Pháp gia trong lịch sử tư tưởng chính trị xã hội trung quốc cổ đại và ảnh hưởng của nó đối với xã hội phong kiến việt nam (TT) - Pdf 35

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

5. Phước. tóm
tăt.Việt.doc

Nguyễn Hữu Phước

PHÁP GIA TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ XÃ HỘI TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA
NÓ ĐỐI VỚI XÃ HỘI PHONG KIẾN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 62 22 03 01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI – năm 2016
Hà Nội, 2015


Công trình được hoàn thành tại: Khoa Triết học, Học viện KHXH
– Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Nguyên Việt

Phản biện 1: .....................................................................................................

.................................................................................................




DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
[1]. Nguyễn Hữu Phước (2015), Bốn nguyên tắc dùng “pháp” của pháp
gia và ý nghĩa hiện thời của nó, Tạp chí Triết học số 3(286), tr. 70-78.
[2]. Nguyễn Hữu Phước (2015), Hàn Phi – người kế thừa và hoàn
thiện tư tưởng của các Pháp gia tiền bối, Tạp chí nhân lực Khoa học
xã hội, số 3(22), tr. 51-61.
[3]. Nguyễn Hữu Phước (2015), Sự xung đột giữa Nho gia và Pháp gia
về tư tưởng trị nước, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 231(2015), tr.60-64.


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Danh gia, Âm dương
gia với tư cách là sản phẩm của “Bách gia tranh minh” thì Pháp gia
là một trong sáu học phái lớn nhất, có tầm ảnh hưởng đến toàn xã hội
Xuân Thu - Chiến Quốc ở Trung Quốc. Pháp gia và học thuyết của
nó có lịch sử phát triển khá độc đáo trong quá trình hình thành nhà
nước quân chủ chuyên chế Trung Hoa cổ đại. Vai trò của học thuyết
Pháp gia không chỉ ở việc Tần Thủy Hoàng đã áp dụng thành công
học thuyết này trên đất Tần để kết thúc cục diện Xuân Thu – Chiến
Quốc, mà còn tiếp tục tác động đến xã hội phong kiến Trung Hoa và
các nước phương Đông đồng văn, trong đó có Việt Nam. Sở dĩ như
vậy là vì nội dung tư tưởng biến pháp, những phương cách về thuật
dùng người, biện pháp để cải tạo xã hội, cách dựng luật, phýõng pháp
xây dựng nhà nýớc mạnh, cách thức phát triển kinh tế - xã hội…
trong đường lối trị nước là điều kiện cần thiết cho sự trường tồn của
bất kỳ triều đại phong kiến nào. Với giá trị to lớn đó, Pháp gia đã thu

Một là: Nghiên cứu tổng quan các công trình tiêu biểu nghiên
cứu về Pháp gia và tư tưởng của trường phái này, từ đó đặt ra những
vấn đề cần nghiên cứu tiếp theo.
Hai là: Trên cơ sở phân tích bối cảnh lịch sử, những tiền đề cho
sự ra đời trường phái Pháp gia; những nội dung căn bản của trường phái
này, luận án sẽ tập trung làm rõ vị thế, vai trò của Pháp gia trong lịch sử
tư tưởng chính trị - xã hội Trung Hoa thời cổ đại.
Ba là: Luận án làm sáng tỏ tư tưởng pháp trị của Pháp gia đã
tác động lên đời sống chính trị - xã hội Trung Hoa cổ đại, đặc biệt là
sự thúc đẩy thành lập nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập

Đảng cộng sản Việt Nam, Văn Kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb
CTQG, Hà Nội, 2001, tr.115.
2


4
quyền như thế nào, từ đó phân tích vì sao tư tưởng pháp trị đã ảnh
hưởng sâu sắc đến chế độ phong kiến Trung Hoa từ thời Hán đến nửa
đầu thế kỷ XIX.
Bốn là: Luận án sẽ luận giải sự ảnh hưởng của tư tưởng pháp trị đối
với đời sống chính trị - xã hội dưới chế độ phong kiến nước ta từ thế kỷ X
đến nửa đầu thế kỷ XX, từ đó rút ra ý nghĩa, bài học lịch sử cho công cuộc
xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta trong giai
đoạn hiện nay.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Pháp gia trong lịch sử tư tưởng chính trị xã hội Trung Quốc cổ đại và ảnh hưởng của nó đối với xã hội phong kiến
Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu: Do dung lượng luận án có giới hạn và
việc xác định mục tiêu của luận án, cho nên chúng tôi giới hạn phạm vi

Ba là, luận giải sự tiếp biến và vận dụng tư tưởng pháp trị của Pháp gia
trong lịch sử xã hội phong kiến Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XX
(trên một số phương diện tiêu biểu). Từ đó rút ra ý nghĩa, bài học của học thuyết
pháp trị của Pháp gia đối với thực tiễn xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài các nội dung theo quy định, luận án được kết cấu: 3
phần chính là mở đầu, nội dung và kết luận được luận giải trong 4
chương 14 tiết.


6
NỘI DUNG
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Các công trình tiếp cận theo phương diện bối cảnh lịch sử
Trung Hoa cổ đại và những tiền đề cho sự ra đời của Pháp gia
* Các công trình nghiên cứu về lịch sử - xã hội - chính trị và học
thuật của Trung Hoa cổ đại
Tiêu biểu là: “Sử ký” của Tư Mã Thiên và cuốn “Hàn Phi Tử”
trước tác của Hàn Phi do Phan Ngọc dịch. Đây là hai tài liệu căn bản
mà chúng tôi sử dụng khi nghiên cứu tư tưởng Pháp gia. Bên cạnh đó
còn có: “Hàn Phi Tử” tác giả của Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê (Nxb
VHTT, Hà Nội, 1992) vừa là tác phẩm triết học vừa nghiên cứu, trích
dịch. Tuy nhiên, cần phải mở rộng phạm vi nghiên cứu với các nhà luân
lý khác: Tử Sản, Ngô Khởi, Thận Đáo, Thân Bất Hại, Thương Ưởng…;
tư liệu sử và liên ngành..., để đi đến khẳng định về vị thế, vai trò Pháp
gia trong lịch sử tư tưởng Trung Hoa cổ đại.
* Các công trình nghiên cứu về nguồn gốc, sự hình thành trường
Pháp gia
Trước hết là công trình: Lịch sử triết học (tập 1) – Triết học cổ

chính trị Trung Quốc do Trần Văn Tấn dịch (Nxb, Sự thật, Hà Nội,
1964) … Trường phái Pháp gia và triết học Hàn Phi có nội dung căn
bản: Pháp gia là một trường phái triết học lớn nhất Trung Quốc; chủ
trương của Pháp gia là “Pháp – Thế - Thuật”; cơ sở triết lý của Pháp gia
là học thuyết về Đạo; trong Pháp gia có thể chia làm bốn phái “trọng
thực”, “trọng thế”, “trọng thuật”, “ trọng pháp và biến pháp”. Hàn Phi
là đại biểu ưu tú nhất của Pháp gia.
Mặc dù các công trình đã đề cập khá nhiều đến những nội dung,
đặc điểm căn bản học thuyết pháp trị của Pháp gia, nhưng vẫn còn những


8
nội dung như: sự tác động của tư tưởng pháp trị ở kiến trúc thượng tầng đã
ảnh hưởng đến việc thiết lập nhà nước trung ương tập quyền như thế nào,
Pháp gia với tư duy kinh tế, quản lý và ổn định xã hội ra sao? Hay những
hệ luỵ của học thuyết pháp trị do Tần Thủy Hoàng dẫn đến sự sụp đổ của
đế chế Tần sau 15 năm thống nhất chưa được đề cập sâu sắc, đòi hỏi cần
có sự nghiên cứu kỹ lưỡng hơn.
* Khuynh hướng nghiên cứu chuyên sâu về vai trò và vị thế của Pháp
gia trong lịch sử chính trị - xã hội Trung Hoa cổ đại
Thứ nhất, đi sâu vào quan hệ của Pháp gia với các trường phái,
trong cuốn Những tư tưởng gia vĩ đại ở phương Đông của IAN
P.McGREAL do Phạm Khải dịch (Nxb Lao động, Hà Nội, 2005); Giải
thích về quan hệ giữa Pháp gia với Nho và Đạo, trong Từ điển triết học
Trung Quốc, tác giả Doãn Chính… đều cho rằng các Pháp gia tiền bối
đều xuất phát từ đạo Khổng và người có công tổng hợp và cho ra đời
học thuyết pháp trị là Hàn Phi.
Thứ hai, đi sâu và làm rõ quan hệ tư tưởng giữa Pháp gia với
trường phái khác, phải kể đến tác giả Phùng Hữu Lan với công trình Đại
cương triết học sử Trung Quốc do Nguyễn Văn Dương dịch (Nxb Thanh

giả đi vào phân tích những giá trị ảnh hưởng của tư tưởng pháp trị đối
với văn hóa các nước Đông và Bắc Á: Triều Tiên, Hàn Quốc, Nhật
Bản, Việt Nam.
Đánh giá về những giá trị và hạn chế trong học thuyết pháp trị của
Pháp gia có tác giả: Đỗ Đức Minh với bài “Những giá trị và hạn chế của
học thuyết Pháp trị Trung Hoa cổ đại”, (Tạp chí KHXH, số 7 - 143/
2010); tác giả Trần Đình Hượu có bài “Nho Pháp tịnh dụng và con
đường bành trường của thiên triều” (1979), bài viết đã có nhiều kết
luận sâu sắc: Một là, Pháp gia, mà đại biểu ưu tú nhất là Hàn Phi Tử đã


10
xây dựng học thuyết của mình đạt đến tầm đỉnh cao của nhân loại,
những giá trị của học thuyết này không chỉ có giá trị lịch sử mà về cơ
bản những giá trị đó vẫn phù hợp với thực tiễn đương đại. Hai là, những
hạn chế của Pháp gia và Hàn Phi đưa họ đến bế tắc không thể giải quyết
được. Thể hiện, một mặt, họ muốn xây dựng pháp luật trên cơ sở khách
quan, tạo ra sự bình đẳng trong xã hội; mặt khác, xây dựng pháp luật
nhằm củng cố vị trí tuyệt đối của một ông vua, đó là điều không thể thực
thi lâu dài, đặc biệt trong xã hội phát triển
Về sự vận dụng kết hợp giữa tư duy pháp trị với các học thuyết
khác ở Việt Nam có: Luận án tiến sĩ triết học Vấn đề Đức trị và Pháp
trị trong lịch sử tư tưởng Việt Nam (Viện KHXH Việt Nam, 2004)
của Phan Quốc Khánh; bài viết “Tư tưởng kết hợp Đức trị và Pháp
trị trong đường lối trị nước của triều đại Lê Sơ và ý nghĩa lịch sử của
nó” của Ngô Văn Hưởng (Tạp chí Triết học, số 6 - 229/2010); cuốn
Lịch sử tư tưởng Việt Nam của Huỳnh Công Bá (Nxb Thuận Hóa,
Thừa Thiên Huế, 2007) … các tác giả đều có chung nhận định: Chịu
ảnh hưởng của đường lối và tổ chức cai trị của Trung Quốc, các nhà
chính trị và Nho gia Việt Nam cũng áp dụng chủ trương “ngoại Nho,

pháp quyền XHCN ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Tiểu kết chương 1
Có thể nói, các công trình, tài liệu công bố về Pháp gia và tư
tưởng của trường phái này là khá nhiều. Qua kháo sát và bước đầu phân
định tài liệu theo các lĩnh vực nghiên cứu: lịch sử, xã hội, triết học, chính
trị - xã hội thuần túy và những công trình thiên về đánh giá vai trò Pháp
gia trong lịch sử. Nhưng cho đến nay chưa có công trình nào chuyên bàn
về vị thế, vai trò của Pháp gia trong lịch sử tư tưởng chính trị Trung Hoa
thời kỳ cổ đại; cũng như sự ảnh hưởng của hệ tư tưởng này đã tác động
lên đời sống tư tưởng chính trị phong kiến Trung Hoa với vai trò là một


12
trong hai công cụ trị nước (Đức và Pháp trị). Đặc biệt, chưa có công
trình nào nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tư tưởng pháp trị đối với đời
sống chính trị - xã hội dưới các triều đại phong kiến nước ta. Vì vậy,
luận án cần tiếp tục nghiên cứu những vấn đề đặt ra như trên.
Chương 2. SỰ HÌNH THÀNH TRƯỜNG PHÁI PHÁP GIA
VÀ NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA NÓ
2.1. Bối cảnh lịch sử, xã hội Trung Hoa thời Xuân Thu –
Chiến Quốc và những tiền đề cơ bản cho sự hình thành
trường phái Pháp gia
2.1.1. Bối cảnh lịch sử
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, xét đến cùng thì sự
vận động và phát triển của xã hội tuân theo quy luật Tồn tại xã hội quyết
định ý thức xã hội. Vì thế, khi nghiên cứu sự xuất hiện tư tưởng chính trị xã hội cần phải xuất phát từ chính nội bối cảnh xã hội đó. Trung Hoa cổ đại
là một quốc gia rộng lớn, có lịch sử lâu đời từ cuối thiên niên kỷ III Tr.CN
kéo dài tới tận thế kỷ III Tr.CN với sự kiện Tần Thủy Hoàng thống nhất
Trung Hoa vào năm 221 Tr.CN, mở đầu cho thời kỳ phong kiến. Trong hơn
2000 năm đó lịch sử Trung Hoa được phân chia làm 2 thời kỳ lớn: Từ thế

hội. Theo sách “Hán thư, Thiên Nghệ văn chí” thì có 103 học phái,
song chủ yếu là sáu học phái: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia,
Âm dương gia và Danh gia… nên còn gọi là thời kỳ “Bách gia tranh
minh”. Mặc dù “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, số lượng các
phu tử cũng như những tiền bối xuất hiện là rất nhiều, nhưng trước
khi Pháp gia xuất hiện với tư cách là một học thuyết hoàn chỉnh bởi
nhà kiến tạo Hàn Phi – Tập đại thành của tư tưởng Pháp gia, thì
Trung Hoa cổ đại vẫn là một thế trận hỗn chiến, phản ánh sự khủng
hoảng sâu sắc về đường lối chính trị.


14
2.2.2. Ảnh hưởng của Nho gia và Đạo gia đến sự hình thành tư
tưởng Pháp gia
2.2.2.1. Ảnh hưởng “chính danh” của Nho giáo Khổng Tử - Mạnh Tử; thuyết
“tính ác” và quan điểm của Tuân Tử về “lễ pháp kiêm trị” trong đường lối trị nước
Thứ nhất, kế thừa học thuyết “chính danh” của Khổng giáo,
Pháp gia phát triển thành bộ quy tắc “hình - danh”. “Danh” phải phù
hợp với “thực”, từ đó Pháp gia ứng dụng vào “thuật dùng người”
theo nguyên tắc “theo danh mà trách thực”.
Thứ hai, phạm trù “tính ác” của Tuân Tử là cơ sở lý luận
quan trọng để Pháp gia phát triển quan niệm về con người và bản
chất con người theo quan điểm của mình.
2.2.2.2 Ảnh hưởng của học thuyết về “Đạo” và “vô vi” từ Đạo gia
Hàn Phi đã dùng “mánh khóe” của mình để biến nội dung của
“Đạo đức kinh” vốn là lý thuyết tư biện thuần túy của Lão Tử thành một
tác phẩm thực dụng thuần túy của Hàn Phi; đồng thời chủ động chuyển
hóa phạm trù “vô vi”(tự nhiên) nguyên bản của Lão Tử thành “thuật vô
vi” của Pháp gia. Kể từ đây, học thuyết triết học của Lão Tử trở thành “bệ
đỡ” cho lý thuyết pháp trị của Pháp gia.

Trước hết, là sự tương quan “pháp - thuật”. Hàn Phi ví "pháp" và
"thuật" giống như con người ta cần cơm để ăn và áo để mặc. Khi trời
rét mà không có áo thì chết, nhưng nếu thiếu ăn thì sự sống cũng
không thể duy trì.
Thứ hai, trong quan hệ giữa “pháp - thế”. Trong quan hệ này
thì "thế" nhờ "pháp" làm cơ sở, còn "pháp" nhờ "thế" mà biểu hiện,
thực thi và bắt mọi người phải tuân theo.
Thứ ba, quan hệ giữa “thế - thuật”, trong tư tưởng pháp trị,
“thuật” và “thế” là hai công cụ, phương tiện để thi hành “pháp”, nó có
quan hệ rất gần nhau, có tác dụng bổ trợ trực tiếp cho nhau.
2.4. Một số nhận định khái quát về vai trò, vị thế của Pháp gia
trong lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Trung Hoa cổ đại
Để nhận định đúng vai trò và vị thế của Pháp gia trong lịch sử
tư tưởng chính trị - xã hội Trung Hoa cổ đại, cần nghiên cứu trong
trạng thái đối sánh giữa Pháp gia với Nho gia. Nho gia thì chủ trương


17
đức trị, còn Pháp gia với chủ thuyết pháp trị. Điển hình là cuộc luận
chiến giữa Mạnh Tử với Thương Ưởng và phần thắng đã nghiêng về
Pháp gia. Đây cũng là cơ sở lý luận quan trọng để Tuân Tử, Hàn Phi,
Lý Tư hoàn thiện, đưa Pháp gia lên vị trí độc tôn dưới đế chế Tần.
Tiểu kết chương 2
Có thể nói, Pháp ra ra đời là một sản phẩm của lịch sử khi những
điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội đã chín muồi cộng với tài năng xuất
chúng của “Tập đại thành tư tưởng Hàn Phi”. Nội dung nội dung cốt lõi
trong học thuyết pháp trị của Pháp gia là mối quan hệ “pháp - thế thuật”. Vị thế, vai trò của Pháp gia trong lịch sử Trung Hoa cổ đại là sự
thắng thế giữa Pháp gia với các học phái khác, mà trước hết là Nho gia
trong cuộc luận chiến về tư tưởng chính trị - xã hội .
Chương 3. ẢNH HƯỞNG CỦA PHÁP GIA TRONG LỊCH SỬ CHẾ

sau 15 năm trị vì.
3.2. Sự dung hợp giữa Nho gia và Pháp gia thời Hán và ý nghĩa của sự
dung hợp đó đối với chế độ phong kiến Trung Hoa về sau
Sau cuộc kiến tạo tư tưởng thần kỳ dưới bàn tay của Nho gia
Đổng Trọng Thư nhằm biến Nho giáo trở thành học thuyết “chính trị
- pháp lý”. Kể từ đây phương pháp trị nước theo phương thuật “nội
thánh - ngoại vương”, “dương Nho - âm Pháp”, “đức chủ - pháp
bổ”... bản chất là “Nho pháp tịnh dụng” đã ngự trị suốt 2000 năm
lịch sử các triều đại phong kiến Trung Hoa.


19
Tiểu kết chương 3
Có thể vắn tắt về ảnh hưởng của Pháp gia đến tư tưởng chính trị xã hội Trung Hoa qua ba thời kỳ: thứ nhất, là thời kỳ các nước chư hầu
Tần, lúc này học thuyết pháp trị chiếm ưu thế ở bộ phận kiến trúc
thượng tầng bởi tư duy thực tế của nó; thứ hai, là thời kỳ đế chế Tần
thống nhất Trung Hoa cổ đại, tư tưởng Pháp gia được người ta biết đến
với sự cai trị của Tần Thuỷ Hoàng và những hệ lụy của nó; thứ ba, là từ
nhà Hán trở đi, tuy Pháp gia không nổi lên là học thuyết thống trị, song
các nhà nước phong kiến Trung Hoa đã “tịnh dụng” tư tưởng này vào
những mục đích chính trị của mình, nhất là trong xây dựng, củng cố
chính quyền, ban bố pháp luật.
Chương 4. ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ
ĐẾN ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI DƯỚI CHẾ ĐỘ PHONG
KIẾN VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
4.1. Ảnh hưởng của tư tưởng pháp trị đến xây dựng và phát triển
chế độ phong kiến trung ương tập quyền Việt Nam từ thế kỷ X
đến nửa đầu thế kỷ XX
4.1.1. Ảnh hưởng của tư tưởng pháp trị trong việc tổ chức bộ máy
nhà nước phong kiến

thời Lý ra đời trước hết là để bảo vệ quyền lợi và địa vị cho chế độ
phong kiến thống trị, song nó đã đáp ứng được một yêu cầu khách quan
khác, đó là đem lại sự ổn định cho xã hội.
Năm 1341, sau vài lần sửa chữa vua Trần Dụ Tông giao cho
Trương Hán Siêu và Nguyễn Trung Ngạn biên dịch bộ Hoàng triều đại
điển và khảo soạn bộ Hình thư để ban hành Hình luật (Quốc triều hình
luật). Về căn bản thì Hình luật dưới thời Trần được sửa đổi, bổ sung
luật thời Lý để đảm bảo lợi ích của nhà cầm quyền.


21
4.2.2. Ảnh hưởng của tư tưởng pháp trị đến sự ra đời và nội dung của
“Quốc triều hình luật” thời Hậu Lê và “Hoàng triều luật lệ” thời Nguyễn
Để đáp ứng yêu cầu trị nước vụ đức, trọng pháp, năm 1483 Lê
Thánh Tông chính thức cho ban hành bộ Quốc triều hình luật, đây là bộ
luật phong kiến thứ ba ở nước ta sau hai bộ Hình thư và Hình luật thời
Lý - Trần, đồng thời là bộ luật đề cập đến nhiều lĩnh vực nhất trong lịch
sử lập pháp dưới chế độ phong kiến Việt Nam. Đặc biệt, lần đầu tiên
những vấn đề dân sự, tố tụng được quy định trong bộ luật.
Để củng cố địa vị mới, đồng thời ổn định lại xã hội sau ba thế
kỷ khủng hoảng, khi lên ngôi, Gia Long đã gấp rút cho các quần thần
biên soạn bộ luật mới có tên Hoàng Việt Luật lệ vào năm 1815 (còn
gọi là Luật Gia long).
Giống như Luật Hồng Đức, Bộ Luật Gia Long là bộ luật tổng
hợp nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, song phần lớn là quy định
các điều khoản dưới dạng các quy phạm pháp luật hình sự và áp dụng
các chế tài hình sự theo diện rộng hơn.
4.3. Những giá trị và hạn chế của tư tưởng pháp trị trong đời sống
chính trị - xã hội phong kiến Việt Nam
4.3.1. Giá trị

nghĩa ở Việt Nam hiện nay và những tiêu chí, đặc trưng của nó
Với khát vọng Độc lập – Tự do – Hạnh phúc, sau khi cuộc
cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ
trương xây dựng một nhà nước dân chủ nhân dân. Trải qua quá trình
phát triển, Đảng và nhân dân lựa chọn: Nhà nước ta là nhà nước pháp
quyền XHCN của dân, do dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực thuộc về
nhân dân mà nền tảng là giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức do Đảng
cộng sản Việt Nam lãnh đạo.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status