ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=====***===== TRẦN THỊ TÂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC
Hà Nội, 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
=====***=====
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ THỊ LAN
HÀ NỘI, 2009 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Một trong những nhân
tố làm cho nước ta có được những thành tựu to lớn đó là việc Đảng ta đã
chủ trương phát triển nền văn hóa truyền thống của dân tộc. Tại Đại hội
lần thứ X (2006), Đảng ta đã xác định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và
nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế- xã hội, làm cho
văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” [19, 106]. Theo
chính sách này của Đảng thì nhiệm vụ của chúng ta là khai thác và làm
giàu thêm những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc trong xã hội hiện
đại ngày nay. Một trong những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
Việt Nam đó chính là Nho giáo.
Nho giáo ra đời ở Trung Quốc thời Xuân Thu- Chiến Quốc do
Khổng Tử sáng lập Mạnh Tử phát triển được gọi là Nho giáo Nguyên thủy,
Nho giáo Khổng- Mạnh hay Nho giáo Tiên Tần. Khổng Tử được coi là
ông tổ của Nho giáo còn Mạnh Tử là người đã kế thừa và phát triển xuất
sắc tư tưởng của Khổng Tử. Tất cả những tư tưởng của Mạnh Tử được ghi
lại trong tác phẩm Mạnh Tử- một trong bốn tác phẩm của bộ Tứ Thư- đây là
góp, bổ sung để làm giàu thêm nhận thức về tác phẩm Mạnh Tử và sự ảnh
hưởng của những nội dung đó trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu Nho
giáo nói chung và sách Mạnh Tử nói riêng. Chúng tôi có thể khái quát một số
thành quả nghiên cứu sau:
Các công trình nghiên cứu về Nho giáo nói chung và tác phẩm Mạnh
Tử nói riêng có: Nho giáo của Trần Trọng Kim, Khổng học đăng của Phan
Bội Châu, Khổng giáo phê bình tiểu luận của Đào Duy Anh. Các công trình
này đã phản ánh những quan điểm cơ bản của Mạnh Tử về chính trị, xã hội,
về triết học, về nhân sinh quan. Tuy nhiên, ở các tác phẩm này, các tác giả đã
thể hiện những thái độ cực đoan về Nho giáo, hoặc phủ nhận hoàn toàn những
giá trị tích cực của Nho giáo, hoặc là muốn làm sống lại những giá trị của
3
Nho giáo. Tác phẩm Nho giáo xưa và nay của Quang Đạm đã có cái nhìn biện
chứng về Nho giáo, theo ông, Nho giáo có cả mặt tích cực và hạn chế.
Mặc dù những công trình trên đây vẫn mang tính chất chủ quan của
người nghiên cứu nhưng chúng ta không thể phủ nhận những giá trị của các
công trình này. Tuy nhiên, các công trình trên vẫn chưa trình bày đầy đủ về
các phạm trù, nội dung của Nho giáo nói chung, của Mạnh Tử nói riêng nên
việc tiếp tục tìm hiểu tác phẩm Mạnh Tử là một việc làm cần thiết.
Những tác phẩm nghiên cứu Mạnh Tử gồm có: Mạnh Tử linh hồn của
nhà Nho của Nhà Xuất Bản Đồng Nai, Những câu nói bất hủ của Mạnh Tử của
Đỗ Anh Thơ, Mạnh Tử tư tưởng và sách lược của Trí Tuệ, Mạnh Tử của Nguyễn
Hiến Lê. Các công trình này đã trình bày những luận điểm chính trong tư tưởng
của Mạnh Tử. Tuy nhiên, phần trình bày còn chưa đầy đủ, ở một vài chỗ trong
những tác phẩm này còn thể hiện tính chủ quan của tác giả khi bàn về những câu
nói của Mạnh Tử. Bên cạnh những công trình trên còn có các bài báo khác như:
Quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng của Nguyễn Thanh Bình đăng trên tạp
2000, Nho giáo với vấn để phát triển kinh tế Việt Nam trong quá trình đi lên chủ
nghĩa xã hội của Nguyễn Thanh Bình.
Các công trình trên đã nghiên cứu một cách khái lược về ý nghĩa của Nho
giáo đối với việc hoàn thiện đạo đức của con người Việt Nam hiện nay. Tuy
nhiên, sự ảnh hưởng của tư tưởng của Mạnh Tử về đường lối đức trị đối với người
cầm quyền, về vấn đề tu thân rèn luyện đạo đức của con người hiện nay như thế
nào là những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Do vậy, việc nghiên cứu tư tưởng
của Mạnh Tử và vận dụng nó để hoàn thiện đạo đức con người đáp ứng sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay của đất nước là một việc làm cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục đích: Đề tài tập trung làm rõ những nội dung chính trong tác
phẩm Mạnh Tử và ảnh hưởng của nó đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam.
- Nhiệm vụ của luận văn là:
+ Phân tích và khái quát những nội dung cơ bản trong tác phẩm Mạnh Tử
+ Làm rõ ảnh hưởng của những nội dung đó trong tác phẩm Mạnh Tử đối
với lịch sử tư tưởng Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những nội dung chính trong tác phẩm Mạnh
Tử và ảnh hưởng của chúng trong lịch sử tư tưởng Việt Nam.
5
- Phạm vi nghiên cứu: Tác phẩm Mạnh Tử và lịch sử tư tưởng Việt Nam.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hoá,
lịch sử. Luận văn sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật của triết học
Mác-Lênin trong nghiên cứu xã hội, con người và nghiên cứu lịch sử triết học.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu cụ thể, như các phương pháp: phân tích- tổng hợp; lôgíc- lịch sử;
đối chiếu- so sánh
việc sử dụng đồ đồng sang sử dụng đồ sắt và việc dùng bò làm sức kéo trở thành
phổ biến. Việc sử dụng công cụ bằng sắt là chủ yếu trong quá trình sản xuất đã
đem lại sự phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp.
Trên cơ sở phát triển thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng phát triển
hơn trước, tiền tệ đã xuất hiện. Đây là thời kỳ khởi sắc của nền kinh tế thương
nghiệp. Ở Trung Quốc, thời kỳ này đã xuất hiện nhiều thành thị buôn bán
nhộn nhịp ở các nước Hàn- Tề- Tần- Sở. Thành thị đã có một cơ sở kinh tế
tương đối độc lập, từng bước tách ra khỏi chế độ thị tộc. Thành thị của quý
tộc là những đơn vị khu vực kinh tế của tầng lớp địa chủ mới lên.
Sự biến động trong lĩnh vực kinh tế đã ảnh hưởng, tác động to lớn đến
các lĩnh vực của chính trị- xã hội. Nó làm xuất hiện một cục diện mới trong
xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu- Chiến Quốc. Vai trò của nhà Chu không
còn được như trước nữa, thiên tử nhà Chu chỉ là vua bù nhìn. Đến thời Chiến
Quốc thì nhà Chu hoàn toàn mất hết quyền lực.
Các nước chư hầu của nhà Chu không chịu phục tùng vương mệnh,
không chịu cống nạp mà mang quân thôn tính lẫn nhau, tự xưng là bá. Xuân
Thu- Chiến Quốc là thời kỳ “vương đạo suy vi”, “bá đạo” nổi lên lấn át
“vương đạo”. Mặt khác, chiến tranh kéo dài liên miên giữa các nước chư hầu
đã làm cho đời sống nhân dân càng ngày càng thêm khổ cực, trật tự xã hội bị
rối loạn, lễ nghĩa nhà Chu bị phá hoại.
7
Thời Chiến Quốc kéo dài từ năm 403 TCN đến năm 221 TCN. Có rất
nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra thời gian ra đời thời kỳ Chiến Quốc
nhưng phần đông mọi người đều cho rằng thời gian ra đời thời Chiến Quốc là
năm 403 TCN. Năm 403 TCN, nước Tấn (là nước mạnh nhất trong số các
nước chư hầu) bị chia thành ba nước nhỏ là Hàn, Triệu, Nguỵ. Triều đình bất
lực nhà Chu bắt buộc phải công nhận quyền lực của họ, ba nước này cũng lần
lần lượt xưng vương. Chiến Quốc cũng là thời kỳ chứng kiến cục diện thất
hùng- bảy nước Tần, Tề, Sở, Hàn, Triệu, Nguỵ, Yên tranh giành quyền lực,
nhưng được lợi thế là có cửa Hà Cốc, một hẻm núi rất hiểm trở, và khi
đóng lại thì quân địch dù có thiên binh vạn mã cũng không qua được, thành
thử Tần không bị các nước ở phía đông (Hàn, Ngụy, Tống ) tấn công, có
thể yên ổn tổ chức sự cai trị, khai khẩn đất đai, trữ lương, luyện binh để
chờ thời. Nhất là từ năm 362 TCN, Tần Hiếu Công dùng Thương Ưởng, áp
dụng biến pháp của Thương ưởng thì Tần càng mau mạnh. Thương Ưởng
đặt ra pháp lệnh rất công bình, vô tư; phạt thì không kiêng kẻ có uy quyền
lớn, thưởng thì không vì tình riêng.
Không chỉ cố vấn về pháp luật, Thương Ưởng còn giúp nhà Tần đề ra
những chính sách khuyến nông, chính sách thuế khóa hiệu quả. Điều này đã
giúp cho nước Tần trở thành nước hùng mạnh nhất trong các nước.
Dùng biến pháp mười sáu năm, Tần đã mạnh lên rất nhiều. Năm 343
TCN, Hiếu Công xưng bá, nhiều chư hầu bắt đầu thấy nguy cơ. Năm 333
TCN, Yên, Triệu, Hà, Ngụy, Tề, Sở theo mưu kế của Tô Tần, hợp tung để
chống Tần, nhưng chỉ được một năm phe hợp tung tan, Tần càng đắc thế.
Năm 325 TCN, Tần xưng vương. Năm 311 TCN, Trương Nghi đề xướng
thuyết liên hoành, liên kết các nước từ đông sang tây và đứng về phe Tần để
phá các nước khác, và lần lần nhờ tướng Bạch Khởi, Tần thắng được Ngụy,
Hàn, hạ được Sở, uy hiếp được Tề, diệt được Triệu, chiếm được Chu. Năm
256 TCN, nhà Chu dâng đất cho Tần. Từ đó, nhà Tần thôn tính lần lượt các
nước khác và thống nhất Trung Quốc năm 221-TCN.
9
Thời Chiến Quốc, chiến tranh không còn giữ cái luật “quân tử”- không
giết kẻ bại- như ta thường thấy ở thời Xuân Thu, mà có tính cách dã man,
rừng rú: tàn phá cho thật nhiều, đổ máu cho thật nhiều, chiếm đất bắt dân lành
làm nô lệ, còn lính địch thì giết hàng ngàn, hàng vạn. Dân chúng bị nạn chiến
tranh bất tuyệt, già nửa phải đi lính, còn kẻ ở nhà thì phải nộp thuế gần hết
phần hoa lợi. Các vua chúa, đại thần, hầu hết đều truỵ lạc, sống cực kì xa hoa
trên xương máu của dân. Những bức tường do những quốc gia xây dựng nên
Mạnh Tử ra đời cũng không nằm ngoài quy luật này.
Thứ nhất, Mạnh Tử kế thừa nhiều tư tưởng của Nho giáo. Khổng Tử
(551- 497 TCN) được coi là ông tổ của Nho giáo. Trong tư tưởng của mình,
Khổng Tử bàn nhiều về chính trị- xã hội, về đạo làm người. Trong đó, ông tập
trung nhiều vào chữ Nhân. Mạnh Tử được coi là người đã kế thừa và phát
triển xuất sắc học thuyết Nho giáo. Từ chữ Nhân của Khổng Tử, Mạnh Tử đã
phát triển thành tư tưởng thuyết tính thiện, đường lối trị nước vương đạo nhân
chính và nhân nghĩa.
Mạnh Tử còn là người có công lớn trong việc phát triển và truyền bá tư
tưởng của Nho giáo ở thời kỳ Chiến Quốc. Mạnh Tử còn bác bỏ các tà thuyết
dị đoan và công kích các học phái không cùng quan điểm chính trị với Nho
giáo như học phái Mặc gia, học phái Dương Chu.
Tuy nhiên, khác với Khổng Tử, Mạnh Tử thấy thuở ấy nhà Chu đã suy
nhược lắm rồi, vua các nước chư hầu không ai biết đến vua nhà Chu nữa, cho
nên, không những ông không nói đến sự tôn nhà Chu như Khổng Tử, mà lại
khuyên các vua các nước nên làm điều nhân chính để làm vương thiên hạ.
Thứ hai, Mạnh Tử chịu ảnh hưởng của phái Mặc gia. Mặc Tử (480- 420
TCN) là người sáng lập ra phái Mặc gia. Mặc Tử đề cao đức kiêm ái, coi mọi
người như mình, phải yêu thương giúp đỡ mọi người như người thân của
mình, như bản thân mình. Nếu ai cũng theo đạo kiêm ái được thì thiên hạ sẽ
trị, sẽ không còn sự tranh cướp lẫn nhau. Bên cạnh đó, Mặc Tử còn đề cao tư
tưởng thượng đồng và phi công. Thượng đồng là cái gì trên cho là phải thì ở
dưới cũng phải nhận là phải, cái gì người trên cho ra trái thì người dưới cũng
11
phải nhận là trái. Tư tưởng phi công là không thích chiến tranh, chém giết lẫn
nhau. Thời Chiến Quốc bấy giờ, vua chúa các nước đều để chí vào sự doanh
tư, mưu lợi, không ai nghĩ đến sự cứu dân, ai cũng chỉ lo việc tranh quyền
cướp nước, gây ra chiến tranh, làm cho thiên hạ thật là khổ sở. Chịu ảnh
hưởng tư tưởng phi công của Mặc gia, Mạnh Tử hết sức công kích chiến tranh
Thứ ba, Mạnh Tử chịu ảnh hưởng của phái Dương Chu. Tư tưởng của
phái Dương Chu họ là phong phú và đa dạng nhưng đều đồng nhất với nhau ở
một điểm là, lợi ích cao nhất của cá nhân là gì, và làm thế nào để đạt tới lợi
ích cho cá nhân, tức là họ chủ trương vị ngã. Mạnh Tử đã phê phán tính cực
đoan của Mặc Tử và Dương Chu. Trong chương Tận Tâm, tập thượng, Mạnh
Tử nói: “Dương Tử chủ trương thuyết “vị ngã”- nhổ một sợi lông mà làm lợi
được cho thiên hạ cũng không nên làm. Mặc Tử theo thuyết “kiêm ái”- dẫu
phải sứt trán, mòn gót mà làm được lợi cho thiên hạ cũng nên làm. Tử Mạc
theo thuyết chấp trung. Chấp trung thì gần với đạo. Nhưng chấp trung mà
không quyền biến thì cũng như chấp nhất vậy. Điều đáng ghét ở tính chấp
nhất là làm hại đạo. Được một điều thì hại trăm điều” [29, 1314].
Và theo Mạnh Tử, đời nay suy đồi, đạo mờ tối, những tà thuyết, hành
động bạo ngược nổi lên. Những chuyện bề tôi giết vua, con giết cha là do
bị ảnh hưởng một phần bởi những học thuyết này. Chính vì điều này nên
Mạnh Tử rất lo lắng muốn bảo vệ học thuyết của Nho giáo, phản đối học
thuyết của Dương Chu và Mặc Tử. Trong khi nói chuyện với Công Đô Tử,
Mạnh Tử nói rằng: “Thánh vương chẳng dấy lên, các vua chư hầu buông
thả, những kẻ sĩ ẩn dật tha hồ bàn ngang nói dọc. Lời lẽ của Dương Chu,
Mặc Định tràn ngập thiên hạ. Những lời trong thiên hạ ngày nay không
theo họ Dương thì cũng theo họ Mặc. Dương thị chủ trương thuyết vị ngã,
ấy là kẻ không vua, Mặc thị nêu thuyết kiêm ái, ấy là kẻ không cha. Không
cha, không vua là cầm thú vậy” [29, 1002].
Thứ tư, Mạnh Tử chịu ảnh hưởng của phái Đạo gia. Lão Tử được coi là
một trong những người sáng lập ra Đạo giáo. Sử sách ghi lại là ông sống cùng
thời với Khổng Tử. Trong tư tưởng triết học của mình, Lão Tử đã đưa ra
phạm trù Đạo. Có nhiều cách lý giải khác nhau về “Đạo” nhưng nhìn
13
chung đều thống nhất ở luận điểm, theo Lão Tử, “Đạo” là “tính quy luật
của tự nhiên”, là “thực thể” tinh thần tuyệt đối sinh ra vạn vật, con người
khu vực. Điều này cũng ảnh hưởng tới Mạnh Tử.
Theo Mạnh Tử, pháp luật cũng có vai trò quan trọng trong xã hội. Ông
cũng yêu cầu pháp luật phải nghiêm minh, không được vì tình riêng. Trong
chương Tận tâm, tập thượng, khi trả lời học trò Đào Ứng về mối quan hệ giữa
tình cảm và pháp luật thì một mặt Mạnh Tử thể hiện sự coi trọng đạo đức là
nhiệm vụ hàng đầu của vua, nhưng mặt khác, Mạnh Tử cũng không thể phủ
nhận tính trọng yếu của pháp luật. Vua đã không thể vì tình ruột thịt mà
không coi trọng pháp luật, lại không thể dùng pháp luật để làm tổn hại đến
tình ruột thịt. Ông ta chỉ còn cách duy nhất là vứt bỏ ngôi vua, như vậy, vừa
bảo vệ được nhân luân, lại không đến nỗi công nhiên coi thường pháp luật.
Cho nên, người làm vua nên giải quyết ôn hòa cả hai mặt đạo đức và pháp
luật vì theo Mạnh Tử: “Chỉ có lòng thiện thì không đủ cai trị dân, chỉ có luật
pháp thì không đủ thi hành” [29, 1015]. Rõ ràng, ở đây Mạnh Tử đã đề cao
việc kết hợp cả đạo đức và pháp luật. Về điều này, ông đã tiến xa hơn các nhà
Nho trước đó, hầu hết họ đều đề cao và tuyệt đối hóa phương pháp đức trị,
chưa đánh giá đúng đắn vai trò của pháp trị.
Xuân Thu- Chiến Quốc là thời kỳ đánh dấu sự nở rộ và phát triển của
các học thuyết Nho giáo, Mặc giáo, Đạo giáo, Pháp gia. Mạnh Tử sinh vào
cuối thời Chiến Quốc nên những học thuyết này ít nhiều đều ảnh hưởng tới tư
tưởng của Mạnh Tử. Và chính những học thuyết là tiền đề tư tưởng hình
thành nên tư tưởng của Mạnh Tử về tất cả các vấn đề trong cuộc sống.
1.1.3. Tác giả và tác phẩm Mạnh Tử
Tác giả: Mạnh Tử (390- 305 TCN) tên là Kha, tự là Tử Dư. Ông là người
nước Châu, sát nước Lỗ (nay là huyện Châu thuộc tỉnh Sơn Đông Trung Quốc).
Mạnh Tử được sinh ra trong một gia đình quý tộc sa sút vào thời Chiến
Quốc, ông thuộc dòng dõi quý tộc. Nhưng tới đời ông cha, chi của ông sa sút
nên tuy là quý tộc mà sống như bình dân. Ông mồ côi cha, tuy nhiên ông lại
được sự vỗ về, quan tâm của mẹ. Mẹ của Mạnh Tử là người phụ nữ hiểu biết
15
16
họ chép lại (như các cuộc đàm thoại với Lương Huệ Vương, Tuề Tuyên
Vương, Đằng Văn Công…), sau cùng ông duyệt lại.
Về đường học vấn của Nho giáo thì sách Mạnh Tử rất có giá trị. Theo
như Trình Y Xuyên đời nhà Tống nói: “Kẻ đi học nên lấy sách Luận ngữ và
sách Mạnh Tử làm cốt. Đã biết được hai bộ sách ấy, thì không cần phải học
năm Kinh cũng rõ được đạo của thánh hiền” [36, 264].
Về kết cấu, tác phẩm gồm 7 chương, Chu Hy lại phân mỗi quyển làm
hai tập thượng và hạ. Chính vì vậy, sách Mạnh Tử được chia thành 14 tập
thượng và hạ.
1.2. Tƣ tƣởng về con ngƣời và chính trị- xã hội trong tác phẩm Mạnh Tử
1.2.1. Tư tưởng về con người
Học thuyết “Tính thiện”
Tìm hiểu quan điểm của Mạnh Tử về tính người là rất quan trọng vì
đây là nền tảng xây dựng nên các quan điểm khác của Mạnh Tử.
Tính người là một vấn đề quan trọng được Nho giáo đề cập nhiều
trong lịch sử triết học Trung Quốc. Đây được coi là vấn đề trung tâm của
Nho giáo, là nền tảng để giải quyết các vấn đề khác. Nguyễn Đăng Thục cho
rằng vấn đề này là “vấn đề trọng đại trong triết học phương Đông” [6, 22].
Vấn đề tính người được đặt ra và giải quyết trên các nội dung cơ bản
sau: Bản tính của con người là gì? Do đâu mà có? Chúng ta có thể cải tạo
được tính người hay không? Và cải tạo vấn đề này nhằm mục đích gì?
Trong cuốn sách Trung dung, Khổng Cấp đã đưa ra một nguyên lý cơ
bản về tính người: “Mệnh Trời ban cho gọi là tính, noi theo tính gọi là đạo, tu
theo đạo gọi là giáo” [29, 85]. Từ mệnh đề này, phần lớn các nhà Nho đều
cho rằng “tính” của con người có nguồn gốc từ trời, là nguyên lý tự nhiên mà
trời phú cho con người và con người bẩm thụ lấy. Theo đó, tính là cái bẩm
sinh ban đầu, là cái nguyên sơ mà con người có được nhờ trời. Như vậy, tính
của con người là thiện hay ác là phụ thuộc chủ yếu vào sự tu dưỡng, giáo dục
của con người.
của con chó cũng như tính của con bò, tính của con bò cũng như tính của
18
người ta, chứ gì?” [29, 1195]. Chúng ta thấy rằng, Mạnh Tử đã kịch liệt phê
phán quan điểm tính không thiện không ác của Cáo Tử bằng những ngôn từ
rất sắc sảo và với thái độ khắt khe.
Giải thích vì sao tính người là thiện thì theo Mạnh Tử cứ theo cái bản
năng của người ta, thì ai cũng có thể làm lành, cho nên nói là thiện. Nếu có
điều gì bất thiện thì không phải là cái tội ở cái bản năng của người ta. Vì ông
đưa ra hình ảnh minh hoạ, đó là đứa trẻ khi mới sinh ra vốn đã sẵn có tình
cảm quyến luyến với cha mẹ, lòng yêu mến anh chị em của mình, ai cũng
động lòng thương xót và muốn cứu đứa trẻ khi nhìn thấy nó sắp té xuống
nước. Và từ đây mở rộng ra, theo Mạnh Tử, ai cũng có Tứ đoan hay Tứ thiện
tâm. Ông nói rằng: “Lòng trắc ẩn ai ai cũng có, lòng tu ố ai ai cũng có, lòng
cung kính ai ai cũng có, lòng thị phi ai ai cũng có. Lòng trắc ẩn là đầu mối
của nhân, lòng tu ố là đầu mối của nghĩa, lòng cung kính là đầu mối của lễ,
lòng thị phi là đầu mối của trí vậy. Nhân, nghĩa, lễ, trí chẳng phải ở ngoài đổ
khuôn vào ta, mà ta có sẵn cả, chẳng qua không nghĩ tới mà thôi” [29, 1205].
Rõ ràng, theo quan niệm của ông thì nhân, nghĩa, lễ, trí của con người là các
đức khi con người sinh ra đã có sẵn rồi.
Như vậy, ở đây Mạnh Tử khẳng định bản tính con người là thiện và cái
thiện là do trời phú cho con người, nó thuộc về bản năng con người, sinh ra
con người đã có sẵn.
Bàn về tính người là gì, ngoài thuyết tính thiện của Mạnh Tử ra thì thời
kỳ Chiến Quốc còn xuất hiện thuyết tính ác của Tuân Tử.
Trong sách Nho giáo của Trần Trọng Kim có nói rằng, sau Mạnh Tử độ
bốn mươi năm có Tuân Tử là đại biểu nổi tiếng về học thuật Nho giáo. Theo
Tuân Tử: “tính của người là ác, những điều thiện là người đặt ra” [34, 305].
Tuân Tử viện các lẽ để bác cái thuyết tính thiện của Mạnh Tử. Theo ông, vì
cái tính vốn ác nên thánh nhân mới đặt ra nhân nghĩa lễ phép để kiểu sức cho
lập trường giai cấp khi ông cho rằng: một mặt, tính thiện là điểm chung, vốn
có của tất cả mọi người, mặt khác ông lại cho rằng, chỉ có bậc quân tử mới
giữ được tính thiện ấy còn bậc thứ dân hay tiểu nhân thường bị dục vọng,
20
ngoại cảnh che lấp, cho nên ngay từ đầu, cái bản tính thiện do trời phú ấy dễ
bị đánh mất. Đó là điểm khác nhau giữa người quân tử và kẻ tiểu nhân. Sở dĩ
có điều này là do ông muốn bảo vệ lập trường giai cấp của mình để duy trì
trật tự xã hội cũ. So với Khổng Tử, quan niệm tính thiện của Mạnh Tử có
khuynh hướng duy tâm hơn, nhìn nhận bản chất con người thiên về các
phương diện tinh thần, đạo đức.
Trong “thuyết tính thiện” và “thuyết tính ác” của Mạnh Tử và Tuân Tử,
dù có những yếu tố và cách lý giải khá hợp lý nhưng không thể tránh khỏi
tính chất trực quan, máy móc, siêu hình. Mạnh Tử thì thiên về mặt xã hội, đạo
đức, còn Tuân Tử thì thiên về mặt bản năng, tự nhiên của con người để lý giải
bản tính vốn có của con người. Rõ ràng, các ông chưa nhận thức được rằng,
bản chất, bản tính của con người là sự thống nhất không thể tách rời giữa cái
sinh vật và cái xã hội. Chính sự khác nhau và hạn chế cơ bản này đã dẫn tới
sự đối lập giữa “thuyết tính thiện” và “thuyết tính ác” trong Nho giáo.
Mặc dù vậy, sự lý giải về bản tính con người của Tuân Tử và Mạnh Tử
trái ngược nhau nhưng đó không phải là sự đối lập nhau hoàn toàn. Cả hai đều
thống nhất ở chỗ là, có thể nhờ giáo dục, giáo hoá để hướng con người ta
hướng tới điều thiện. Quang Đạm nhận xét rằng: “Trong học thuyết tính
người, hai thầy Mạnh và Tuân chỉ khác nhau ở khía cạnh nhận xét và trình
bầy chứ không hoàn toàn là quan điểm của hai cá nhân riêng lẻ nào đó, mà là
những quan điểm phản ánh trạng thái đầy mâu thuẫn của hệ tư tưởng xã hội
nước Trung Hoa cổ đại thời Xuân Thu- Chiến Quốc suốt trên dưới hai thế kỷ
trong hoàn cảnh thiên hạ vô đạo” [20, 26]. Mặt khác, các ông đều giống nhau
ở luận điểm cho rằng, hoàn cảnh xã hội làm thay đổi bản tính con người và có
thể giáo dục, giáo hoá làm cho bản tính con người trở nên tốt hơn,
là sự phát hiện đầu tiên của lòng nhân, kính trọng người lớn là sự phát hiện
đầu tiên của lòng nghĩa. Không có gì lạ, hai mối tính đó, trong thiên hạ không
ai không có. Những danh từ lương tâm, lương năng, lương tri đều do Mạnh
Tử tạo ra, trước ông không ai có ý niệm ấy. Lương tâm với tính thiện là một.
Ông nói rằng: “Người nào tận tâm của mình thì biết được bản tính của mình.
Biết được bản tính thì hiểu được thiên lý vậy. Tồn tâm của mình, dưỡng tính
của mình là để thờ trời” [29, 1285].
22
Khi biết được cái tâm của Trời, thì nên giữ cho cái tâm ngay chính,
nuôi cái tính cho hoàn toàn sáng suốt, nhất động nhất tĩnh đều thuận theo cái
thiên lý tự nhiên, đó chính là sự chân thực thờ trời. Theo Mạnh Tử, khi ta đã
biết tính, biết trời, thì ta chỉ chuyên nhất ở sự nuôi tính và sự sửa mình cho
toàn cái của Trời đã phú cho ta, rồi cứ an vui mà đợi mệnh Trời, chứ không
lấy sự thọ yểu mà làm hại cái bản nguyên chí thiện. Ấy là cách lập mệnh.
Lập mệnh là lập theo cái chính mệnh, chứ không phải làm càn làm bậy
mà gọi là lập mệnh. Mạnh Tử nói: “Chẳng có điều gì là không do số mệnh.
Hãy thuận theo ý trời mà chấp nhận số mệnh chính đáng. Vì thế, người nào
biết mệnh trời thì không đứng dưới bức tường sắp đổ. Hết lòng giữ đạo mà
chết, là do số mệnh chính đáng. Chịu gông cùm mà chết, chẳng phải do số
mệnh chính đáng” [29, 1287]. Học để giữ lấy cái tâm nuôi lấy cái tính, biết rõ
lẽ trời mà theo cái chính mệnh của mình, ấy là biết cái tinh thần của Nho giáo.
Chính vì đề cao cái học duy tâm ấy, cho nên Mạnh Tử rất chú trọng vào
sự dưỡng tính, tồn tính, dưỡng khí và trì khí.
Việc quan trọng nhất là dưỡng tâm, dưỡng tâm tức là dưỡng tính- tức là
nuôi dưỡng bốn đức nhân, lễ, nghĩa, trí. Người ta sở chủ có cái tâm, vạn sự hay
dở đều ở cái tâm, vậy nên sự học của quân tử cần phải tồn tâm tức là giữ cái tâm
của mình. Trong chương Ly Lâu, tập hạ, Mạnh Tử nói: “Quân tử sở dĩ khác
người thường là ở chỗ tồn tâm. Quân tử dựa vào điều nhân để tồn tâm, dựa vào
lễ để tồn tâm. Người nhân yêu người, người có lễ kính trọng người. Yêu người
con người để hiểu đạo lý. Song tính phải có khí thì mới có hình thể và mới có
sinh trưởng.
Quan niệm về “khí” xuất hiện ở Trung Hoa vào thế kỷ thứ IV trước
thời Chiến Quốc. Cáo Tử và Mạnh Tử đứng về phương diện tâm lý để lý giải
khí. Mạnh Tử chú trọng vào chí khí, vào sự luyện chính khí, như ngày nay
chúng ta nói về nghị lực, khí lực tinh thần, cái dũng của tinh thần.
Khí là sự vận dụng của lý, lưu hành khắp cả vũ trụ ngưng tụ lại thành ra
hình, tức là thành ra vạn vật. Vạn vật sinh trưởng là nhờ có khí lưu hành trong
các thân thể. Vậy khí là để nuôi sự sinh hoạt của vạn vật. Song khí phải tuỳ