Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong cuộc khủng hoảng của xã hội
phong kiến Việt Nam
Những hiện tượng lịch sử xuất hiện trong thượng từng kiến trúc dưới nhiều hình thái
tư tưởng phức tạp: chính trị, pháp lý, tôn giáo, nghệ thuật, triết lý; nhưng tất cả
những hình thái đó, xét tới cùng, là do phương thức sản xuất đời sống vật chất quy
định. Vậy muốn hiểu rõ sự biến chuyển trong thượng từng kiến trúc, trước hết phải
nghiên cứu sự biến chuyển vật chất trong điều kiện kinh tế của sự sản xuất, những
mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
Nghiên cứu lịch sử Việt-nam, chúng ta thấy từ ba thế kỷ nay xã hội Việt-nam trải qua
những cuộc đảo lộn sâu sắc, chế độ phong kiến suy đồi, nhà Nguyễn bán nước cho
giặc xâm lăng, chính sách tàn ác của bọn thực dân và cuộc cách mạng vĩ đại phản đế
phản phong của nhân dân Việt-nam dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch, giai cấp và
Đảng công nhân. Những hiện tượng này phát hiện dưới hình thức chính trị và văn
hóa, nhưng nguyên nhân căn bản vẫn là cuộc đảo lộn vật chất trong đời sống kinh
tế, sự đối kháng giữa những đòi hỏi phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất trong xã hội phong kiến và thực dân phong kiến. Tất nhiên phải căn cứ vào sự
đối kháng đó, thì mới đánh giá đúng những sự biến chuyển trong thượng tầng kiến
trúc. Thiếu phân tích những điều kiện kinh tế, thì dẫn đi vào phương diện duy tâm,
hoặc nhận những giải pháp một chiều, làm lu mờ trách nhiệm của mọi vai trò trong
lịch sử.
Một thí dụ điển hình của phương pháp sử học duy tâm là cuốn “Việt-nam sử lược”
của Trần-Trọng-Kim. Theo tác giả này, sở dĩ nước ta đã mất là vì bọn sĩ phu, nắm
quyền thống trị, lại bất lực và suy đồi, không hiểu thời thế, cứ khư khư giữ lấy thói
cũ mà không chịu đi học những điều hay của thiên hạ. Tức là nếu bọn vua quan ngày
xưa có tài có đức, và chịu khó đi học văn hóa Âu tây thì không đến nỗi thất bại. Nhất
là, theo ý kiến của tác giả, chính phủ Pháp cũng không có ý chí xâm lăng: sở dĩ họ
can thiệp vào nước ta, là vì triều đình nhà Nguyễn đã cấm đạo và giết hại những
người giáo sĩ! Cuốn sách của Trần-Trọng-Kim chứng minh rằng sử học duy tâm là
một vũ khí tuyên truyền cho bọn thực dân phong kiến: nước ta mất không phải là vì
đế quốc xâm lược nhưng vì những sai lầm của bọn sĩ phu, mà những sai lầm này
cũng không phải là do bản chất của chế độ phong kiến, nhưng chỉ vì khuyết điểm cá
Hai thế kỷ XVIII và XIX là hai thế kỷ khủng hoảng, giai cấp phong kiến càng ngày
càng trụy lạc, nông dân luôn luôn nổi dậy. Mâu thuẫn sâu sắc đã xuất hiện trong
phương thức sản xuất phong kiến: quan hệ sản xuất phong kiến, trước đây là hình
thái phát triển của lực lượng sản xuất, đã trở thành những dây ràng buộc, cản trở
những lực lượng ấy. Sự đối kháng này có thể đưa đến hai kết quả khác nhau. Một là
những quan hệ phản động bóp nghẹt và đi đến chỗ thủ tiêu lực lượng sản xuất,
phong trào quần chúng bị tê liệt, nhân dân không còn sức mà khởi nghĩa, xã hội đi
vào con đường tan rã. Nhiều nước Ả-rập và Ấn-độ đã xa vào tình trạng này. Một
trường hợp thứ hai là những lực lượng sản xuất tuy bị cản trở, nhưng vẫn tỏ năng lực
phát triển, phong trào quần chúng lên cao, nhân dân lao động nổi dậy tìm đường giải
phóng. Trong xã hội Việt-nam thế kỷ XVIII, XIX, không thể nói rằng những lực lượng
sản xuất đã bị thủ tiêu, hay phong trào quần chúng đã bị tê liệt. Trái lại, nông dân
luôn luôn khởi nghĩa, và những cuộc khởi nghĩa đó thể hiện những khả năng phát
trỉên của xã hội Việt-nam trong lúc chế độ phong kiến suy tàn. Mà sở dĩ giai cấp
phong kiến càng ngày càng thối nát, cũng là vì lực lượng của nhân dân đương lên.
Tuy nhiên nước ta ngày ấy chưa có yếu tố tư bản chủ nghĩa. Mà đây lại có cái lập
luận rằng vì chưa có giai cấp tư bản dân tộc lãnh đạo, cách mạng nông dân Việt-nam
cứ phải đi đường vòng trong phạm vi phong kiến. Tức là một triều xuống thì một
triều khác lên, nhưng chế độ vẫn là chế độ phong kiến. Vậy trước sự xâm lược của
bọn tư bản thực dân, nước ta không thể nào chống nổi. Vì theo quy luật lịch sử chế
độ phong kiến phải nhường chỗ cho chế độ tư bản, mà trong nước lại không có điều
kiện để làm một cuộc cách mạng tư bản, vậy mất nước là lẽ dĩ nhiên – Nhưng đây
mới là suy luận một cách chung chung. Phân tích cụ thể thì thấy rằng tình hình nước
ta lúc bấy giời không đên nỗi bi quan như thế. Tuy chưa có yếu tố tư bản chủ nghĩa,
xã hội Việt-nam vẫn có khả năng phát triển, tức là cải lương một phần nào phương
thức sản xuất phong kiến. Những khả năng ấy kết hợp với điều kiện thực tại của thị
trường thế giới, có thể mở đường giải phóng.
Phương thức sản xuất phong kiến nói chung bao gồm bốn bộ phận: kinh tế điạ chủ
bóc lột tô, kinh tế nông dân tư hữu, thủ công thương nghiệp tư nhân và thủ công
thương nghiệp nhà nước phong kiến. Bộ phận địa chủ là chủ yếu. Bộ phận nông dân
lượng sản xuất nông nghiệp phát triển, củng cố bộ phận kinh tế nông dân tư hữu,
nâng cao nhu cầu thị trường, thúc đẩy công thương nghiệp tư nhân, gây mầm phát
triển ngọai thương. Một mặt khác thì điạ chủ bóc lột tô tức, chiếm đoạt ruộng đất của
nông dân, nhà nước phong kiến trưng dụng thợ thủ công, hạn chế ngoại thương. Đến
một giai đoạn nào đấy, điạ chủ tập trung ruộng đất, nhưng lại không có khả năng
phát triển sản xuất, nông dân tư hữu bị phá sản, nông nghiệp bị kìm hãm, nhu cầu
thị trường càng ngày càng rút hẹp, thủ công thương nghiệp tư nhân mất cơ sở kinh
tế, đồng thời bị tổ chức thủ công nghệ quan liêu lũng đoạn, ngoại thương bị cấm chế,
kinh tế hàng hóa bế tắc.
Đó là hoàn cảnh khủng hoảng điển hình trong xã hội phong kiến suy đồi. Hoàn cảnh
ấy thực hiện trong lịch sử ta vào cuối nhà Trần, cuối thời Lê sơ, thời Lê mạt và dưới
triều nhà Nguyễn. Gặp những giai đoạn này, sử cũ nêu những hiện tượng tản nát
theo quan điểm phong kiến: triều đình thối nát, dân đói rách lưu vong, “giặc cướp”
nổi lên khắp nơi. Nhưng đây chỉ là mô tả sự việc một cách hời hợt. Những thời ấy là
thời suy tàn của chế độ phong kiến, nhưng cũng là thời đấu tranh kịch liệt của nhân
dân, thời phôi thai của xã hội. Những cuộc nông dân khởi nghĩa, mà sử cũ chép là
“giặc cướp”, chứng minh rằng những lực lượng sản xuất bị kìm hãm nhưng chưa bị
thủ tiêu, xã hội Việt-nam còn khả năng phát triển. Những đám đông nông dân lưu
vong là những sức lao động không được sử dụng và đòi hỏi một sự thay đổi trong xã
hội.
Tất nhiên nước ta ngày ấy chưa có điều kiện làm một cuộc cách mạng tư bản chủ
nghĩa, nhưng không phải vì thế mà hoàn toàn không có giải pháp. Những lực lượng
sản xuất cần được giải phóng đây chưa phải là lực lượng tư bản chủ nghĩa, nhưng
mới là lực lượng nông nghiệp tiểu quy mô và thủ công nghiệp. Vậy vấn đề chưa phải
là đánh đổ chế độ phong kiến nhưng mới là khôi phục bộ phận kinh tế nông nghiệp
tư hữu, và mở đường cho kinh tế hàng hóa đơn giản. Thực tế trong lịch sử Việt-nam,
những triều mới lên sau một cuộc khủng hoảng của xã hội phong kiến, cũng có giải
quyết một phần nào vấn đề ruộng đất cho nông dân và phát triển thủ công thương
nghiệp.
Ví dụ như Lê-Lợi, sau khi giải phóng tổ quốc, đã tịch thu ruộng đất mà bọn việt gian
phát triển trong phạm vi phong kiến, mới có thể gây những yếu tố tư bản chủ nghĩa.
Phải kết hợp điều kiện trong nước và ngoài nước mới vượt qua được những hạn giới
hẹp hòi của phương thức sản xuất phong kiến. Ví dụ như nước Anh thế kỷ XV, đã có
một nền kinh tế hàng hóa đơn giản quan trọng, phát triển trên cơ sở nông nghiệp tư
hữu phồn thịnh. Kết hợp với những đòi hỏi dồi dào của thị trường lục địa Âu châu và
sự mở mang của thị trường thế giới, đầu thế kỷ XVI, kinh tế hàng hóa đơn giản ấy đã
biến chất và phát sinh những công trường thủ công tư bản chủ nghĩa, trong đó tư
liệu sản xuất đều là của chủ tư bản và công nhân hai bàn tay trắng chỉ là người bán
sức lao động.
Ở bên ta, thương mại với Âu tây đã bắt đầu mở mang vào thế kỷ XVII, nhưng bấy
giờ nhu cầu quốc tế còn thấp kém, vậy ảnh hưởng cũng chỉ là gây một số mại bản ở
một vài phố chợ như Hội-an hay Phố-hiến. Một vài công trường thủ công được sáng
lập nhưng lại bị hãm trong tổ chức quan liêu của nhà nước phong kiến. Nhưng đến
thế kỷ XIX, thị trường thế giới phát triển mạnh mẽ. Không thể nghi ngờ rằng nước
ta, nếu có một bộ phận kinh tế hàng hóa đơn giản được phát triển trong phạm vi
phong kiến, cũng có thể sát nhập vào luồng thương mại quốc tế, biến chất và xây
dựng một bộ phận sản xuất tư bản chủ nghĩa. Để mở hải cảng cho ngoại thương,
không cần đến một giai cấp tư sản dân tộc, chỉ cần có một bộ phận kinh tế thủ công
thương nghiệp phát triển khá trong phạm vi phong kiến: bằng chứng là bọn Trịnh
Nguyễn, ngày còn tương đối mạnh, cũng không ngăn cản bọn lái buôn ngoại quốc.
Mà đến lúc Quang Trung khôi phục nền sản xuất phong kiến, thủ công thương nghiệp
được phát triển lại đưa ngay đến chỗ mở rộng ngoại thương. Và một khi đã nhập vào
thị trường thế giới, với những yếu tố tiểu tư bản sẵn có trong nước (mỏ, đại thương)
kết hợp với những đòi hỏi dồi dào của thương mại quốc tế thế kỷ XIX, xã hội Việt-
nam tất nhiên phải phát sinh một giai cấp tư sản dân tộc.
Nhưng lịch sử đã đi một con đường khác hẳn. Triều Tây-sơn chưa ổn định xong mọi
vấn đề nội bộ, thì Nguyễn Ánh đã nhờ tư bản Pháp mà về cướp nước. Muốn đánh giá
đúng vai trò nhà Nguyễn, cần phải xét đến cơ sở quyền lợi và nội dung giai cấp.
Nguyễn-Ánh là đại biểu cho từng lớp phản động trong giai cấp phong kiến. Hai phe
đối lập tất nhiên đều có tính chất phong kiến, nhưng trong phạm vi phong kiến cũng
giữa hai nguy cơ, chúng đã chọn con đường cấu kết với giặc ngoại xâm để bảo vệ
quyền áp bức bóc lột nhân dân.
Phong trào Bắc-bộ ngày ấy có nhiều khuyết điểm về phần lãnh đạo. Nhưng căn bản