I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
HONG MINH THI
CƠ Sở PHáP Lý CHO NGÂN HàNG NHà NƯớC THựC HIệN
CáC BIệN PHáP QUảN Lý ĐốI VớI THị TRƯờNG VàNG
ở VIệT NAM Và CáC KIếN NGHị PHáP Lý
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2014
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN Hoàng Minh Thái MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀNG VÀ
CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC THỰC
HIỆN CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG VÀNG 9
1.1. Khái quát về thị trường vàng 9
1.1.1. Đặc trưng của thị trường vàng ở Việt Nam 9
1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường vàng trong nước 15
1.1.3. Mối quan hệ giữa thị trường vàng với các bộ phận còn lại của
thị trường tài chính 20
1.1.4. Sự cần thiết quản lý thị trường vàng bởi Ngân hàng Nhà nước 21
1.1.5. Nguyên tắc quản lý thị trường vàng 28
2.4.2. Thực tiễn áp dụng 65
2.5. Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn áp dụng pháp luật 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71
Chương 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC THỰC
HIỆN CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG VÀNG
Ở VIỆT NAM 73
3.1. Những yêu cầu đặt ra để Ngân hàng Nhà nước nâng cao
hiệu quả hoạt động quản lý thị trường vàng 73
3.2. Phương hướng và giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý cho
Ngân hàng Nhà nước thực hiện các biện pháp quản lý thị
trường vàng 76
3.2.1. Phương hướng hoàn thiện 76
3.2.2. Giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý cho Ngân hàng Nhà nước
thực hiện các biện pháp quản lý thị trường vàng 80
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 90
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số hiệu sơ đồ Tên sơ đồ Trang
Sơ đồ 2.1:
Biểu đồ chênh lệch giữa giá trong nước và thế giới
sau 19 phiên đấu thầu bán vàng của Ngân hàng
Nhà nước, từ 28/3 đến 17/5. 66
1
Ngày 03/04/2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2012/NĐ-CP
(Nghị định 24) về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, tại Nghị định này, Chính
phủ đã tập trung quyền cho Ngân hàng Nhà nước như là một đầu mối duy nhất
quản lý và kinh doanh mặt hàng vàng miếng trên thị trường. Qua đó, công tác
điều hành của Ngân hàng Nhà nước với thị trường vàng mang tính trực tiếp
hơn, tác động một cách nhanh chóng đến thị trường vàng phù hợp với chính
sách quản lý của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Ngày 25/05/2012 Ngân
hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 16/2012/TT-NHNN hướng dẫn một
số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03 tháng 04 năm 2012 của
Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng; Sau gần một năm, Ngân
hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 06/2013/TT-NHNN ngày 12/03/2013
hướng dẫn hoạt động mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước của ngân
hàng nhà nước Việt Nam. Đây là những văn bản pháp luật chuyên ngành nhằm
điều chỉnh hoạt động kinh doanh vàng trong cả nước. Tuy nhiên những chính
sách này còn tương đối mới mẻ, chỉ được áp dụng trong thời gian chưa lâu và
đang nhận được nhiều ý kiến trái chiều về tính hiệu quả.
Tại diễn đàn kinh tế mùa xuân và mùa thu (năm 2013) do Ủy ban Kinh
tế của Quốc hội tổ chức cho thấy nhiều góc nhìn về thị trường vàng. Được tổ
chức định kỳ hàng năm, diễn đàn là nơi những chuyển động của nền kinh tế
cả trong ngắn hạn và trung hạn được mổ xẻ với nhiều chiều quan điểm và đa
dạng góc nhìn. Năm 2014, vấn đề về thị trường vàng được các đại biểu đặc
biệt quan tâm. Những vấn đề về tính hiệu quả của công tác quản lý, đấu thầu
thị trường vàng; Vấn đề độc quyền kinh doanh vàng miếng của Ngân hàng
nhà nước; Vấn đề lợi ích từ chênh lệch giá bán vàng miếng trong và ngoài
3
nước; Vấn đề hạn chế khả năng tham gia các phiên đấu thầu vàng miếng của
các tổ chức kinh doanh vàng… phần nhiều vẫn chưa có câu trả lời đáp ứng kỳ
vọng của các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng.
Có thể nói, điều hành thị trường vàng tại Việt Nam đã có các văn bản
nước. Thời điểm hoàn thành Luận văn vào năm 2010, trước thời điểm Chính
phủ ban hành Nghị định số 24/2012/NĐ-CP.
Đề tài “Phân tích chính sách đấu thầu vàng miếng của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam” của tác giả Hồ Kim Khanh, chuyên ngành Tài chính –
ngân hàng. Đề tài đã Tổng hợp kết quả các phiên đấu thầu vàng miếng của
Ngân hàng Nhà nước và đánh giá về hiệu quả của chính sách đấu thầu vàng
miếng; Phân tích diễn biến các ảnh hưởng của chính sách đấu thầu vàng
miếng tới các yếu tố vĩ mô (Tỷ giá, lạm phát ) và các đối tượng tham dự
thầu, tới chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới; Kiến nghị một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách đấu thầu vàng miếng của Ngân
hàng Nhà nước.
Các đề tài trên đã tìm hiểu về thị trường vàng trong mối liên hệ của nó
với các biến số của nền kinh tế. Đề tài thứ ba đi sâu hơn vào một biện pháp
can thiệp cụ thể của Ngân hàng Nhà nước vào thị trường vàng là chính sách
đấu thầu vàng miếng. Tuy nhiên, vấn đề liên quan đến chủ thể quản lý với cơ
sở pháp lý cho hoạt động quản lý không nằm trong phạm vi nghiên cứu của
các đề tài trên.
Bên cạnh các đề tài thuộc chuyên ngành tài chính – ngân hàng, gần đây
nhất tác giả Nguyễn Ngọc Yến đã hoàn thành đề tài thuộc chuyên ngành luật
kinh tế về thị trường vàng: “Pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý và điều
5
hành thị trường vàng của Ngân hàng nhà nước Việt Nam”. Trong đề tài này,
tác giả Nguyễn Ngọc Yến lựa chọn phân tích các bộ phận cấu thành pháp luật
điều chỉnh về hoạt động quản lý thị trường vàng ở Việt Nam với các nội
dung: (i) Nguyên tắc pháp lý trong quản lý thị trường vàng; (ii) Quy định về
chủ thể có trách nhiệm quản lý và điều hành thị trường vàng; (iii) Hàng hóa
được phép giao dịch trên thị trường; (iv) Tổ chức và vận hành thị trường vàng
phổ thông; (v) Tổ chức và vận hành thị trường mua bán vàng của Ngân hàng
Nhà nước; (vi) Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trên thị trường vàng.
đó xác định các cơ sở pháp lý cho việc thực hiện vai trò của Ngân hàng Nhà
nước thông qua cơ chế trao quyền cho Ngân hàng Nhà nước thực hiện các
biện pháp phù hợp và định hướng trong tương lai cho một thị trường vàng ổn
định và hiệu quả. Trong đó, các mục tiêu cụ thể bao gồm:
- Xác định vị trí đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước trong quản lý thị
trường vàng.
- Xác định các nội dung giao dịch trên thị trường vàng.
- Xác định cơ chế can thiệp hiệu quả để duy trì hoạt động ổn định của
thị trường nhưng không làm mất đi tính công bằng và bảo vệ được quyền lợi
chính đáng của các chủ thể tham gia vào thị trường.
- Đánh giá về hoạt động quản lý thị trường vàng trong thời gian qua,
đóng góp ý kiến cho cơ chế quản lý trong giai đoạn hiện nay và định hướng
trong tương lai với mục tiêu một thị trường vàng ổn định, đảm bảo quyền
tham gia thị trường và bảo quyền lợi của các chủ thể trên thị trường.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được trình bày trên cơ sở phương pháp của Chủ nghĩa Mac-
7
Lenin về Nhà nước và pháp luật, trên nền tảng quan điểm của Đảng và Nhà
nước về con người và sự phát triển con người.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn là phương pháp
duy vật biện chứng, phương pháp phân tích đối chiếu, phương pháp tổng hợp,
phương pháp hệ thống và phương pháp so sánh.
6. Những nét mới của luận văn
- Làm rõ cơ sở pháp lý để Ngân hàng Nhà nước Việt Nam áp dụng các
biện pháp quản lý tập trung và hiệu quả đối với thị trường vàng.
- Làm sáng tỏ sự cần thiết phải quản lý thị trường vàng thông qua các
quy định của pháp luật và vai trò của Ngân hàng Nhà nước đối với việc tạo
lập, quản lý và tham gia vào thị trường vàng.
- Tìm được những nhược điểm của việc thiếu sự quản lý chặt chẽ và
9
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀNG VÀ CƠ SỞ
PHÁP LÝ CHO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC THỰC HIỆN CÁC BIỆN
PHÁP QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG VÀNG
1.1. Khái quát về thị trường vàng
1.1.1. Đặc trưng của thị trường vàng ở Việt Nam
1.1.1.1. Khái niệm về thị trường vàng
Khi nói về thị trường vàng, người ta thường nhắc tới tính thời sự của nó
trong những diễn biến khác nhau của nền kinh tế. Mỗi một quốc gia trên thế
giới, với truyền thống văn hóa và trình độ phát triển của thị trường tài chính
khác nhau lại có những mối quan tâm rất riêng đối với thị trường vàng. Có
nhiều cách tiếp cận đối với thị trường này, từ góc độ bản chất, trước hết đây là
một thị trường – nơi được vận hành để tạo điều kiện cho sự gặp gỡ và trao đổi
giữa người bán và người mua với nhau. Thị trường được hiểu là nơi gặp gỡ
giữa cung và cầu của một loại hàng hoá, dịch vụ hàng hoá.
có của mình, vàng còn là một nguyên liệu đầu vào không thể thiếu trong
nhiều ngành công nghiệp, đặc biệt là những ngành công nghiệp công nghệ
cao. Khó có thể hình dung nếu thiếu vàng thì các ngành công nghiệp vũ trụ,
công nghiệp máy tính, và nhiều ngành công nghệ khác sẽ như thế nào.
Đáp ứng cho các nhu cầu kể trên, thị trường vàng lại có nguồn
cung bổ sung rất hạn chế. Các số liệu thống kê của Gold Field Mineral
Services [12, tr.26] đã chỉ ra rằng kể từ khi loài người biết đến vàng, số
lượng vàng được khai thác đạt xấp xỉ 166.000 tấn. Tính từ năm 2000, hàng
năm con người khai thác xấp xỉ 2600 tấn vàng trên toàn thế giới với trữ lượng
chưa khai thác ước tính là 75.000 tấn. Bên cạnh đó, các số liệu cũng cho thấy
11
chi phí khổng lồ của ngành công nghiệp khai thác vàng. Để có thể có được
500 tấn vàng đòi hỏi phải công sức khai thác và xử lý 70 triệu tấn đất đá. Thói
quen tích trữ vàng cũng là một nguyên nhân khiến cho nguồn cung vàng trên
thị trường không thực sự dồi dào.
Bên cạnh những đặc trưng về yếu tố cung – cầu, vàng còn thể hiện sự
khác biệt ở vai trò của nó đối với nền kinh tế. Không chỉ đơn thuần là một loại
hàng hóa, vàng còn giữ tư cách như một loại tiền tệ bởi những đặc tính vốn có
của nó. Vàng luôn giữ một ví trị quan trọng trong đời sống của hầu hết các
dân tộc trên thế giới. Chứa đựng nhiều phẩm chất quý giá, vàng là minh
chứng cho sự giàu sang của những người sở hữu nó. Sự thừa nhận rộng rãi giá
trị của vàng đã làm cho vàng trở thành tiền tệ trong hàng nghìn năm lịch sử
của nhiều quốc gia như một quá trình tự nhiên. Các lý thuyết kinh tế nhìn
nhận tiền tệ có ba đặc điểm quan trọng là phương tiện lưu trữ giá trị, là
phương tiện định giá và là phương tiện trao đổi. Vào giai đoạn mọi vật đều có
thể quy đổi giá trị theo vàng và được chấp nhận trong quan hệ mua bán như
một phương tiện thanh toán thì vàng là một loại tiền tệ. Mặc dù hiện nay, theo
những học thuyết kinh tế mới, tiền tệ pháp định đang được áp dụng lưu hành
và vàng dần được rút ra khỏi hệ thống tiền tệ nhưng trong không ít các trường
những định hướng của Nhà nước khi ban hành những văn bản điều chỉnh hoạt
động của các chủ thể trên thị trường. Như vậy, có thể thấy đặc trưng đầu tiên
của thị trường vàng Việt Nam là luôn nhận được sự quan tâm từ phía cơ quan
quản lý, và luôn được tổ chức vận hành nhằm đáp ứng yêu cầu phù hợp với
chính sách chung của Chính phủ. Ở Việt Nam, chính sách của Chính phủ có
thể tác động một cách trực tiếp và dễ dàng tới thị trường vàng một cách có
chủ đích. Tuy nhiên những chính sách này tại nhiều thời điểm thường có độ
trễ đáng kể so với những diễn biến nhanh chóng của thị trường. Có thể kể đến
13
hiện tượng sự xuất hiện và tồn tại của các sàn vàng tư nhân với uy tín và quy
mô khác nhau như một loại hình kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro dành cho
nhà đầu tư nhưng không có quy định pháp luật điều chỉnh; hay ví dụ về sự xuất
hiện và lưu thông của nhiều thương hiệu vàng nhưng không có một quy chuẩn
cần thiết để đảm bảo lợi ích chính đáng của người tiêu dùng.
Đặc trưng thứ hai, thị trường vàng Việt Nam là một thị trường gồm
nhiều bộ phận, nhưng chưa được định hình một cách rõ nét. Ở Việt Nam,
chưa có một cái nhìn chính thức về thị trường vàng mà mới chỉ dừng lại ở
việc duy trì trên cơ sở thị trường vàng vốn đã tồn tại. Có nhiều cách khác
nhau để phân loại thị trường vàng, nhưng tồn tại ở Việt Nam có thể kể đến
các bộ phận: Thị trường vàng vật chất, thị trường vàng tài khoản, thị trường
vàng ngoại hối; Thị trường vàng trang sức, thị trường vàng miếng, thị trường
vàng nguyên liệu. Mặc dù chia thành các bộ phận khác nhau nhưng tính liên
thông, pha trộn giữa các bộ phận này là phổ biến ở Việt Nam. Lấy ví dụ về
nhu cầu coi vàng như một tài sản tích trữ, không có nhiều sự khác biệt ở sự
lựa chọn vàng miếng và vàng nhẫn với chất liệu vàng ta. Ở Việt Nam, sự
điều chỉnh trong chính sách quản lý trong nhiều trường hợp là không trực
tiếp và chưa tạo ra cơ chế pháp lý riêng dành cho những nhóm chủ thể tham
gia thị trường khác nhau. Một thị trường vàng với nhiều bộ phận khác nhau
làm công tác quản lý không phải khi nào cũng dễ dàng, đặc biệt là quản lý
tổng số điểm mà người dân có thể đến giao dịch
vàng miếng khoảng gần 2.500 điểm (2.497 điểm) trên cả nước. [18]
Đặc trưng thứ tư của thị trường vàng Việt Nam là một thị trường nhiều
biến động với phương thức giao dịch đơn giản. Trong khoảng 5 năm trước
khi Nghị định 24 – Nghị định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng của
Chính phủ đang có hiệu lực vào thời điểm hoàn thành luận văn – được ban
hành ngày 03/04/2012, thị trường vàng ở Việt Nam chứng kiến nhiều biến
15
động có ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội và kinh tế Việt Nam.
Trong thời gian này, giá vàng trong nước luôn ở trạng thái biến động không
theo bất cứ quy luật nào của thị trường. Những đợt tăng, giảm giá mạnh bất
thường kéo theo những đợt đổ xô đi mua, bán vàng của đông đảo dân chúng.
Không ít người đã mất mát khối tài sản tiết kiệm của mình khi giá vàng đột
ngột đảo chiều chỉ trong thời gian ngắn. Lịch sử giao dịch trên thị trường vàng
từng ghi nhận các trường hợp giá vàng trong một ngày có thể đội thêm vài triệu
đồng/lượng. Bên cạnh đó, giá vàng trong nước luôn có mức chênh lệch lớn với
thị trường vàng quốc tế, mức chênh lệch có thể từ vài trăm nghìn đồng cho đến
vài triệu đồng một lượng. Trong nhiều trường hợp, diễn biến tăng hoặc giảm
của giá vàng thế giới không ảnh hưởng và không thay đổi cùng chiều với giá
vàng tại Việt Nam. Trong những diễn biến kể trên, giao dịch về vàng được thực
hiện chủ yếu trên phân khúc thị trường vàng vật chất – nơi vàng được chuyển
giao ngay giữa các chủ thể thực hiện các hoạt động mua bán. Giao dịch vàng
trên tài khoản hay với vàng giấy theo cách định nghĩa của tác giả Gary
O’Callaghan mặc dù không còn quá mới mẻ với thị trường trong nước nhưng
cũng mới chỉ được thực hiện ở những mô hình đơn giản. Sau một thời gian
ngắn nở rộ trong khoảng bốn năm từ 2006 đến 2009 cùng sự xuất hiện của các
sàn vàng trong nước, hoạt động kinh doanh vàng tài khoản đã bị yêu cầu
chấm dứt. Các giao dịch vàng tài khoản trong thời gian từ sau đó cho đến nay
ảnh hưởng không nhỏ. Là một thị trường có nhu cầu rất lớn, nhưng chưa bao
giờ Việt Nam được biết đến là quốc gia có sản lượng vàng phong phú. Nguồn
cung vàng của Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào hoạt động nhập khẩu. Vì vậy,
phía cung của thị trường vàng Việt Nam gắn bó với các định hướng của chính
sách nhập khẩu tới từ phía cơ quan quản lý. Lâu nay, chính sách này vẫn được
biết đến là nằm trong vòng kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước với công cụ hạn
17
ngạch nhập khẩu. Sự phụ thuộc ấy làm ảnh hưởng rất lớn tới một trong những
chức năng quan trọng của thị trường vàng là quyết định về giá cả của hàng
hóa của thị trường – giá vàng. Vô hình chung, khuyến khích một hành vi có
ảnh hưởng xấu ở những thời điểm giá thị trường xuống thấp là hành vi đầu cơ
của nhiều chủ thể trên thị trường.
Hai là, Chính sách quản lý của Nhà nước về thị trường vàng. Chính
sách quản lý của Nhà nước là một trong những yếu tố tác động quan trọng
nhất tới thị trường vàng trong nước. Mặc dù sự tồn tại của thị trường vàng là
một đòi hỏi khách quan của thực tiễn đời sống xã hội sinh động, nhưng cách
thức vận hành và mức độ tham gia của các chủ thể ở vào từng giai đoạn khác
nhau thường xuất phát từ lý do của những thay đổi về chính sách. Sự vận
động của thị trường vàng Việt Nam theo nghiên cứu của luận văn mặc dù chỉ
giới hạn trong khoảng thời gian hơn hai mươi năm nhưng cũng đã chứng kiến
tới ba lần điều chỉnh chính sách lớn của Nhà nước. Trong giai đoạn đầu, khi
Chính phủ Việt Nam tạo ra những cơ sở pháp lý đầu tiên cho hoạt động giao
thương về vàng, là nhằm khơi thông dòng chảy của lượng vàng tích trữ trong
dân chúng đối với nền kinh tế. Ở vào giai đoạn thứ hai, theo xu hướng khuyến
khích khai thác mọi nguồn vốn nhàn rỗi, mở rộng hoạt động kinh doanh trong
lĩnh vực tài chính, du nhập vào trong nước các loại hình đầu tư tài chính hiện
đại, sự đa dạng của các giao dịch về vàng bước đầu được cho phép, và sau đó
đã chứng kiến nhiều bất ổn với đời sống kinh tế xã hội do sự thiếu hụt của cơ
sở pháp lý điều chỉnh. Đến giai đoạn thứ ba, chính sách của Nhà nước được
tác động đến giá vàng của thị trường vàng trong nước.
Ba là chính sách tiền tệ quốc gia của Nhà nước. Được định nghĩa tại
Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “Chính sách tiền tệ quốc gia là các
quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền,