Phần 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Kinh tế tri thức là một khái niệm mới, về nội hàm, kinh tế tri thức phản
ánh một trình độ rất cao trong các nấc thang phát triển kinh tế của loài người.
Hiện nay xu hướng phát triển kinh tế tri thức đang tác động ngày càng sâu rộng
trên mọi khía cạnh, lĩnh vực của đời sống nhân loại; có thể nói kinh tế tri thức
vừa là mục tiêu vừa là xu thế phát triển tất yếu của xã hội loài người trong
tương lai gần. Kinh tế tri thức được xác định chính là cánh cửa mở ra cho các
nền kinh tế đang phát triển tiếp cận và rút ngắn khoảng cách với các nước phát
triển nếu biết đón bắt và tận dụng cơ hội. Ngược lại, kinh tế tri thức cũng tạo ra
thách thức lớn hơn bao giờ hết đối với các nước đang phát triển, đó là nguy cơ
tụt hậu, đó là khoảng cách ngày càng gia tăng về trình độ phát triển với các
nước phát triển.Trong bối cảnh đó ở nước ta, sau nhiều tranh luận, đã có sự nhất
trí xây dựng nền kinh tế theo hướng tri thức hóa dần các công đoạn của quá
trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã
hội, và phát triển kinh tế tri thức ở nước ta đã được khẳng định tại các Báo cáo
Chính trị của Đảng lần thứ IX, X, XI.
Trong chiến lược phát triển nền kinh tế theo mô hình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa rút ngắn của vài thập niên tới, làm cho nhiệm vụ xây dựng chương
trình hành động nhằm hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức của Việt Nam
trở nên đặc biệt cấp bách, thậm chí là rất gay gắt. Hơn nữa, trong Nghị quyết
hội nghị lần thứ 2 ban chấp hành Trung Ương khoá I VIII đã xác định rõ "Công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải bằng và dựa vào khoa học công nghệ",
"khoa học công nghệ phải trở thành nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa,
hiện đại hóa". Đến đại hội IX của Đảng điều này lại được khẳng định lại một
lần nữa, "phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam,
coi sự phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và
động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa".,Mặc dù đó còn là thách
thức lớn đối với nước ta, song cơ hội lớn cũng nằm trong thách thức đó Vì thế
tôi đã chọn đề tài: “ VAI TRÒ CỦA NỀN KINH TẾ TRI THỨC ĐỐI VỚI
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM” để
kiện của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước.
2
Phần 2: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ TRI THỨC
1.1. Khái niệm nền kinh tế tri thức:
Trước hết, nói kinh tế tri thức không phải là nói một hình thái kinh tế mới
của xã hội, mà là nói về lực lượng sản xuất mới của xã hội
Tuy nhiên, một nền kinh tế tri thức cụ thể nào đó đều phải thuộc một hình
thái kinh tế xã hội nhất định, như nền kinh tế tri thức đang bắt đầu hình thành ở
Bắc Mỹ, Nhật Bản và một số nước Tây Âu không thể không phụ thuộc vào cơ
sở hạ tầng của hình thái kinh tế tri thức tư bản chủ nghĩa ở các nước đó. Các
nước đang hoàn thành thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cũng không vì xây
dựng kinh tế tri thức mà từ bỏ định hướng xã hội chủ nghĩa.
Căn cứ vào thực tiễn thế giới, đặc biệt là ở những nước nền kinh tế tri
thức đã bắt đầu hình thành như đã nói trên, các nhà khoa học đưa ra một số định
nghĩa về Kinh tế tri thức ở Việt Nam, giáo sư Đặng Hữu đã định nghĩa như sau:
“Kinh tế tri thức là một nền kinh tế trong đó, sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng
tri thức giữu vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của
cải, nâng cao chất lượng cuộc sống”.
Ngoài ra, kinh tế tri thức còn có thể được biểu hiểu là biểu hiện hay xu
hướng của nền kinh tế hiện đại, trong đó tri thức, lao động chất xám được phát
huy khả năng sinh lợi của nó và mang lại hiệu quả kinh tế lớn lao trong tất cả
các ngành kinh tế: công nghiệp, nông – lâm – ngư nghiệp và dchj vụ, phục vu.
cho phát triển kinh tế. Từ đó, nền kinh tế tri thức được hiểu là nền kinh tế chủ
yếu dưa trên cơ sở tri thức, khoa học; dựa trên việc tạo ra và sang tạo tri thức,
phản ánh sự phá triển của lực lượng sản xuất ở trình độ cao.Tổ chức hợp tác và
phát triển kinh tế ( OCED ) đưa ra khái niệm năm 1995: “ Nền kinh tế tri thức
và nền kinh tế trong đó sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò
quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất
lượng cuộc sống”.
động của con người đều có sự tác động của thông tin.
4. Dân chủ hóa được thúc đẩy vì mọi người đều dễ dàng truy cập thông
tin mà mình cần. Mọi người dân đều có thể biết được các chủ trương, chính
sách một cách chính xác, kịp thời. Các cơ quan chức năng không thể hoạt động
trái luật. Mối liên kết giữa chính quyền và người dân bền vững.
5. Về giáo dục và đào tạo (đầu tư cho con người): được đầu tư cao hơn
hẳn so với các dự án đầu tư về cơ sở vật chất (nhà máy, công xưởng, khai thác
nguyên nhiên liệu ). Mọi người học tập thường xuyên bằng các loại hình đào
tạo đa dạng: học ở trường, học từ xa, học trên mạng thông tin.
6. Tri thức trở thành vốn quý nhất và là nguồn lực hàng đầu để tăng
trưởng. Vốn tri thức không giống như các loại vốn vật chất khác (máy móc,
tiền, vàng ) dễ hư hao hoặc mất đi khi sử dụng, tri thức và thông tin dễ chuyển
giao và chia sẻ.
4
7. Chu kỳ đổi mới của xã hội ngày càng ngắn, càng nhanh, năng lực sáng
tạo của con người mở ra vô tận. Công nghệ đổi mới rất nhanh, có khi chỉ tính
từng ngày, từng tháng. Vì vậy, các doanh nghiệp muốn tồn tại phải luôn đi tìm
công nghệ mới và phải luôn đổi mới công nghệ và sản phẩm.
8. Các doanh nghiệp vừa phải cạnh tranh, vừa phải hợp tác để phát triển ở
cả trong nước và quốc tế. Triết lý "cả hai cùng có lợi" thấm rộng trong mọi hoạt
động của con người.
9. Các sản phẩm và thị trường ngày càng có tính toàn cầu. Nhiều nước
cùng tham gia vào sản xuất một sản phẩm. Một sản phẩm được tiêu thụ ở nhiều
thị trường nhiều nước.
10. Dù xu hướng thông tin, tri thức mang tính toàn cầu hóa nhưng bản sắc
văn hóa dân tộc phải được chú ý giữ gìn để tránh bị hòa tan, để tạo thêm sức
mạnh nội sinh.
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế tri thức với những thách
thức to lớn trước mắt. Chúng ta cần thấy được thời cơ và từng bước tiến vào nền
kinh tế tri thức, san bằng khoảng cách phát triển với thế giới, đưa đất nước tiến
Sự phát triển của kinh tế tri thức dự trên các công nghệ có hàm lượng
khoa hoc kỹ thuật cao, nhất là công nghệ thông tin đã mở ra điều kiện thuận lợi
cho sự đẩy nhanh xu thế toàn cầu hoá, ví dụ như: các công nghệ mới làm tăng
tốc độ giao dịch kinh doanh, rút ngắn khoảng cách về không gian và thời gian.
Công nghệ thông tin đồng thời cũng góp phần nâng cao trình độ dân trí, tạo điều
kiện cho dân chủ phát triển, thúc đẩy nhu cầu mở của, giao lưu hội nhập.
- Nó thúc đẩy nông nghiệp phát triển nhanh thông qua các cuộc cách
mạng, cách mạng xanh, cách mạng sinh học…
- Nó thúc đẩy công nghiệp, không ngừng ra tăng hàm lượng khoa học-kỹ
thuật, công nghệ trong sản phẩm công nghiệp qua đó mà gia tăng giá trị sử
dụng, giá trị trao đổi của sản phẩm công nghiệp.
- Nó thúc đẩy trí nghiệp phát triển ở các ngành dịch vụ, thông tin, thương
mại, tiền tệ,…với nhiều hình thức phong phú.
1.4. Tính tất yếu phải thực hiện nền kinh tế tri thức ở Việt Nam:
Hiện nay kinh tế tri thức là lực lượng sản xuất tiêu biểu cho nền văn minh trí tuệ
- văn minh xã hội XHCN. Vì thế phát triển kinh tế tri thức là con đường tất yếu
để phát triển nước ta.
Theo báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ XI của Đảng đã xác định “phát triển
kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới”. Đây là một trong
những chủ trương có vai trò định hướng rất quan trọng trong chiến lược mới
đến năm 2020.
Ngay từ Đại hội lần thứ IX (2001), Đảng đã xác định: " Kinh tế tri thức có vai
trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất" và xác định
"từng bước phát triển kinh tế tri thức ". Đến Đại hội lần thứ X (2006), Đảng tiếp
tục nhấn mạnh "Đẩy mạnh công nghiệp hóa – hện đại hóa gắn với từng bước
phát triển kinh tế tri thức ".
6
Trong Văn kiện Đại hội lần thứ XI này, Đảng lại có sự phát triển mới về nhận
thức lý luận và thực tiễn thể hiện ở định hướng “phát triển kinh tế tri thức, vươn
lên trình độ tiên tiến của thế giới”. Sự đánh giá đúng đắn vị trí vai trò của kinh
cầu Việt Nam vươn lên được trên trung bình đứng thứ 51 trong 125 nước. Niềm
vui chưa được bao lâu thì đến năm 2012 ta lại tụt sâu xuống nửa dưới của thế
giới, thứ 76 trên 141 nước. Nhìn lại quá trình từ 2007 khi bắt đầu có sự đánh giá
thì tình hình vẫn không khả quan hơn, chẳng những kém cỏi mà xu hướng là
suy giảm liên tục. Sự vươn lên năm 2011 có thể là ngẫu nhiên, không phải là
thực chất như sẽ phân tích về điểm số ở phần dưới. Thứ bậc đơn lẻ chưa nói lên
điều gì nhiều, cần phải có sự so sánh với bạn bè xung quanh thì mới biết ta đang
ở đâu.Chúng ta có thể nhìn thấy qua bảng sau:
Năm Số
nước
Điểm
cao
nhất
Việt Nam Malaysia Singapore Thailand
Điểm Bậ
c
Điể
m
Bậc Điể
m
Bậ
c
Điểm Bậc
200
8
153 5.8 2.38 65 3.47 26 4.1 7 3.01 34
200
9
130 5.28 2.97 64 4.06 25 4.81 5 3.4 44
201
đến và đã mang nhiều tính chất của kinh tế tri thức, và một là nền kinh tế hỗn
hợp còn mang ít tính chất của kinh tế tri thức. Sự nhiều ít này được nhìn nhận
theo mức độ ảnh hưởng và chi phối của tri thức trong các hoạt động kinh tế.
Ta có thể thấy qua bảng sau:
Việt Nam (2007) Nhật Bản (2007)
Ngành kinh tế
Đóng
góp
cho GDP
Ngành kinh tế
Đóng
góp
cho GDP
Nông, lâm nghiệp, thủy
hải sản
20,34% Nông, lâm nghiệp, thủy
hải sản
0.9%
Công nghiệp (chế biến,
khai mỏ)
41,48% Công nghiệp (chế tạo) 28,9%
Thương mại, dịch vụ, du
lịch, (tài chính, tín dụng)
38,18% Thương mại, dịch vụ, du
lịch, (dịch vụ)
70,8%
Bảng 3. So sánh đóng góp vào GDP của Việt Nam và Nhật Bản theo
các ngành kinh tế (phần trong dấu ngoặc là nội dung của một vài lĩnh vực).
Bảng 3 tóm tắt các số liệu tổng hợp về đóng góp cho tổng thu nhập quốc
dân năm 2007 theo ba ngành kinh tế của Việt Nam và Nhật Bản. Các số liệu
nghiên cứu phải hợp tác với nước ngoài và vì xuất khẩu hàng hóa kĩ thuật cao ở
mức thấp nhất trong vùng.
Năm 2020 được xem là thời điểm đến đích của sự nghiệp công nghiệp
hóa đất nước của Việt Nam, tức chỉ còn bảy năm (tính từ năm 2013). Đại hội
Đảng XI mới đây cũng nhấn mạnh đến “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường”.
Vậy thì vói vị trí hiện nay như vây, mục tiêu cao cả đó có thể hoàn thành được
không nếu không có một cuộc cách mạng trong khoa học và công nghệ?
10
2.2. Vai trò của nền kinh tế tri thức đối với phát triển công nghiệp
hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam:
Kinh tế tri thức có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tiến hành
hiện đại hoá - công nghiệp hoá đất nước. Nước ta hiện nay cần phải xây dựng
một nền kinh tế vững chắc song song với quá tŕnh hiện đại hoá - công nghiệp
hoá đất nước. Từ những năm 80 đến nay, do tác động mạnh mẽ của cuộc cách
mạng khoa học công nghệ và hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, công
nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ năng lượng… nền kinh tế thế giới
đang biến đổi một cách sâu sắc, nhanh chóng về cơ cấu, chức năng và phương
thức hoạt động. Đây không phải là một sự biến đổi bình thường mà là một bước
ngoặc lịch sử có ý nghĩa trọng đại: nền kinh tế chuyển từ kinh tế công nghiệp
sang kinh tế tri thức, nền văn minh loài người chuyển từ văn minh công nghiệp
sang văn minh trí tuệ. Những năm gần đây nhiều công tŕnh nghiên cứu, nhiều
hội nghị, nhiều hội thảo quốc tế và trong nhièu văn bản chiến lược của nhiều tên
gọi khác nhau nhưng nền kinh tế tri thức là tên gọi thường dùng nhất, tên gọi
này nói lên được nội dung cốt lõi của nền kinh tế mới. Chính vì vậy nước ta cần
phải đặc biệt chú ý đến vai trò quan trọng của nền kinh tế tri thức trong quá tŕnh
tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước đưa nền kinh tế nước nhà bắt
kịp và phát triển cùng thế giới.
Cụ thể hơn về vai trò của nền kinh tế tri thức đối với sự phát triển công
nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam:
học và công nghệ từng bước phát triển kinh tế tri thức”.
Ví dụ: Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, năm 2012, chỉ số sản xuất công
nghiệp tăng 4,8% so với năm 2011, trong đó công nghiệp khai khoáng tăng
3,5%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,5%; sản xuất, phân phối điện, khí
đốt tăng 12,3%; cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải tăng 8,4%.
Một số ngành công nghiệp có mức sản xuất tăng cao so với năm 2011 là: Đóng
tàu và cấu kiện nổi tăng 136,7%; sản xuất thiết bị truyền thông tăng 48,3%; sản
xuất phụ tùng và bộ phận phụ trợ tăng 39,6%; sản xuất linh kiện điện tử tăng
23,7%; sản xuất đường tăng 17,7%; sản xuất, truyền tải và phân phối điện tăng
12,3%; khai thác dầu thô tăng 9,8%; sản xuất phân bón và hợp chất nitơ tăng
9,7%; sản xuất bia tăng 9,7%. Một số ngành có mức tăng khá là: Khai thác, xử
lý và cung cấp nước tăng 8,8%; sản xuất sợi tăng 8,1%; sản xuất thức ăn gia
súc, gia cầm tăng 7,9%; chế biến và bảo quản thuỷ sản tăng 7,9%.
Những con số trên đã cho thấy được những thành công bước đầu trong việc sử
dụng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam trong các ngành công nghiệp
Thứ ba : Qua việc thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng ngành khoa
học và công nghệ nước ta đã có những bước phát triển mới, góp phần quan
trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Khẳng định vai trò
12
không thế thiếu của khoa học công nghệ, Đại hội X đã chỉ rõ: Phát triển mạnh,
kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động khoa học và công nghệ với giáo dục đào tạo để
thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Đại hội XI với sự
phát triển mới về nhận thức lý luận và thực tiễn, Đảng ta đã xác định rõ: thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức.
Đây là một trong những chủ trương có vai trò định hướng rất quan trọng trong
thời kỳ phát triển của Việt Nam đến năm 2020.
Ví dụ : Nói về những thành công trong lĩnh vực khoa học – công nghệ
trong thời gian qua, Thứ trưởng Bộ Khoa học – Công nghệ Hoàng Văn Huây
cho biết: Có những công nghệ Việt Nam đã đạt trình độ hiện đại của thế giới
thuật số, điện thoại di động , tức là phát triển một số bộ phận của kinh tế tri
thức thì mặc nhiên thúc đẩy hiện đại hóa, ở trình độ cao, nhiều lĩnh vực của
công nghiệp và xây dựng, nông nghiệp, dịch vụ.
Thứ năm : Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, kinh tế tri thức tạo ra sự
ảnh hưởng nhanh chóng và sâu rộng đối với sản xuất và đời sống. Kinh tế tri
thức và các sản phẩm của nó nhanh chóng thâm nhập đời sống thông qua việc
đầu tư cho học tập, cho các phương tiện thông tin (điện thoại di động, Internet,
mạng viễn thông kỹ thuật số, truyền hình số…). Điều đó còn được thể hiện cả
trong tiêu dùng bởi giá trị của kiến thức được coi trọng, những người được đào
tạo có hệ thống, có kỹ năng làm việc, có kinh nghiệm thường được hưởng thù
lao cao hơn và cuộc sống tốt hơn.
Ví dụ : Khả năng thực hiện những bước nhảy vọt cơ cấu mạnh mẽ (nhảy
vọt công nghệ, nhảy vọt cấp độ sản phẩm). Thực tiễn phát triển hiện đại ở nhiều
nước đã chứng tỏ khả năng nhảy vọt này. Việc Ấn Độ trở thành một thế lực lớn
của nền kinh tế thông tin, Trung Quốc trở thành cường quốc sản xuất hàng điện
tử hay Estonia, một nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ, với 1,3 triệu dân, trở
thành trung tâm phát triển công nghệ điện thoại miễn phí toàn cầu Skype và nhờ
bệ phóng đó, đã nhanh chóng gia nhập vào chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu ở
khâu có giá trị gia tăng cao nhất để nhanh chóng đuổi kịp các nước Tây Âu
(trước hết là ở những lĩnh vực “nhảy vọt”)
Từ những vai trò đó, khi đứng trước xu thế có tính thời đại, Việt Nam
không còn sự lựa chọn nào khác là phải tiếp cận, quan tâm, đầu tư xây dựng
nền kinh tế tri thức, xác định hướng đi, tốc độ sao cho phù hợp với khả năng,
điều kiện hiện tại. Chính vì vậy chúng ta cần khẩn trương xây dựng và triển
khai lộ trình phát triển kinh tế tri thức đến năm 2020 . Đây không chỉ là chủ
trương có tính đột phá nhằm rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
nước ta mà còn là nhân tố đảm bảo cho sự phát triển nhanh và bền vững của
nền kinh tế nước nhà.
2.3. Đánh giá chung về vai trò của nền kinh tế tri thức đối với phát
triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam:
hơn cho người dân, cơ cấu lao động thay đổi với sự từng bước gia tăng của lực
lượng lao động xử lý thông tin, làm dịch vụ, di chuyển sản phẩm, làm văn
phòng (còn gọi là lao động tri thức)
Thứ ba: giúp nước ta chủ động hội nhập quốc tế.
15
Kết quả cho đến nay, lần đầu tiên nước ta đã thiết lập được mối quan hệ
bình thường vói tất cả các nước lớn, các nhóm nước và trung tâm tài chính lớn
trên thế giới. Nhờ vậy nước ta đang từng bước trở thành một mắt khâu trong
mạng lưới sản xuất kinh doanh toàn cầu, thoát khỏi tình trạng lạc hâu, trong đó
có những hoạt động liên quan đến sự sản sinh truyền bá và sử dụng tri thức.
Nhờ vậy, nếu chúng ta tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa theo hướng
trên thì sẽ tạo ra những bứt phá ngoạn mục trong phát triển kinh tế ở nước ta
theo hướng kinh tế tri thức.
2.3.2. Hạn chế của nền kinh tế tri thức trong nền kinh tế Việt Nam:
Thứ nhất: Nền kinh tế tri thức chẳng những ở một vị trí thấp trên thế giới
mà còn thấp so với các nước trong vùng. Tính chung, ta chỉ cao hơn Lào,
Campuchia và Myanmar.
Thứ hai: Cả nước hiện có khoảng 9.000 giáo sư và phó giáo sư, cùng với
trên 3 vạn tiến sĩ nhưng mỗi năm chỉ có khoảng 900 bài báo khoa học trên các
tập san quốc tế. Đó là một năng suất cực kỳ khiêm tốn, nếu nhìn theo chuẩn
mực quốc tế mỗi giáo sư phải có ít nhất một bài báo khoa học mỗi năm.
Vấn đề là ở nước ta vẫn tồn tại một sự nhầm lẫn giữa bài báo khoa học và
bài báo phổ thông. Chẳng hạn, gần đây báo chí nói đến một nhà khoa học có số
lượng bài báo kỷ lục về rùa, nhưng tìm hiểu thì ông này chỉ có hai công trình
nghiên cứu và chưa có bài nào trên một tập san quốc tế. Không ít nhà khoa học
nghĩ rằng những bài báo trên các tạp chí chuyên ngành hay thậm chí trên báo
chí phổ thông là công trình nghiên cứu. Với cách làm khoa học như thế, chúng
ta không ngạc nhiên khi thấy năng suất khoa học quốc gia rất thấp so với quốc
tế.
Vấn đề là cộng đồng khoa học Việt Nam chưa nhất trí tạo ra những chuẩn
CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM:
3.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về vai trò của nền kinh tế tri
thức đối với phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam:
3.1.1. Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và
vị trí, vai trò của trí thức.
Lịch sử phát triển của mỗi quốc gia dân tộc đều phải trải qua thời kỳ công
nghiệp hoá đất nước.
Ở Việt Nam từ Đại hội III (1960) đến Đại hội V (1982) về đường lối xây
dựng kinh tế, Đảng ta chủ trương ''tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách
mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng
văn hóa, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt, đẩy mạnh công
nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ”
.
Tại Đại hội V và Đại hội VI, Đảng ta đưa ra khái niệm: ''chặng đường
trước mắt'', ''chặng đường đầu tiên'' của thời kỳ quá độ. Theo đó: ''Chặng đường
đầu tiên là một bước quá độ nhỏ trong bước quá độ lớn''. Độ dài và vị trí của
chặng đường này được khẳng định trong Văn kiện Đại hội V: ''Chặng đường
trước mắt bao gồm thời kỳ đầu 5 năm 1981 - 1985 và kéo dài đến năm 1990, là
khoảng thời gian có tầm quan trọng đặc biệt''.
Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội V, đến Đại hội VI, Đảng ''Xác
định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát của những năm còn lại của chặng
đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế xã hội, tiếp tục xây dựng
tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội trong chặng đường
tiếp theo”.
Đại hội VII (1991) của Đảng thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong Cương lĩnh 1991, Đảng Cộng
sản Việt Nam đã gắn công nghiệp hóa với hiện đại hóa. Cương lĩnh viết: Phát
triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại là
nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời
hướng hiện đại, xác định rõ nội dung cụm từ ''nước công nghiệp''.
- Việc ghi các chỉ tiêu định lượng vào mục tiêu phấn đấu trong văn kiện
Đại hội X có 3 loại ý kiến khác nhau:
+ Không ghi các chỉ tiêu đó vào trong Nghị quyết Đại hội.
+ Nhiều chỉ tiêu đề ra là quá cao, khó thực hiện.
19
+ Một số chỉ tiêu đề ra trong Nghị quyết còn thấp chưa tương xứng với
mục tiêu phấn đấu trở thành nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại.
Giải trình những ý kiến trên, Đoàn Chủ tịch Đại hội XI cho biết trong quá
trình chuẩn bị văn kiện Đại hội XI, Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã chỉ
đạo nghiên cứu, tính toán, cân nhắc kỹ để xác định mục tiêu tổng quát, các mục
tiêu chủ yếu về phát triển kinh tế xã hội, môi trường đến năm 2020.
Mục tiêu tổng quát mà chúng ta cần đạt được là ''phấn đấu đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, chính trị - xã
hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận, đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh
thổ được giữ vững, vị trí của Việt Nam được tiếp tục nâng lên, tạo tiền đề vững
chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau''
Từ mục tiêu tổng quát nêu trên, Đại hội XI còn đề ra những mục tiêu chủ
yếu về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường đến năm 2020: GDP năm
2020 bằng khoảng 2,2 lần so với 2010, GDP bình quân đầu người khoảng 3,5
lần so với năm 2010, tỉ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng
85 % trong GDP, tỉ lệ lao động trong nông nghiệp chiếm khoảng 30 - 35 % lao
động xã hội, chỉ số phát triển con người HDI đạt nhóm trung bình của thế giới,
tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi, lao động qua đào tạo đạt từ 70 %, đào tạo nghề
đạt 55 % tổng lao động xã hội, số sinh viên đạt 450 trên một vạn dân. Điểm mới
trong văn kiện Đại hội XI là Đảng đã đề ra một số chỉ tiêu chủ yếu về bảo vệ
môi trường: Đến năm 2020 tỉ lệ che phủ rừng đạt 45 %, hầu hết dân cư ở cả
thành thị và nông thôn được sử dụng nước sạch, trên 80 % các cơ sở sản xuất
kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường.
tin, công nghệ tin học đã tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến nền kinh tế thế giới và
xã hội loài người. Nền kinh tế thế giới bước sang một giai đoạn mới: Trí thức
trở thành yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển sản xuất. Hiện nay, có
nhiều tên gọi khác nhau cho giai đoạn phát triển mới của lực lượng sản xuất.
Kinh tế tri thức là khái niệm được các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển
kinh tế (OECD) nêu lên từ năm 1985 và hiện đang được sử dụng phổ biến, kinh
tế tri thức là trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuất khi hàm lượng lao
động cơ bắp, hao phí lao động cơ bắp trong lao động xã hội ngày một giảm đi
trong khi hàm lượng tri thức, hao phí lao động trí óc ngày càng tăng. Kinh tế tri
thức là sự sản sinh, phổ cập và sử dụng tri thức của con người đóng vai trò
quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế tạo ra của cải, nâng cao chất lượng
cuộc sống.
Theo quy định một ngành, một nước có thể nói là đã trở thành kinh tế tri
thức khi tỉ lệ đóng góp của yếu tố tri thức trong tăng trưởng kinh tế, sản xuất các
sản phẩm, dịch vụ chiếm từ 70% trở lên.Có người đưa ra quy định tiêu chí của
kinh tế tri thức được thể hiện ở 4 con số trên 70%.
21
- Trên 70 % GDP là do các ngành sản xuất và dịch vụ sử dụng công nghệ
cao mang lại.
- Trên 70 % cơ cấu giá trị gia tăng là do kết quả của lao động trí óc.
- Trên 70 % lực lượng lao động là công nhân trí thức.
- Trên 70 % tư bản là tư bản con người.
Từ năm 2000 ở một số nước phát triển nhất như Mỹ, Nhật Bản, Canađa,
kinh tế tri thức chiếm tỉ lệ trên 50 %. Cũng từ năm 2000 trong các nước OECD
công nhân trí thức chiếm trên 35% lực lượng lao động.
Đảng ta quan niệm kinh tế tri thức là một xu thế khách quan, một trình độ
phát triển mới của lực lượng sản xuất. Việc nước ta tích cực, chủ động tiếp thu
kinh tế tri thức phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa như là một
biểu hiện cụ thể của việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Với chủ trương đó, trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta.
triển của đất nước. Ở Việt Nam, phát triển kinh tế tri thức thực chất là thực hiện
chiến lược công nghiệp hóa rút ngắn dựa trên tri thức.
- Trên thực tế, những năm gần đây ở nước ta đã xuất hiện những mô hình
phát triển mới dựa vào tri thức. Đó là Tổng công ty Bưu chính viễn thông, là
những cánh đồng cho thu hoạch 500 - 600 triệu đồng/ l ha ở Hải Dương, Đà Lạt.
Đó còn là việc ứng dụng những công nghệ cao trong một số cơ sở sản xuất công
nghiệp như đóng tàu, dầu khí, nhà máy lọc dầu Dung Quất.
Việc phát triển kinh tế tri thức đã đặt người trí thức vào vị trí trung tâm
của sự phát triển đó. Văn kiện Đại hội XI viết: ''Thực hiện các chương trình, đề
án đào tạo nhân lực chất lượng cao, đổi mới các ngành, lĩnh vực chủ yếu mũi
nhọn. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng phát huy nhân tài, đào tạo nhân lực cho
phát triển kinh tế tri thức''. Văn kiện Đại hội XI còn chỉ ra những ngành, những
lĩnh vực khoa học công nghệ làm nền tảng cho phát triển kinh tế tri thức cần tập
trung để phát triển là: Công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật
liệu mới, công nghệ môi trường.
3.1.3. Lựa chọn khâu đột phá chiến lược để khai thông các điểm
nghẽn và vị trí, vai trò của trí thức.
Đối với Việt Nam việc gắn công nghiệp hoá với hiện đại hóa, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa với kinh tế tri thức đều khá mới mẻ. Đi vào các lĩnh
vực này nảy sinh những khó khăn, vướng mắc cần phải tháo gỡ là một tất yếu.
Các văn kiện của Đảng trước Đại hội XI đã nhiều lần đề cập đến ách tắc, khó
khăn, bất cập cần giải quyết. Đại hội Đảng lần thứ XI nêu lên 3 điểm nghẽn cản
trở sự phát triển đất nước;
23
- Thể chế kinh tế thị trường chưa hoàn thiện.
- Chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao còn
nhiều hạn chế, yếu kém.
- Kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ.
Vấn đề đặt ra cần tháo gỡ ở điểm nghẽn thứ hai không phải là nguồn nhân
lực nói chung mà là chất lượng nguồn nhân lực. Có thể nói Việt Nam đang ở
lý, tạo môi trường kinh doanh sôi động, giải phóng mọi khả năng sáng tạo, mở
đường cho kinh tế tri thức phát triển.
Xây dựng cơ chế, chính sách nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân tộc, động lực chủ yếu để phát triển đất nước trong tình hình mới. Đặc biệt
cần có chính sách khuyến khích mạnh mẽ hơn nữa để huy động lực lượng lớn trí
thức người Việt Nam ở nước ngoài chuyển giao tri thức mới, công nghệ mới
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt
Nam.
2. Cải cách, hiện đại hóa nền giáo dục, chăm lo đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế tri thức
Chú ý đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công
nghệ và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề; thực hiện liên kết chặt
chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Nhà nước
để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội. Đồng thời, thực hiện tốt các
chương trình, đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với các ngành, lĩnh vực
chủ yếu, mũi nhọn; chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo
nhân lực cho phát triển KTTT. Theo đó, Nhà nước phải có cơ chế, chính sách
đồng bộ trong thực hiện Nghị quyết số 27, ngày 06-8-2008 của Hội nghị Trung
ương 7, khoá X về xây dựng đội ngũ tri thức trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Cải cách giáo dục là một cuộc cách mạng sâu sắc không chỉ trong ngành
giáo dục mà là trong xã hội; nó bắt nguôn từ sự đổi mới tư duy về giáo dục.
3. Tăng cường năng lực khoa học và công nghệ quốc gia, tạo động lực
mạnh mẽ cho phát triển kinh tế tri thức.
Trong nền kinh tế tri thức, yếu tố quyết định nhất đối với tăng trưởng
kinh tế, tạo việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống là tạo ra tri thức và sử
dụng tri thức, biến tri thức thành giá trị. Do đó chính sách quốc gia ưu tiên quan
trọng hàng đầu là nâng cao năng lực khoa học công nghệ quốc gia, nhằm có đủ
khả năng truy cập vào kho tri thức toàn cầu, làm chủ các tri thức mới của thời
25