vai trò của tri thức và tri thức khoa học trong phát triển kinh tế xã hội nói chung và trong quá trình phát triển kinh tế theo mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở việt nam - Pdf 10

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Trên phạm vi toàn thế giới, trong khu vực và ở nước ta hiện nay, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa được xác định là giai đoạn phát triển tất yếu mà
mỗi quốc gia sớm hay muộn đều phải trải qua, là hiện tượng có tính quy luật
phổ biến trong tiến trình vận động và phát triển của các nước, nhất là đối với
những quốc gia đang phát triển muốn vươn lên thành nước có trình độ phát
triển cao. Nhận thức được tầm quan trọng của việc tiến hành công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đặc biệt là đối với nước ta, tại Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ III, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xác định: công nghiệp hóa là nhiêm
vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Đến nay, nhiệm
vụ đó vẫn được coi là nhiệm vụ trọng tâm khi chúng ta đã bước sang giai
đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2. Vai trò của tri thức và tri thức khoa học trong phát triển kinh tế
xã hội nói chung và trong quá trình phát triển kinh tế theo mục tiêu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Tri thức và tri thức khoa học có vai trò cưc kỳ to lớn trong đời sống xã
hội cũng như trong hoạt động kinh tế của loài người. Đồng thời chúng cũng
có ảnh hưởng sâu rộng tới quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thứ nhất, chúng tác động tới nguồn nhân
lực, yếu tố quan trọng nhất của mọi hoạt động. Thứ hai, ứng dụng tri thức và
tri thức khoa học trong kinh tế tạo ra nền kinh tế tri thức. Quá trình công
nghiệp hóa ở nước ta diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế tri thức và toàn cầu
hóa đạt ra yêu cầu mới đối với người Việt Nam. Đó là phải không ngừng
học tập sáng tạo và vận dụng những tri thức có được vào thực tiễn hoạt
động, thực tiễn phát triển kinh tế. Đồng thời đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ đối với
Đảng và Chính phủ trong hoạch định chính sách, góp phần tạo điều kiện tốt
nhất để quá trình công nghiệp hóa của chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng.
3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài: “Vai trò của tri thức và tri thức khoa học đối
với quá trình phát triển kinh tế theo mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa

dưới hinh thức ngôn ngữ hoặc các hệ thống ký hiệu khác (trích theo
Giáo trình triết học Mác- LêNin, nhà xuất bản Chính trị quốc gia). Tri
thức có nhiều cấp độ khác nhau như tri thức thông thường, tri thức
khoa học. Tri thức thông thường được hình thành do hoạt động hàng
ngày của mỗi cá nhân, mang tính chất cảm tính trực tiếp bề ngoài và rời
rạc. Đối ngược với nó là tri thức khoa học, tri thức khoa học phản ánh
trình độ của con người đi sâu nhận thức thế giới hiện thực (trích theo
Giáo trình triết học Mác- LêNin, nhà xuất bản Chính trị quốc gia).
Người ta chia tri thức khoa học thành tri thức kinh nghiệm và tri thức lý
luận.
Việc hiểu được định nghĩa của tri thức nói chung và tri thức khoa
học nói riêng, chúng ta có thêm nhiều cơ sở cho việc phân tích vai trò
của chúng đối với đời sống xã hội, phát triển kinh tế đối với thế giới
nói chung và quá trình phát triển kinh tế theo mục tiêu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam nói riêng.
1.2 Tri thức và tri thức khoa học đối với đời sống xã hội.
Chúng ta đều biêt rằng tri thức có vai trò hết sức quan trọng góp
phần tạo nên mọi thành tựu và tiến bộ trong lịch sử phát triển của văn
minh nhân loại. Mặc dù những câu hỏi có tính triết học về bản chất của
tri thức, về quá trình hình thành tri thức, về quan hệ giữa vật chất và trí
tuệ Vẫn không ngừng được tranh luận và chưa có được câu trả lời
thoả đáng, nhưng trong mọi lĩnh vực hoạt động khoa học, kinh tế, văn
hoá, tri thức vẫn luôn được tìm kiếm, phát hiện, và tác động ngày càng
lớn đến sự phát triển xã hội loài người.
Tri thức nảy sinh gắn liền với nền văn minh loài người, con người
ngày càng nhận thức sâu sắc hơn nội hàm mới của tri thức và không
ngừng sáng tạo ra tri thức mới, dần dần xây dựng và hoàn thiện hệ
thống tri thức mới:
+ Kỷ nguyên: Người nguyên thuỷ, sinh hoạt mông muội.
1.500.000 - 200.000 BCE ? Con người đi thẳng và có khả năng bắt

độ nhanh chóng dồn dập của công nghệ thông tin và truyền thông đã
thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đưa hoạt động tri thức về gần với cuộc
sống hàng ngày. Ngày nay, chúng ta càng ngày càng thấy rõ rằng trong
cuộc sống thường nhật, trong việc quản lý, kinh doanh, làm ăn hàng
ngày chúng ta cũng rất cần có thêm những tri thức, có thể có ý nghĩa
phổ biến hẹp hơn, có mức độ chính xác thấp hơn, có đời sống ngắn
hơn nhưng lại đáp ứng trực tiếp hơn các yêu cầu giải quyết công việc
của con người.
Hoạt động nhận thức của con người bao gồm việc tìm kiềm tri
thức để tăng cường hiểu biết về tự nhiên, xã hội và cuộc sống, đồng
thời sử dụng các tri thức có được để tạo nên các kỹ thuật, công nghệ và
giải pháp nhằm không ngừng cải thiện cuộc sống của mình. Trải qua
nhiều thế kỷ tích luỹ, và ngày nay có thêm sự trợ giúp đắc lực của
công nghệ thông tin, chúng ta đã có khả năng sử dụng rộng rãi tri thức
trong các hoạt động kinh tế, xã hội. Và dĩ nhiên, con người không chỉ
thụ động sử dụng những tri thức đã tìm kiếm được, mà càng ngày càng
chủ động tìm kiếm, thu thập thêm nhiều tri thức cho hoạt động của
mình. Điều đó đã đặt ra những yêu cầu mới đối với con người trong
thời đại mới, thời đại của nền kinh tế tri thức, với bối cảnh toàn cầu hóa
tạo ra môi trường kinh tế xã hội thường xuyên biến đổi, liên tục thay
đổi.
Tri thức, có thể nói, là bộ phận quan trọng nhất của văn hoá. Tri
thức bao trùm nhiều lĩnh vực: lao động sản xuất (công, nông nghiệp),
chính trị, giáo dục, văn học, nghệ thuật, y tế, xây dựng, luật pháp, giao
thông, giao tiếp, chinh phục thiên nhiên, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
Đó là những hiểu biết khoa học, những kinh nghiệm và sự khôn ngoan
mà con người tích lũy được trong quá trình lao động sản xuất, đấu tranh
và thích ứng với thiên nhiên cũng như với xã hội nhằm duy trì và phát
triển cuộc sống của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng người trong quá
trình lịch sử. Trong thời đại ngày nay, tri thức còn quan trọng hơn bao

người phải biết học tập không ngừng nghỉ, học tập suốt đời.
1.3 Tri thức và tri thức khoa học trong kinh tế.
Tri thức với hệ thống “tri thức lớn” lấy khoa học kỹ thuật và văn
hóa làm chủ thể, đã giữ vai trò chủ đạo trong quá trình phát triển của
nền văn minh xã hội loài người. Trong khoảng 50 năm trở lại đây,
những phát minh khoa học kỹ thuật và những tri thức về văn hóa tư
tưởng do loài người sáng tạo ra còn nhiều hơn những kết quả mà loài
người đã đạt được trong khoảng 3000 năm trở về trước. Lượng tri thức
tăng như vũ bão. Cuộc cách mạng công nghiệp và nền văn minh công
nghiệp 200 năm trước đã làm sức sản xuất tăng 100 lần, vậy mà vi điện
tử, kỹ thuật, vi tuần hoàn, vi mạch chỉ trong vòng 200 năm trở lại đây
đã làm cho sức sản xuất tăng 1 triệu lần. Trong sự tăng trưởng nhanh
tổng sản phẩm quốc dân toàn cầu, thành phần tri thức tăng 5% đầu thế
kỷ XX lên 80-90% đầu thế kỷ XXI, và tri thức trở thành nguồn của cải
chính của xã hội và là động lực chủ yếu của văn minh. Do sức sản xuất
của tri thức ở thế kỷ XX phát triển cực mau lẹ, tổng sản phẩm quốc dân
toàn cầu tăng 19 lần. Tri thức đã biến không thành có, tạo nên sự tiến
bộ của xã hội loài người.Ngay từ thế kỷ XVI, nhà triết học nổi tiếng
người Anh: F.Bacon đã đề xuất: “tri thức là sức mạnh”. Đến cuối thời
kỳ kinh tế nông nghiệp, Bacon đã gắn liền tri thức với yếu tố đầu tiên
của nền kinh tế nông nghiệp và sức lao động, qua đó ông xây dựng vai
trò của tri thức trong nền kinh tế nông nghiệp. Rồi 200 năm sau đó, vào
cuối thế kỷ XVIII, Adam Smith, người đặt nền móng mới cho nền kinh
tế tư bản chủ nghĩa, trong tác phẩm tiến bộ của mình “nghiên cứu về
tính chất và tài phú quốc dân – 1776” ( theo Hành trang thời đại kinh tế
thị trường- Nhà xuất bản Giao thông vận tải) Adam Smith đã gắn liền
tri thức với yếu tố đầu tiên của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Năm
1881, Taylor cha đẻ của quản lý học, lần đầu tiên vận dụng tri thức
trong phân tích kinh tế và thiết kế lao động, sáng lập ra “hệ thống
Taylor” nổi tiếng, vận dụng tri thức vào phân tích và tổ chức lao động

nào nắm được quyền sở hữu trí tuệ, ứng dụng công nghệ mới, tạo ra sản
phẩm mới sẽ thu được tỷ suất lợi nhuận cao hơn mức trung bình. Thí
dụ: Nhờ luôn tạo ra các bộ vi xử lý trước một thế hệ, lợi nhuận của
hãng Intel trong nhiều năm là 23% doanh thu. Cũng với cách thay đổi
luôn như vậy lợi nhuận của hãng Microsoft đạt 24% doanh thu vào năm
1994. Mức đóng góp của tri thức và kỹ thuật đối với tăng trưởng kinh
tế ngày càng lớn. Do vai trò và vị trí ngày càng lớn của tri thức trong
nền kinh tế, do thông tin và tri thức ngày càng trở thành nguồn lực phát
triển kinh tế chủ yếu, nên cơ cấu đầu tư để phát triển lực lượng sản xuất
có những thay đổi rất lớn. Ở Hoa Kỳ, mỗi năm số tiền chi vào việc sản
xuất tri thức và các hoạt động liên quan khác chiếm khoảng 20% GDP,
trong đó, chi phí cho giáo đục chiếm 10% GDP. Ngày càng có nhiều
giá trị gia tăng kinh tế do trí tuệ tạo ra. Trên thế giới, ở các nước thuộc
tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế các ngành kinh tế tri thức đã đóng
góp trên 50% GDP( Mỹ: 55,3%, Nhật Bản: 53% ). Như vậy, việc ứng
dụng tri thức và tri thức khoa học vào trong phát triển kinh tế, xã hội
tạo nên một nền kinh tế tri thức mà sản phẩm được sản xuất dựa trên
thành tựu mới của khoa học công nghệ, dựa trên những tri thức mà con
người đã đạt đuợc ngày càng phong phú, đáp ứng tốt hơn những yêu
cầu về vật chất cũng như tinh thần của con người, làm cho đời sống của
xã hội loài người biến chuyển sâu sắc. Nhưng bên cạnh đó, tri thức và
tri thức khoa học cũng có những tác động tiêu cực đến nền kinh tế mà
biểu hiện cụ thế là những mặt trái của nền kinh tế tri thức gắn liền với
vấn đề toàn cầu hóa kinh tế: Khoảng cách giữa nước nghèo nhất và
nước giàu nhất về thu nhập, tuổi thọ, giáo dục và chất lượng cuộc sống
đã ngày một rộng hơn trong quá trình phát triển của nền kinh tế tri thức.
20% dân số thế giới hiện đang sống ở những nước có thu nhập cao nhất
(hưởng 86% GDP, 82% thị trường xuất khẩu hàng hoá và địch vụ, 68%
đầu tư từ nước ngoài trực tiếp, 93,3% mạng lưới viễn thông toàn cầu).
Trong khi đó, 20% dân số là những người nghèo khó của thế giới chỉ

trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và đưa ra mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Đại hội IX (2001) đã bổ sung, hoàn thiện nhiều quan điểm về
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hoàn chỉnh đường lối công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hình thành phát triển kinh tế - xã hội 10 năm đến 2010,
trong đó bao hàm phần chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai
đoạn 2001- 2010; đề ra nhiệm vụ “tạo nền tảng để đến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Các
quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được thông qua có ý
nghĩa quan trọng cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế.
2.2.1 Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa,
hiện đại hóa
Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu,
từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ nên nước ta phải tiến hành công nghiệp
hóa, hiện đại hóa để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã
hội là tất yếu khách quan. Cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội
cần phải xây dựng trên những cơ sở của khoa học công nghệ tiên tiến
nhất, có như vậy mới tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Do đó công
nghiệp hóa là tất yếu khách quan đối với các nước đi từ nền kinh tế sản
xuất nhỏ lên xây dựng nền kinh tế sản xuất lớn trong đó có nước ta.
2.2.2 Thực chất, mục tiêu chủ yếu của công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở nước ta.
• Trong bối cảnh lịch sử cụ thể ở nước ta hiện nay, công nghiệp
hóa, hiện đại hóa về thực chất là: “quá trình chuyển đổi căn bản
toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý
kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử
dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ,
phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển công
nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao
động xã hội cao” ( trích theo: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn

quốc lần thứ IX, nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001).
• Khó khăn:
- Thứ nhất: Chúng ta bắt tay vào quá trình thực hiện với điểm
xuất phát thấp.
- Thứ hai: Chúng ta tiến hành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa trong điều kiện thế giới đang phải đối mặt với tình trạng
nguồn lực tự nhiên thiếu hụt và môi trường sống đang bị hủy
hoại nghiêm trọng bởi chính bàn tay con người.
- Thư ba: Chúng ta bắt đầu quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa trong khi sự chuyển biến từ xã hội truyền thống sang xã hội
hiện đại trong một thời gian ngắn, trong tình hình thiếu hụt sự
tích lũy của nhân tố hiện đại.
- Thứ tư: Chúng ta tiến hành công nghiệp hóa muộn gặp phải sự
thiếu đồng bộ.
- Thứ năm: Sự không thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa
trong những năm trước đổi mới
2.2.4 Nội dung cơ bản của quá trình thực hiện.
• Phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
cho chủ nghĩa xã hội, trên cở sở thực hiện cơ khí hóa nền sản
xuất xã hội và áp dụng thành tựu khoa học công nghệ hiện đại.
• Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và hiện đại.
• Xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất mới định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta.
2.3 Vận dụng tri thức và tri thức khoa học trong quá trình thực
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.
2.3.1 Vận dụng trong lý luận.
Sự phát triển của tri thức ảnh hưởng tới tất cả các lĩnh vực của đời
sống xã hội loài người đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế, đã tạo ra nền
kinh tế tri thức. Đặt ra nhiệm vụ cho Đảng và Chính phủ Việt Nam phải
làm gì để thực hiện nhiệm vụ chiến lược là thực hiện công nghiệp hóa,

chức trên thế giới. Muốn làm được những việc ấy đòi hỏi Đảng và nhà
nước đề ra chính sách quản lý đồng bộ, chính sách hợp lý phù hợp với
nhu cầu của thực tiễn quá trình công nghiệp hóa đặt ra.
2.3.2 Vận dụng trong thực tiễn hành động
• Trong giáo dục đào tạo, và phát triển nguồn nhân lực.
Thông qua việc cải tiến hệ thống thông tin về lao động và thông qua
các chính sách, các quy định của Nhà nước, đã điều chỉnh cơ cấu đào
tạo một cách hợp lý, đạt tới sự cân đối giữa đào tạo và sử dụng ở các
trình độ và các ngành nghề khác nhau, đặc biệt bảo đảm được nhân
lực cho các ngành mũi nhọn và các chương trình kinh tế - xã hội
trọng điểm; tăng nhanh tỉ trọng đào tạo ngành nghề dưới bậc đại học.
Kiện toàn, phát triển mạnh và bảo đảm chất lượng các cở sở đào tạo
nghề, kể cả các cơ sở dân lập, tư nhân, các doanh nghiệp đi đôi với
tăng cường quản lý Nhà nước. Mở rộng quy mô một cách hợp lý và
nâng cao chất lượng đào tạo đại học, kết hợp đào tạo mới và đào tạo
lại, phát triển giáo dục - đào tạo đỉnh cao nhằm lựa chọn, xây dựng
đội ngũ chuyên gia khoa học, công nghệ, văn hoá và những nhà kinh
doanh giỏi, đội ngũ công chức và cán bộ lãnh đạo quản lý kinh tế -
xã hội có năng lực. Phát triển các đại học và cao đẳng địa phương để
đáp ứng nhu cầu học tập và phát huy nguồn nhân lưc tại chỗ. Cụ thể
hoá và thể chế hoá chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về
xã hội hoá sự nghiệp giáo dục đào tạo.
• Trong khoa học, kỹ thuật
Khoa học, kỹ thuật là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế và xã
hội. Trong những năm qua chúng ta đã vận dụng khoa học xã hội,
khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật trong việc nghiên cứu chiến
lược phát triển kinh tế, xã hội, trong việc xác định các chủ trương,
chính sách, trong tổ chức quản lý kinh tế và xã hội.
Phát triển các công nghệ cao, xây dựng được cơ sở hạ tầng truyền
thông tin học quốc gia. ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả

dụng, xuất nhập khẩu Hỗ trợ cho các thành phần kinh tế có nhu cầu
nghiên cứu khoa học và sáng tạo công nghệ, gắn nghiên cứu khoa
học với giáo dục, đào tạo.
• Trong các ngành kinh tế
Công nghiệp đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực có công nghệ
hiện đại, công nghệ cao. Phát triển mạnh công nghiệp cơ khí, điện
tử, công nghiệp phần mềm Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở
công nghiệp nặng quan trọng sản xuất tư liệu sản xuất cần thiết để
trang bị cho các ngành kinh tế. Xây dựng đồng bộ và từng bước hiện
đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng: giao thông, điện lực, thông tin, thuỷ
lợi, cấp nước, thoát nước Phát triển mạng lưới đô thị phân bố hợp lý
trên các vùng. Hiện đại hoá dần các thành phố lớn, thúc đẩy quá trình
đô thị hoá nông thôn. Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm kinh tế
có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức. Đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các
vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân, thực hiện cơ khí hoá,
điện khí hoá, thuỷ lợi hoá. Phát triển nhanh hơn công nghiệp, xây
dựng và dịch vụ. Khuyến khích phát triển công nghiệp công nghệ
cao, công nghiệp chế tác, công nghiệp phần mềm và công nghiệp bổ
trợ có lợi thế cạnh tranh, tạo nhiều sản phẩm xuất khẩu và thu hút
nhiều lao động; phát triển một số khu kinh tế mở và đặc khu kinh tế,
nâng cao hiệu quả của các khu công nghiệp, khu chế xuất. Khuyến
khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia phát triển
mạnh các ngành công nghiệp sản xuất theo hướng hiện đại. Đầu tư
thực hiện một số dự án quan trọng về khai thác dầu khí, lọc dầu và
hoá dầu, luyện kim, cơ khí chế tạo, hoá chất cơ bản, phân bón, vật
liệu xây dựng
2.3.3 Những thành tựu đã đạt được và những mặt còn hạn chế
• Thành tựu:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đạt được những thành tựu to lớn

và bền vững hơn, gắn với phát triển con người. Đến năm 2010,
tổng sản phẩm trong nước (GDP) gấp hơn 2,1 lần so với năm
2000. Trong 5 năm 2006 - 2010, mức tăng trưởng GDP bình
quân đạt 7,5 - 8%/năm, phấn đấu đạt trên 8%/năm. (trích theo
Văn kiện Đại hội đại bỉểu toàn quốc lần thứ IX, nhà xuất bản
chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001).
Để đạt được những mục tiêu, phương hướng đã đề ra cần có sự cố
gắng rất lớn của Đảng và toàn dân, phát triển đời sống kinh tế hiện
đại để đạt được mục tiêu trước mắt là đến năm 2020 Việt Nam cơ
bản là một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
III. KẾT LUẬN
Qua những vấn đề đã nêu có thể thấy rằng tri thức và tri thức khoa
học có vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống xã hội loài người. Nó
tác động vào nền kinh tế tạo ra sức sản xuất như nước vỡ bờ, xác lập
nền kinh tế tri thức. Con người trong nền kinh tế ấy là con người khao
khát tri thức, do đó đòi hỏi mỗi con người ham hiểu biết phải không
ngừng học tập, học tập suốt đời. Lúc này học tập không còn là một
nhiệm vụ của một giai đoạn nào đó mà là sự nghiệp thiết thân trong
suốt cuộc đời. Tri thức được xem là động lực nâng cao sức sản xuất,
thể hiện sự tăng trưởng kinh tế, là nguồn tài nguyên then chốt của xã
hội.
Trong qúa trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà nước ta đang
tiến hành chịu ảnh hưởng rất lớn của tri thức và tri thức khoa hoc,
chúng tác động đến nguồn nhân lực- yếu tố cơ bản và quan trọng nhất
của quá trình thực hiện. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của
Đảng Cộng sản Việt Nam, quá trình công nghiệp hóa ở nước ta thu
được những thành tựu hết sức to lớn trong cải thiện kinh tế, nâng cao
chất lượng cuộc sống của nhân dân và ngày càng khẳng định vị thế của
Việt Nam trên trường quốc tế.
Là những sinh viên kinh tế, có những hiểu biết nhất định về sự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status