1
MỞ ĐẦU
1. Mục đích, ý nghĩa chọn đề tài
Truyện cười dân gian Việt Nam ra đời và phát triển cùng với quá trình
lao động sản xuất và đời sống nhân dân. Khi tư duy con người tương đối phát
triển, họ ý thức được tầm quan trọng của truyện cười. Nó không chỉ đem lại
tiếng cười mua vui cho thiên hạ để cho họ giải tỏa những mệt nhọc, vất vả sau
một ngày lao động tích cực, mà truyện cười còn có tác dụng phê phán, châm
biếm, mỉa mai các thói hư tật xấu của con người. Có khi nó được xem như là
một thứ vũ khí sắc bén để đấu tranh chống lại những bất công của tầng lớp
trên. Mà tiếng cười ấy, nó phản ánh sự thông minh, tư duy sâu sắc của người
Việt nói chung và những con người có trí tuệ, khả năng giao tiếp nhanh nhạy
nói riêng. Ở đó đã có sự kết tinh của một quá trình chọn lọc, khái quát và nó
xứng đáng được xem là một tác phẩm hoàn chỉnh, một chỉnh thể thống nhất và
toàn vẹn.
Do đó truyện cười là một phần không thể thiếu trong nền văn học dân
gian Việt Nam nói chung, cũng như đối với cuộc sống của nhân dân lao động
nói riêng, vì thế mà truyện cười luôn được đông đảo nhân dân ta yêu mến và
lưu truyền rộng rãi. Có thể thấy rằng từ nông thôn đến thành thị, từ Bắc đến
Nam, ở đâu thì những câu chuyện cười dí dỏm vẫn luôn luôn mang đến cho
người đọc nhiều điều thú vị, cũng như phút giây thư giãn bổ ích. Cười là một
hiện tượng sinh lí rất tự nhiên trong cuộc sống hằng ngày, nó làm xua tan đi
tất cả những mệt nhọc, sau một ngày làm việc, giúp cho tinh thần con người
được sảng khoái hơn. Vì vậy mà trong ca dao đã có câu nói rằng:
Con người có miệng có môi
Khi buồn thì khóc khi vui thì cười
2
Không chỉ vậy thông qua truyện cười dân gian, còn cho chúng ta thấy
được bức tranh dung toàn cảnh về một thời kì xã hội phong kiến Việt Nam đã
đi qua. Đó là một bức tranh gồm nhiều sắc thái, cung bậc thăng trầm khác
nhau, để rồi từ đó giúp người đọc thấy được giá trị của bộ truyện cười đã
khả năng bao gồm những truyện như trên, tất nhiên vấn đề phân loại phải
được đặt ra, do đó mà công trình nghiên cứu của Văn Tân trong “Tiếng cười
Việt Nam” và Nguyễn Hồng Phong trong công trình “Truyện tiếu lâm” đã giúp
cho bạn đọc hiểu được sự khác nhau ở các thể loại trong truyện cười, như theo
Văn Tân: giữa truyện tiếu lâm và truyện khôi hài có sự khác nhau về mục
đích, về nội dung, về cách cấu tạo, về ý nghĩa và kết quả.
Ngoài ra còn phải kể đến công trình nghiên cứu về Văn học dân gian
của Nguyễn Văn Bổng, trong đó có công trình “Thủ Thiệm, tiếng cười dân
gian độc đáo Xứ Quảng” do ông sưu tầm và biên soạn. Báo Quảng Nam cuối
tuần (22 và 23/12/2007) đã nhận định, cuốn “Thủ Thiệm, tiếng cười dân gian
độc đáo Xứ Quảng” là một công trình đầy đủ,đa chiều về một nhân vật văn
hoá dân gian độc đáo- chủ thể sang tạo của nhiều truyện cười và đồng thời
cũng là người đóng vai trò chính trong những truyện cười lí thú đó”.
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu như:
Đỗ Bình Trị -Văn học dân gian, tập 1-Nxb Giáo dục, 1991 được xem là
cuốn giáo trình cơ sở được viết dưới dạng tinh giản và diễn đạt phù hợp với tư
duy sinh viên. Công trình này đã góp phần giúp chúng ta tiếp cận và hiểu rõ
hơn sự hình thành và phát triển của văn học dân gian Việt Nam trong lịch sử,
cũng như các phương pháp, quá trình nghiên cứu văn học dân gian ở nước ta.
4
Không chỉ vậy trong Lịch sử Văn học Việt Nam, tập 1:Văn học dân gian.
Giáo trình ĐH sư phạm, 1961 (Bùi Văn Nguyên và nhiều tác giả biên soạn )
cũng đã cho chúng ta nắm rõ hơn một số vấn đề chung về lịch sử văn học Việt
Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XVIII, giúp độc giả thấy được sự phát triển
của văn học dân gian qua từng giai đoạn khác nhau của lịch sử, cũng như sự
phong phú, đa dạng của các thể loại, sự ra đời kèm theo những đặc điểm của
từng thể loại trong nền văn học dân gian Việt Nam.
Trên thực tế, có thể có nhiều công trình, bài viết khác nữa, nhưng do điều
kiện khách quan và chủ quan, chúng tôi chưa có điều kiện tham khảo hết. Vì
vậy mà những công trình nghiên cứu trên tuy còn sơ lược, nhưng đã ít nhiều
- Diêm Vương xuất hiện 7 lần chiếm 8,75%
- Thầy đồ xuất hiện 22 lần chiếm 27,5%
- Thầy lang xuất hiện 12 lần chiếm 15%
- Quan lại xuất hiện 10 lần chiếm 12,5%
Dựa vào kết quả khảo sát được ở trên đây, ta thấy rằng tần số các
hình tượng các nhân vật xuất hiện rất phong phú và đa dạng trong truyện
cười. Vì thế mà phạm vi khai thác cũng như tìm hiểu về nó rất rộng, do
đó mà chúng tôi ở đây chủ yếu tập trung vào nghiên cứu bức tranh xã hội
phong kiến Việt Nam trong truyện cười không kết chuỗi.
4. Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng các phương pháp như:
Phương pháp thống kê: Thống kê các truyện cười dân gian Việt Nam,
theo hệ thống các công trình nghiên cứu đi trước. Trên cơ sở đó để có một cái
nhìn khách quan, tổng thể hơn về vấn đề.
6
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Cùng với việc thống kê cần phải có
một óc phân tích, tổng hợp một cách logic, hợp lý. Vừa tổng hợp vừa đưa ra
những dẫn chứng để phân tích, mổ xẻ vấn đề.
Phương pháp logic học: Bất kì một vấn đề gì cũng cần phải sử dụng
phương pháp này, dù ít dù nhiều. Bởi phương pháp logic giúp ta có một cách
phân tích đúng đắn cả về trình tự sắp xếp, cách nghiên cứu khoa học và tiết
kiệm được thời gian.
Phương pháp đối chiếu - so sánh: Sử dụng phương pháp này để đối
chiếu, so sánh sự giống và khác nhau giữa các truyện cười trong văn học dân
gian.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài chúng tôi kêt cấu gồm có ba
chương sau:
Chương 1 Khái quát chung về truyện cười dân gian Việt Nam
Chương 2 Bức tranh xã hội phong kiến Việt Nam trong truyện cười
8
triển của lịch sử dân tộc. Nhân dân ta trong trường kì chiến đấu giành cơm áo
tự do, không phải chỉ có trầm tư mặc tưởng, không phải chỉ biết hì hục làm
việc, mà còn biết vui chơi một cách lành mạnh, nụ cười trên môi không bao
giờ tắt, điều đó đã chứng minh rằng truyện cười có một vị trí quan trọng trong
đời sống sinh hoạt của người dân, nó góp phần làm cho cuộc sống trở nên vui
vẻ, nhân dân cảm thấy đỡ mệt mỏi hơn sau một ngày lao động vất vả.
Đồng thời truyện cười còn là nơi người ta gửi gắm những điều không
thể nói, nó chính là thứ vũ khí sắc bén của nhân dân dùng để đấu tranh cho
cuộc sống ngày hợp lí, tốt đẹp hơn. Giai cấp phong kiến từ lâu đã trở thành
một trở ngại trên con đường tiến hoá của dân tộc, cuộc đấu tranh chống lại chế
độ phong kiến đã có cội rễ từ rất lâu, đặc biệt trong truyện cười ta lại càng
thấy rõ hơn về điều đó. Hệ thống truyện cười đã góp phần vạch rõ những cảnh
ngược đời trong xã hội phong kiến, sự giả tạo của những kẻ bốc lột, từ vua
quan cho đến cường hào, cùng với bè lũ tay sai của chúng. Truyện cười đã giữ
vị trí quan trọng, trong việc góp phần thúc đẩy sự tan rã nhanh chóng uy thế
chính trị của giai cấp phong kiến lỗi thời. Không những vậy, chúng ta còn biết
rằng cái lỗi thời, xấu xa không phải chỉ tìm thấy trong giai cấp bóc lột, mà còn
có thể tìm thấy trong hang ngũ nhân dân lao động, trong cuộc sống đang tiến
lên mà những tập tục cũ vẫn cứ níu giữ người ta lại, hơn nữa trong xã hội cũ,
khi mà ý thức hệ chính thống của thời đại là ý thức hệ của giai cấp thống trị thì
nhân dân một mặt đấu tranh chống giai cấp bốc lột, một mặt lại vẫn cứ chịu
ảnh hưởng xấu của nó. Cho nên truyện cười lại lần nữa có thể tìm thấy đối
tượng trong những hành vi nào đó của một số người trong nhân dân lao động,
tiếng cười này có ý nghĩa đấu tranh mạnh mẽ, không phải là đấu tranh chống
giai cấp bốc lột mà đó còn là đấu tranh trong nội bộ nhân dân. Do đó mà ta có
thể khẳng định rằng, truyện cười có một vị trí quan trọng trong nền văn học
dân gian Việt Nam.
9
1.1.2. Phân loại truyện cười
Theo chúng tôi nghĩ cách phân loại truyện cười dễ được chấp nhận nhất
có lẽ là cách phân loại trong Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên, đã phân loại truyện cười như sau:
Truyện cười chia thành hai loại chính:
Truyện cười kết chuỗi: Là những mẫu giai thoại hài hước xoay quanh
một nhân vật có thực được coi là có thực (Trạng). Nhưng đó là truyện. Còn
con người, phải có một con người có thật, phải từ một con người có thật và ta
đã tim được con người đó. Đọc sách, đọc những bài phú và gia phả, tôi đủ tin,
rất tin…. (Phạm Văn Đồng)
Truyện cười không kết chuỗi : Là truyện cười có kết cấu hoàn chỉnh tồn
tại độc lập mang tính chất phiếm chỉ (chỉ chung, không có tính xác định cụ thể
về thời gian, không gian, địa điểm, nhân vật). Các nhân vật ở loại truyện này
thường chỉ được giới thiệu về thành phần, địa vị xã hội, giới tính chứ không có
tên riêng (như anh lính hầu, anh đầy tớ, quan huyện, thầy đồ, lí trưởng, nhà
sư….) có khi nhân vật chỉ được gọi tên bằng một tính cách (anh mê ngủ, anh
sợ vợ, chị hay ăn quà, anh chàng lười…).
Truyện cười không kết chuỗi (hay truyện cười phiếm chỉ) ở nước ta rất
phong phú, đa dạng gồm nhiều tiểu loại khác nhau như:
Truyện khôi hài(hay hài hước) tiếng cười có tác dụng mua vui là chủ
yếu, không hoặc ít có tính chất phê phán đả kích.
Truyện trào phúng (hay châm biếm) chứa đựng tiếng cười có nội dung
phê phán, đả kích mạnh mẽ.
11
Truyện tiếu lâm: Là những truiyện cười dân gian mang yếu tố tục, có
tác dụng gây cười mạnh mẽ.
1.2 Hiện thực lịch sử xã hội phong kiến Việt Nam
Tình hình xã hội phong kiến Việt Nam có thể tóm lược như sau: Thế kỉ
XV là thời kỳ toàn thịnh của xã hội Việt Nam, với sự lên ngôi của ý thức hệ
phong kiến. Từ thế kỉ XVI chế độ phong kiến Việt Nam bước vào thời kì suy
tàn, giai cấp phong kiến không còn tác dụng tích cực đối với lịch sử, với mâu
Trạng Quỳnh, Truyện Ba Giai, Tú Xuất….những hệ thống truyện này đã phục
vụ đắc lực cho mục đích của nhân dân là đánh vào chế độ phong kiến. Và sau
đó là phải kể đến hệ thống Truyện cười dân gian Việt Nam, đã vạch rõ những
cảnh ngược đời trong xã hội phong kiến, sự giả tạo được che dấu cẩn thận của
những kẻ bóc lột, từ vua quan cho đến những kẻ tay sai phục vụ cho chúng.
Và đến thế kỉ XVIII thì sự khủng hoảng đã đến mức trầm trọng. Lúc này mâu
thuẫn xã hội trở nên gay gắt, mâu thuẫn chủ yếu và quyết liệt nhất là mâu
thuẫn giữa quần chúng nhân dân với giai cấp phong kiến thống trị. Lúc này
chúng tỏ ra không còn năng lực quản lí và lãnh đạo nhà nước, mà rơi vào cảnh
ăn chơi trụy lạc, những thiết chế của xã hội phong kiến đã làm trở ngại cho
sức sản xuất của xã hội, nông nghiệp thì đình đốn, kinh tế hàng hóa manh nha
từ sớm không có điều kiện phát triển, công thương nghiệp dẫm chân tại chỗ,
đời sống nhân dân đói kém. Ngoài ra còn có hàng loạt mâu thuẫn khác tuy thứ
yếu nhưng cũng khá gay go, quyết liệt nhưng cũng không hòa hoãn. Đó là
mâu thuẫn giữa phong kiến thống trị với tiểu phong kiến tri thức bình dân, và
cuối cùng là mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp thống trị.
13
Đời sống nhân dân đặc biệt là nông dân rất cực khổ, những nạn hạn hán,
bão lụt, đói kém, bắt phu đi lính…xảy ra liên tục, chính quyền từ trên xuống
dưới đều đỗ nát, mất hết uy tín, đạo đức suy đồi, kỷ cương không còn gì nữa,
cung vua phủ chúa chẳng còn là nơi tôn nghiêm như trước, mà trở thành nơi
hành lạc dâm ô của bọn quý tộc, quan lại, trường thi cũng trở thành nơi buôn
văn bán chữ. Có thể nói rằng đến thế kỉ XVIII chế độ phong kiến Việt Nam
đã suy sụp trầm trọng không thể nào cứu vãn được nữa. Đây là giai đoạn sắp
sửa đi vào hồi kết thúc của nó, lúc này chế độ phong kiến một mặt gây ra đau
thương tang tóc bắt người ta phải khóc, mặt khác nó lại phơi bày ra hững cái
xấu xa, chướng tai gai mắt, nhố nhăng, bỉ ổi khiến ta phải cười. Có thể nói thế
kỉ XVIII là giai đoạn bi kịch, đồng thời cũng là giai đoạn hài kịch của chế độ
phong kiến Việt Nam, như Mác và Ănghen bàn về văn học và nghệ thuật đã
có nói rằng:
kẻ xứng đáng bỏ vào vạc đầu là những kẻ có hại cho xã hội, cũng như là
những thầy thuốc chữa bệnh theo lối gà mờ làm chết nhiều người thì mới hợp
lẽ. Vậy mà ở đây chính sự thối nát và ngu xuẫn, của một bậc được xem là ân
minh, đang nắm cái quyền sinh sát của con người lại có thể nhanh chóng đưa
ra một quyết định phi lí như vậy, Diêm Vương ở đây hay chính là một sự ẩn
dụ về ông vua của nhân dân ta ở trên nhân gian, liệu với sự cai trị thối nát như
vậy thì còn ai dám làm việc thiện nữa, mà chỉ còn là một phường “đầu trộm
đuôi cướp” mà thôi. Vì vậy mà có câu nói cuối cùng của hồn thầy thuốc “Xin
đại Vương hoãn lại cho một đêm, để tôi về mach con trai tôi đi ăn trộm. Con
gái tôi đi làm đĩ, chớ làm chuyện phúc đức mà bị bỏ vạc dầu”. Câu nói đó cho
chúng ta thấy được những kẻ đứng đầu bộ máy nhà nước chỉ là những kẻ
không hề biết gì về công lí, lẽ phải, chúng chỉ biết dùng sự thối nát của mình
để phán xét mà thôi.
Hay khi nhân dân muốn phê phán sự thối nát, bạc nhược được che dấu
rất cẩn thận sau bộ mặt luôn tỏ vẻ ra là ân minh, độ lượng của các bậc vua
chúa trong Tao thèm quá[17;184] khi oan hồn con lợn xuống âm phủ gặp
Diêm Vương, để tố cáo bọn đồ tể, và Diêm Vương bảo nó khai rõ đầu đuôi sự
việc, khi ngài hỏi vặn nó để biết sau khi nó bị dội nước sôi và cạo long rồi thì
bọn đồ tể còn làm gì nữa, chúng ta thấy rằng ông vua ở cõi âm này quả là quan
tâm đến số phận đáng thương của con lợn kia. Ngài hỏi cặn kẽ đến như thế
chắc là để biết ch hết tội ác mà định một sự trừng phạt nghiêm khắc. Diêm
Vương thật xứng đáng nói lên điều phán quyết cuối cùng, đối với mọi hành vi
tội ác ở thế gian này. Thế rồi lợn kể tiếp hết sức tin tưởng rằng lời khai của
mình giúp cho Diêm Vương cầm cân nẩy mực được chính xác hơn, rằng vị
thần công lí này sẽ giải cho mình mối hận thù to lớn. Lợn kể kĩ lưỡng, tỉ mĩ
công việc nấu nướng của bọn người độc ác, cũng vì mục đích ấy, kể đến đoạn
16
“bắc chảo lên…phi hành mở cho thơm, cho mắm muối vào xào” thì ngài vội
ngăn lại: “Thôi, thôi! Đừng nói nữa” có lẽ ngài không đủ can đảm nghe những
điều quá thương tâm ấy. Nhưng không thật bất ngờ “tao thèm quá” thế là đến
nghe thấy, hay chính là “giàn lí” nghe thấy, vợ và giàn lí đỗ, thật là một sự so
sánh buồn cười của ông quan nọ, liệu một người sợ vợ đến mức như vậy có
xứng đáng ra mặt dạy dỗ con dân được hay không, trong khi mình lại là một
kẻ bạc nhược trong gia đình, để vợ trèo đầu cưỡi cổ.
Hay ta cười ông quan trong Bẩm quan lớn ngài minh lắm lại có cái “cá
tính” cầu kì nhưng cũng rất “quan”. Dù đang bận “ quân quốc trọng sự” là đốc
thúc dân chúng đắp đê, vậy mà ông vẫn ông vẫn không thể bỏ được cái lệ
đánh răng, bằng cái lông đuôi voi vẫn quen dung. Để quên nó ở nhà, ông bắt
một anh lính hoả tốc về nhà bảo quan bà đưa cho. Nhưng tính đãng trí của anh
lính, ngọn gió vô tình, them sự chủ quan oái oăm của quan bà, long thương
con của bà mẹ anh lính, cuối cùng cuối cùng đã giúp cho anh lính nạp được
cho quan một phế phẩm, mà quan dĩ nhiên là phải nghi ngờ phẩm chất, tuy
chưa khẳng định được nguồn gốc. Nghi ngờ đẩy đến nóng giận, và không cầm
được cái nóng giận rất chính đáng, ông đã mắng anh lính bằng câu nói mù mà
trúng “lông của mẹ mày đấy hả?”, khiến cho anh lính không thể kinh ngạc mà
xác nhận sự sáng suốt của ông: “Dạ! bẩm quan lớn ngài minh lắm ạ”, chúng ta
cười trước hết là sự ngốc nghếch của anh lính kia, nhưng mặt khác qua đó thấy
được thực chất của một ông quan, không có trách nhiệm, đã sao nhãng việc
chăm sóc đê điều của dân trong lúc quan trọng, quan đã không thể bỏ cái thú
xỉa răng bằng đuôi voi của mình, để làm cho tốt công việc, thì thật là đáng
trách biết bao. Không chỉ là những ông quan bạc nhược trong nhiệm vụ chức
trách của mình, mà còn có những bậc quan lại vừa tham ăn mà lại hay sợ vợ
18
Đổ mồ hôi mực là một ông quan tiêu biểu cho điều đó, ông ta thích ăn đậu đen
luộc, nhưng lại sợ vợ biết, một hôm nhân lúc vợ đi vắng ông ở nhà luộc đậu ăn
vụng, nhưng chẳng may vợ về, ông ta vội trút đậu vào mũ, đội lên đầu mà đi.
Dọc đường nước đỗ cứ chảy ròng ròng, lem luốc cả mặt, khi mọi người hỏi
ông đáp: “Âý tôi thường có tính đỗ mồ hôi mực như thế đấy” thật là đáng xấu
hổ, một con người đại diện cho một xã hội, vậy mà lại có thể ăn vụng, lại sợ
vợ đến nổi phải chảy cả mồ hôi mực”[17;65]
của bọn quan võ, những viên quan chỉ huy lực lượng vũ trang để bảo vệ ngai
vàng và thành trì của chế độ phong kiến. Mặt khác nó động viên sức mạnh của
nông dân trong các cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình vào thế kỉ XVII –
XVIII giúp họ nhận thức được rằng lực lượng quân sự của nhà nước phong
kiến không có gì là đáng sợ.
Dưới vua là bọn quan lại, trong chế độ phong kiến suy vong bọn quan
lại càng bộc lộ rõ sự thối nát của chúng. Đây là thực chất của một ông quan
Yết thị, vì ngoài đường không có đèn, tối đến, quan đi lại phải người ta, lấy
làm giận lắm. Sáng mai quan ra yết thị “Ai đi đêm phải cầm đèn”, nhưng đêm
hôm ấy, quan đi, lại phải một người, quan hỏi thì người kia trả lời là có đọc
yết thị, nhưng yết thị chỉ nói cầm đèn, chứ không nói cắm nến, chỉ vì sự ngu
ngốc của mình mà quan bị người ta đưa ra hàng loạt lí do, và qua mỗi lần như
vậy, quan lại sửa lại yết thị và ban bố, nhưng dù có thay đổi thế nào thì quan
vẫn không thể thay đổi được một sự thật, đó là quan vẫn là một kẻ ngu xuẫn,
chỉ là trò hề trong mắt nhân dân mà thôi.
Người ta còn cười ông quan trong Bò cạp nước, ta cười trước sự dốt nát
của ông, khi người ta nhờ ông sử hộ vụ kiện về “con sam”, nhưng vì hai vợ
chồng nhà kia không biết, nên cãi cọ nhau, người nói là con cua người nói là
20
con rùa, vì vậy mà chỉ có thể nhờ vào sự sáng suốt, hiểu biết của quan. Nhưng
rồi ta phải bật cười trước sự kết luận đầy ngu ngơ rất quan của ngài.
Con mua cua, mua chẳng nên thân
Thằng nói rùa lại càng thêm rối
Thằng cha xã xử con cá đuối
Cả ba đây đều quấy cả ba
Hễ con dại thì có cha mẹ
Còn dân dại thì nhờ quan xử
Thôi để cho ông phân minh mọi sự
Cho khỏi hoài nghi
Cua, rùa, cá đuối giai phi
chúng nó được. Lại còn một nỗi khi chúng bóp hầu nặn họng người ta ra quá
đáng thì người ta lại gọi bố chúng nó ra người ta chửi”. Nghe đến đây mọi
người đều khâm phục trí thông minh của người kể chuyện đã đặt ra một
nghịch lí :“làm trâu chưa khổ, chưa nhục bằng làm bố bọn trọc phú’’. Rõ ràng
đây là một câu chửi thâm độc mà khéo léo. Đó là một câu trả lời rất thông
minh, nhưng đằng sau lại mang ý nghĩa sâu sắc, nó cho ta thấy được thực
trạng của nhân dân trong xã hội lúc bấy giờ, đó là người dân có làm cho đến
chết vẫn chưa trả hết nợ cho bọn địa chủ.
Truyện cười đã giáng một đòn mạnh vào giai cấp thống trị, để thấy
được bản chất bên trong của chúng. Ngoài mặt thì chúng nói đạo đức, bắt mọi
người phải theo cái đạo đức mà chúng bày đặt ra, nhưng bản thân chúng lại
làm điều ác, bất lương, không tuân theo những đạo đức đó, thì người ta chỉ
22
căm ghét, khing bỉ chúng. Tiêu biểu Rắm của con đấy ạ!, có một nội dung
phản phong sâu xắc, nó là một nhát búa bổ vào bộ mặt giả tạo của bà huyện
ngu xuẩn kia. Ta hãy phu nhân của một bậc phụ mẫu, có cách ứng sử văn
minh đối với người đầy tớ một cách trơ trẽn như thế nào, khi mà bà ta thấy
xấu hổ với cái rắm của mình, nhưng anh đầy tớ hiền lành, đã không biết nhận
thay cho chủ “Đồ ngu, đồ ngu, đồ không ra gì! Mày như người ta thì mày nhận
là của mày có được không?”[17;183]. Khi người ta cái câu vô nghĩa lí, trái tự
nhiên của bà huyện, là ta nhận thức rõ một trường hợp thất bại về sự ngu xuẩn,
của một kẻ vì quá nặng đầu óc sĩ diện mà đã làm một việc không bình thường.
Chúng ta phê phán hành động trái tự nhiên đó nên chúng ta cười, đồng thời
chúng ta phê phán động cơ của hành động đó mà chúng ta ghét con người ấy.
Hơn nữa qua câu truyện, chúng ta đã vạch trần được sự giả tạo của luận điệu
“Những người ở giai cấp thống trị thì thanh cao, những người ở trong hàng
ngũ nhân dân thì thô bỉ”[13;134].
Hoặc khi tố cáo một cách sâu xắc sự bóc lột của giai cấp thống trị, sự
sung sướng của chúng, được xây dựng trên sự đau khổ của người khác, trong
Sang cả mình con là một thí dụ, một lão đi chơi về, mùa hè nóng nực, mồ hôi
Trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ, không chỉ là sự tha hóa, xuống
cấp của bộ máy cai trị mà đó còn là sự lũng đoạn, tham nhũng của những bậc
quan lại ở địa phương, ở đâu cần “pháp luật” thì ắt sẽ không thể thiếu người
bạn đồng hành là “đồng tiền” đi cùng. Quyền lực của pháp luật thì thể hiện ở
đằng trước công đường, còn đồng tiền thì đi bằng cửa sau, để sắp xếp mọi
việc. Ta có thể bắt gặp điều đó trong truyện Nhưng nó lại phải bằng hai mày
[17;179]. Đó là việc “cải với ngô” đánh nhau, rồi mang nhau ra kiện, cải vì sợ
kém thế, nên lót trước tiền cho quan năm đồng, nhưng khi sử vẫn bị phạt đánh
24
một chục roi, chỉ vì “ngô” kia cũng không vừa cũng đã đút sẵn tiền cho quan
trước nữa, hơn cả số tiền của chàng cải kia. Vì vậy mà có chuyện “cải” kiện
lại “xin xét lại. Lẽ phải về con mà” nhưng thật trớ trêu, khi quan lại nói ra một
sự thật chẳng mấy chút vui vẻ gì “Tao biết mày phải nhưng nó phải bằng hai
mày!”. Qua truyện trên ta thấy rằng ba con người kia đang thực hiện hành
động mua bán pháp luật, thông qua dao dịch bằng tiền, hai kẻ kiện nhau,
nhưng không dám chắc là mình đúng, nên đút lót cho quan, còn quan thì
không cần biết phải trái, đúng sai là gì, chỉ cần tiền đi trước một bước là có thể
xử xong tất cả, tùy theo túi tiền của từng người.
Không chỉ có vậy, pháp luật luôn được bọn quan lại lợi dụng vào việc
làm giàu, họ dùng cái quyền lực của mình để sai khiến pháp luật, ra sức làm
những điều không phải, chỉ nhằm mục đích moi được tiền của người khác, do
đó mà những kẻ biết thời thế “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn” luôn là
những kẻ được pháp luật bảo vệ, ngược lại những kẻ không biết xuôi theo
đồng tiền thì sẽ bị đánh oan, vì vậy mà có chuyện, quan chưa biết đầu đuôi ra
sao, đã cho lôi người ta ra đánh tàn tệ, đến lúc nào xì tiền ra mới thôi Dân
giần quan. Đâu chỉ có thế, đồng tiền còn có một khả năng khác, là nó có thể
làm cho người ta sao nhẵng cả chức trách, nhiệm vụ được giao, mà làm ngược
với pháp luật, đó là chuyện Lục đinh và Lục giáp hai kẻ được thiên đình giao
cho việc, bắt thầy Lại bỏ vào vạc dầu, vì đã làm sai ý của thiên đình, nhưng
chỉ vì ham số tiền, cũng như ý định có một bữa nhậu xỉn, nên hai người đã
ngốc thế, ai lại bảo tuổi “Tí”! giá cứ bảo là tôi tuổi “Sửu” để họ đúc lấy một
con trâu có phải hay biết mấy không nào!”[17;191]. Thì ra sự thanh liêm của
quan chỉ là giả tạo, cũng có thể vì trong khi làm quan “ngài” đã vì những lí do
nào đó, mà phải làm ra vẻ thanh liêm, nhưng lòng tham của “ngài” lại nhiều