Nghiên cứu triết học
Đề tài: " SƠ THẢO LẦN THỨ NHẤT NHỮNG
LUẬN CƯƠNG VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ VẤN
ĐỀ THUỘC ĐỊA” CỦA V.I.LÊNIN VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH
TƯ TƯỞNG NGUYỄN ÁI QUỐC VỀ CON
ĐƯỜNG CÁCH "
SƠ THẢO LẦN THỨ NHẤT NHỮNG LUẬN CƯƠNG VỀ VẤN ĐỀ DÂN
TỘC VÀ VẤN ĐỀ THUỘC ĐỊA” CỦA V.I.LÊNIN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA
NÓ ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯ
ỞNG NGUYỄN ÁI QUỐC VỀ CON
ĐƯỜNG CÁCH
NGUYỄN TẤN HƯNG (*)
Trong quá trình hoà mình vào cuộc đấu tranh sôi nổi của phong trào công
nhân và Đảng Xã hội Pháp để tìm con đường cứu nước, giải phóng dân tộc
Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đã được đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những luận
tưởng cách mạng của họ thêm sâu sắc. Từ Đại hội I đến Đại hội II của Quốc tế
Cộng sản là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng thế giới và
ngày càng có thêm nhiều quần chúng lao động được thu hút vào cuộc đấu
tranh.
Trong phong trào cộng sản đang phát triển nhanh chóng lúc bấy giờ, V.I.Lênin
đặc biệt chú ý đến bộ phận các lãnh tụ của đảng thuộc Quốc tế II, những người
đã tự coi mình là cộng sản, nhưng trên thực tế, họ lại là những phần tử cơ hội
chủ nghĩa. Bộ phận này đã thao túng phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế. Bản chất của họ mang tính dân tộc tư sản hẹp hòi và sô vanh nước lớn.
Trong vấn đề dân tộc và thuộc địa, những kẻ cơ hội chỉ đơn giản thừa nhận
một cách hình thức quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Trên thực tế thì hoàn
toàn ngược lại, họ núp dưới chiêu bài “bảo vệ Tổ quốc” để che đậy việc bảo vệ
quyền lợi của giai cấp tư sản trong việc đi áp bức các dân tộc thuộc địa. Chúng
khơi dậy những thành kiến và tô đậm sự nghi kỵ dân tộc nhằm chia rẽ các dân
tộc thuộc địa với giai cấp vô sản và nhân dân lao động ở chính quốc, ở các
nước tư bản khác. Đó là điều vô cùng nguy hại cho phong trào cộng sản thế
giới.
Vào thời điểm này, Nhà nước Xôviết non trẻ đang cần được bảo vệ hơn bao
giờ hết trước sự can thiệp vũ trang của liên minh các cường quốc tư bản đế
quốc. Bảo vệ nước Nga Xô viết lúc này có ý nghĩa là bảo vệ trung tâm của
cách mạng vô sản thế giới, bảo vệ học thuyết cách mạng của C.Mác. Do vậy,
việc củng cố các đảng chuẩn bị cho việc tiến hành chuyên chính vô sản trên
phạm vi toàn thế giới và liên hiệp tất cả những người vô sản cách mạng ở
những nước tư bản tiên tiến với quần chúng cách mạng bị áp bức, bóc lột ở các
nước thuộc địa, ở các nước phương Đông được coi là nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu trong chương trình nghị sự của Đại hội II Quốc tế Cộng sản.
Trong điều kiện như vậy, V.I.Lênin đã soạn thảo những luận cương về vấn đề
dân tộc và vấn đề thuộc địa. Tác phẩm tuy ngắn gọn nhưng vô cùng quan
trọng. Nó đã củng cố những nguyên tắc mácxít về vấn đề dân tộc và vấn đề
thuộc địa. Những luận cương đó đã được Đại hội II Quốc tế Cộng sản thông
tâm đến vấn đề giải phóng các dân tộc thuộc địa cũng như tinh thần đoàn kết
của quần chúng lao động trong đấu tranh. Chính những nội dung lớn đó đã
mang lại sự vui mừng, phấn khởi cho Nguyễn Ái Quốc khi tiếp cận, tiếp thu
những tư tưởng cơ bản của V.I.Lênin trong Sơ thảo luận cương. Sau này, Hồ
Chí Minh đã kể lại: “Bản Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động,
phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi xúc động đến phát khóc lên. Ngồi
một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông
đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ, đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây
là con đường giải phóng chúng ta” và “Từ đó, tôi đã có một sự lựa chọn: tán
thành Quốc tế thứ ba và hoàn toàn tin theo Lênin”(2). Chính Người đã viết thư
bằng tiếng Pháp gửi Quốc tế Cộng sản cho biết, Luận cương này có ảnh hưởng
rất lớn đến sự hình thành thế giới quan và giúp Người dứt khoát đi theo Quốc
tế III.
Vấn đề lớn mà Nguyễn Ái Quốc luôn quan tâm và tìm lời giải đáp trong quá
trình tìm đường cứu nước chính là vấn đề giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Cụ
thể là cách mạng ở Việt Nam sẽ phải đi theo con đường nào, làm thế nào để
giành lại độc lập, bình đẳng cho dân tộc Việt Nam? Khi còn ở trong nước,
Nguyễn Ái Quốc đã có sự tổng kết, phê phán và không tán thành cách làm của
các bậc tiền bối, dù rằng Người rất kính phục các vị ấy. Trong thời gian bôn ba
khắp thế giới, đặc biệt là những năm tháng sống ở Mỹ, Anh, Pháp, Nguyễn Ái
Quốc đã tìm hiểu và nghiên cứu kỹ những cuộc cách mạng ở đó. Người đã tìm
hiểu, nghiên cứu cách mạng Mỹ 1776, cách mạng Pháp 1789. Song, Người
nhận ra rằng, những cuộc cách mạng ấy là “những cuộc cách mạng chưa đến
nơi”, nghĩa là cách mạng rồi mà nhân dân lao động ở đó vẫn chưa được giải
phóng, vẫn còn bị áp bức, bóc lột và rất cực khổ. Vì vậy, sự nghiệp cứu nước,
giải phóng dân tộc khỏi mọi áp bức, bóc lột không thể đi theo con đường của
những cuộc cách mạng đó, mà phải theo con đường khác.
Trong thời gian sống và hoạt động ở Pháp từ cuối năm 1917, đời sống chính trị
- xã hội của nước Pháp nói chung, của Đảng Xã hội và công nhân Pháp nói
riêng đã tác động mạnh mẽ đến Nguyễn Ái Quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho
và nhỏ yếu, không có con đường nào khác ngoài con đường liên minh với nước
Cộng hoà Xô viết. Chủ nghĩa thực dân, đế quốc sẽ sụp đổ hoàn toàn khi giai cấp
vô sản và nhân dân bị áp bức ở các thuộc địa hoà cùng một nhịp đập cách
mạng.
Chính những điều đó đã làm cho Nguyễn Ái Quốc vui mừng đến phát khóc.
Cảm động, phấn khởi, mà sáng tỏ tin tưởng biết bao, Người đã tìm thấy ở Luận
cương của V.I.Lênin con đường giải phóng đất nước và nhân dân mình.
Nguyễn Ái Quốc đã rút ra kết luận quan trọng: “Muốn cứu nước và giải phóng
dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(3).
Người đánh giá cao Cách mạng Tháng Mười: “Trong thế giới bây giờ chỉ có
cách mệnh Nga là thành công, và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được
hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật… Cách mệnh Nga đã đuổi được
vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức
các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản
trong thế giới”(4).
Đi theo con đường cách mạng vô sản có nghĩa là cần phải xây dựng khối đoàn
kết và liên minh chiến đấu với giai cấp vô sản thế giới, trong đó có giai cấp
công nhân và nhân dân lao động chính quốc. Người cho rằng, “…dù màu da có
khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống
người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu
ái vô sản”(5).
Một vấn đề nữa có ảnh hưởng quan trọng đối với Nguyễn Ái Quốc lúc này là
cuộc đấu tranh trong Đảng Xã hội Pháp về vấn đề ở lại Quốc tế II hay gia nhập
Quốc tế Cộng sản III. Người hỏi: “cái Quốc tế nào bênh vực nhân dân các
nước thuộc địa?” và nhận được câu trả lời rằng, đó là Quốc tế III. Đúng là chỉ
có Quốc tế III mới “chú ý đến vấn đề giải phóng thuộc địa” và đoàn kết, giúp
đỡ các dân tộc theo nguyên tắc của chủ nghĩa quốc tế vô sản. Chính vì vậy,
Nguyễn Ái Quốc đã “bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III” và “hoàn toàn
tin theo Lênin, tin theo Quốc tế III”. Người từ chối Quốc tế II vì nó “ủng hộ
chính sách đế quốc chủ nghĩa mà bọn tư bản thực hiện ở các nước thuộc địa,
nước thuộc địa”(8). Trên cơ sở phân tích những điều kiện lịch sử - xã hội của
phương Đông, Nguyễn Ái Quốc khẳng định rằng, chế độ cộng sản hoàn toàn
có thể thực hiện được ở châu Á và điều đó còn dễ hơn ở châu Âu.
Trong lý luận cũng như trong hoạt động thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc luôn nhấn
mạnh mối quan hệ khăng khít giữa cách mạng ở thuộc địa và cách mạng ở
chính quốc. Người viết: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa, có một cái vòi bám
vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản
ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt
cả hai vòi”(9); đồng thời, kêu gọi giai cấp công nhân ở các nước phương Tây
phải đẩy mạnh việc ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước
thuộc địa. Trong những bài phát biểu tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Người
nói: “Tất cả các đồng chí đều biết rằng, hiện nay nọc độc và sức sống của con
rắn độc tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc.
Các thuộc địa cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy; các thuộc địa cung cấp
binh lính cho quân đội của chủ nghĩa đế quốc. Các thuộc địa trở thành nền tảng
của lực lượng phản cách mạng”(10). Vì vậy, muốn đánh thắng chủ nghĩa đế
quốc, trước hết cần xoá bỏ hệ thống thuộc địa của nó. Từ đó, Người đề xuất
một luận điểm: cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động và có thể giành
thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc và bằng thắng lợi đó, tác động
mạnh mẽ đối với cách mạng ở chính quốc. Luận điểm này được coi là một
sáng tạo lớn của Nguyễn Ái Quốc về cách mạng giải phóng dân tộc, là sự bổ
sung quan trọng vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin.
Kể từ khi tiếp thu Luận cương của V.I.Lênin, đứng vững trên quan điểm của
chủ nghĩa Mác – Lênin, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu thực hiện các hoạt động
tuyên truyền và tổ chức trong giai cấp công nhân và những người yêu nước ở
một nước thuộc địa với nhịp độ khẩn trương chưa từng thấy. Người kiên quyết
đấu tranh chống tư tưởng hữu khuynh, mơ hồ về chủ nghĩa thực dân ngay
trong Đảng Cộng sản Pháp; thường xuyên tố cáo mạnh mẽ những tội ác dã
man của chủ nghĩa thực dân nói chung, chủ nghĩa thực dân Pháp nói riêng, làm
cho các tầng lớp nhân dân Pháp hiểu rõ tình cảnh của nhân dân Việt Nam và
quá trình hoạt động chính trị, có vị trí cao trong các Đảng Cộng sản và tham dự
nhiều đại hội của Quốc tế Cộng sản nên việc phê phán, đấu tranh chống những
quan điểm sai trái đó thật không đơn giản. Thực tế cho thấy, sau này, trừ một
số người được thuyết phục và đã đi theo Lênin, số còn lại vẫn tiếp tục chống
đối, trượt dài trên những sai lầm và cuối cùng, họ đã phản bội Quốc tế Cộng
sản. Tuy nhiên, nhờ sự phê phán của Nguyễn Ái Quốc, từ sau Đại hội V của
Quốc tế Cộng sản, tình trạng “ít hiểu biết”, “thờ ơ” của giai cấp công nhân dần
dần được khắc phục, tình trạng thiếu quan tâm hay quan tâm không đúng mức
của các Đảng Cộng sản chính quốc đối với vấn đề thuộc địa không còn nữa.
Những đề nghị của Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội đã trở thành hành động thực tế
của các Đảng Cộng sản ở châu Âu.
Không chỉ tố cáo những tội ác dã man của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực
dân đối với nhân dân các nước thuộc địa để thức tỉnh hàng trăm triệu quần
chúng lao động ở những nước này vùng lên đấu tranh đánh đổ bọn đế quốc,
thực dân giải phóng cho mình, cũng như kêu gọi giai cấp công nhân và nhân
dân lao động ở các nước chính quốc, các Đảng Cộng sản và công nhân trên
toàn thế giới tích cực ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân
dân các nước thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc còn tiến tới tổ chức, xây dựng khối
đoàn kết của nhân dân các nước thuộc địa. Tháng 6 - 1921, Người cùng với
một số nhà yêu nước của các nước thuộc địa khác thành lập Hội liên hiệp các
dân tộc thuộc địa, xuất bản báo Người cùng khổ (Le Paria) vào năm 1922, viết
tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp (xuất bản lần đầu tiên tại Pháp năm
1925); đọc nhiều tham luận tại các hội nghị quốc tế, trong đó nhấn mạnh phải
hoạt động tích cực cho phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa
theo đường lối của Lênin.
Có thể khẳng định, Luận cương của Lênin đã mở ra con đường đưa Nguyễn Ái
Quốc đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Do nhu cầu của cách mạng, Người càng
ra sức tìm hiểu và thấu suốt được tinh túy của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận
dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam nhằm giải quyết những vấn
đề mà thực tiễn cách mạng Việt Nam đặt ra. Như vậy, hoàn toàn có cơ sở để