộng 3m.
- Giao thông nội đồng khu vực Thanh Sen – Chày Lập khoảng 5km, rộng
3m.
* Thuỷ lợi
Trên địa bàn xã đã xây dựng 1trạm bơm điện ở khu vực Chày Lập và 2 hồ
chứa chứa nước ở Phúc Khê với trên 15.2 km kênh mương thuỷ lợi cung cấp
nước cho hơn 9 thôn để phục vụ sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Nhìn
chung hệ thống thuỷ lợi chưa được đầu tư hoàn thiện để tưới tiêu phục vụ sản
xuất, hệ thống kênh mương chưa hoàn toàn được bê tông hoá và nhiều nơi đã
xuống cấp làm ảnh hưởng lớn đến việc tưới tiêu phục vụ sản suất.
* Hệ thồng điện và thông tin kiên lạc
- Hiện nay tỷ lệ hộ dùng điện là 98.5%. Tuy nhiên do hệ thống điện được
xây dựng từ năm 1998 -2000, phần lớn cột điện bằng gỗ nên hiện nay mạng
lưới điện đang xuống cấp không đảm bảo an toàn cũng như không ổn định về
điện áp. Trong năm vừa qua và 2010 sẽ tiến hành sữa chữa, thay mới cột và
xây dựng nhiều tuyến điện để phục vụ cho người dân.
- Trên địa bàn xã có 1 trạm bưu điện khang trang phục vụ thông tin liên lạc
cho nhân dân toàn xã.Những năm gần đây với sự ra đời của máy điện thoại
không dây thì hiện nay trên địa bàn xã hầu như có đến 85 – 95% các hộ gia
đình đã có máy điện thoại, giúp cho người dân thuận tiện trong việc liên lạc
và phục vụ đắc lực cho buôn bán, sản xuất và kinh doanh. Tất cả các thôn
trong xã đều có hệ thống loa phát thanh để truyền đạt cho người dân nắm bắt
được khoa học kỹ thuật và cung cấp thông tin về sản xuất nông nghiệp.
4.2.1.4. Hạ tầng xã hội.
- Giáo dục và y tế
20
Toàn xã có 1 sân bóng đá, 1 sân bóng chuyền. Hàng năm xã thường tổ
chức các hoạt động văn hoá - thể thao phục vụ các sự kiện chính trị của dân
21
tộc như mừng Đảng, mừng Xuân, quốc khánh, thành lập đoàn…và các lể hội
của làng xã trong năm. Chỉ đạo tốt việc xây dựng gia đình văn hoá, gia đình
thể thao, đảm bảo các hoạt động văn hoá xã hội trên địa bàn xã phát triển lành
mạnh đúng pháp luật.
- Quốc phòng – An ninh.
Thực hiện tốt nhiệm vụ sẳn sàng chiến đấu, phòng chống bảo lụt; đăng ký
độ tuổi 17 đạt 100%, khám tuyển, tuyển quân vượt chỉ tiêu, không có quân
nhân đào ngũ, tổ chức giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự theo mệnh lệnh
của cấp trên. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản ổn định,
các vụ việc xảy ra đã giải quyết kịp thời góp phần đem lại trật tự, an toàn cho
người dân.
4.1.3. Đánh giá chung điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Phúc Trạch
4.1.3.1. Thuận lợi
Phúc Trạch nằm trong vành đai của rừng quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng,
và là khu vực trung tâm của 3 xã Phúc Trạch, Lâm Trạch và Xuân Trạch nên
xã có điều kiện giao lưu văn hoá, kinh tế - chính trị, học hỏi kinh nghiệm sản
xuất, và là thị trường lớn các loại hàng hoá nông sản. Đây là điều kiện thuận
lợi để phát triển kinh tế xã hội.
- Diện tích đất màu khá lớn, có thị trường tiêu thụ rất thích hợp cho việc
phát triển các loại cây màu như: ngô, khoai, sắn, lạc…
- Chợ Troóc là chợ trung tâm của các xã lân cận nên có nhiều điều kiện để
phát triển các loại hình dịch vụ, buôn bán.
- Xã có hệ thống thuỷ lợi, kênh mương đảm bảo cho việc tưới tiêu thuận
lợi để phát triển nông nghiệp.
- Lực lượng lao động lớn có kinh nghiệm sản xuất nông lâm nghiệp. Là
điều kiện để khai thác, phát huy hết các tiềm năng của địa phương.
- Giao thông thuận lợi, xã có 2 nhánh Đông – Tây của đường mòn Hồ Chí
Là đơn vị hành chính nhỏ nhất của bộ máy nhà nước. UBND xã là nơi trực
tiếp triển khai thực hiện các văn bản pháp luật của nhà nước. Vì vậy, Uỷ Ban
xã đã áp dụng và thực hiện đúng các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai.
Ngoài ra còn tuyên truyền phổ biến nội dung các văn bản pháp luật về đất đai
đến người sử dụng biết và thực hiện.
23
Việc cập nhật các văn bản mới thường xuyên được thực hiện và áp dụng
kịp thời. Nên công tác quản lý về đất đai ngày càng chặt chẽ và phù hợp với
thực tế hơn.
Trong giai đoạn 2005-2009, UBND xã đã triển khai thực hiện nhiều văn
bản pháp luật về đất đai nằm trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của
UBND huyện Bố Trạch và UBND tỉnh Quảng Bình
Tuy nhiên do quá trình phát triển kinh tế xã hội, nhu cầu về đất đai đa
dạng. Số lượng các văn bản pháp luật về đất đai lớn, và thường xuyên được
bổ sung, sửa đổi. Năng lực và trình độ cán bộ địa chính còn hạn chế nên công
tác quản lý còn gặp một số khó khăn nhất định.
4.2.2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ hành chính,
lập bản đồ hành chính.
Địa giới hành chính của xã được xác định rõ ràng với các xã lân cận khác.
Nên tránh được hiện tượng tranh chấp ranh giới giữa các đơn vị hành chính
khác. Tạo điều kiện cho người dân yên tâm sản xuất phát triển kinh tế, chính
trị xã hội được đảm bảo ổn định.
Tổng chiều dài tuyến địa giới hành chính là 51187m trong đó với xã Lâm
Trạch là 8835m, với xã Liên Trạch là 4245m, với xã Hưng Trạch là 2042m và
với xã Sơn Trạch là 16590m, với xã thượng Trạch là 8660m và xã Xuân
Trạch là 10815m
Hiện nay xã đang quản lý và sử dụng bản đồ địa chính với tỷ lệ 1/2000,
gồm 46 tờ. Là cơ sở để giải quyết tranh chấp đất đai giữa các hộ gia đình, đối
tượng sử dụng đất.
4.2.3. Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính,
nghiệp sẽ giảm. Những diện tích đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây hàng
năm khác và một số diện tích đất trồng cây lâu năm có chất lượng kém, năng
suất thấp sẽ được chuyển sang đất ở, đất sản xuất kinh doanh hoặc các mục
đích sử dụng khác. Diện tích đất phi nông nghiệp tăng, trong đó đáng chú ý
nhất là sự tăng lên của quỷ đất ở, đất sản xuất kinh doanh, đất công cộng.
Dưới áp lực của sự gia tăng dân số thì nhu cầu về đất ở ngày một tăng cao.
Nên theo kế hoạch đến năm 2015 diện tích đất ở tăng thêm 10 ha để có thể
đáp ứng đủ nhu cầu đất ở cho người dân, diện tích đất sản xuất kinh doanh phi
nông nghiệp tăng 7 ha so với năm 2009. Diện tích đất chưa sử dụng giảm từ
1077.65 ha năm 2008 xuống còn 1067.65 ha năm 2015. Để tận dụng tối đa tài
nguyên đất của xã theo kế hoạch 10 ha đất chưa sử dụng sẽ được chuyển sang
sử dụng cho các mục đích khác.
25