Đồng dao và vai trò của nó đối với sự hình thành các tập tính ban đầu của trẻ mầm non - Pdf 31

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn khoa học ThS.
GVC: Nguyễn Văn Mỳ
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô bộ môn khoa GD
Tiểu học, Ban giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập cũng như hoàn thiện khoá luận.
Cảm ơn gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện cho tôi
trong quá trình thực hiện khoá luận.
Hà nội, ngày 05 tháng 05 năm 2010
Người thực hiện

Nguyễn Thị Hằng

1


LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Hội đồng bảo vệ khoá luận tốt nghiệp Đại học năm 2010 2011 khoa tiểu học Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2.
Tên tôi là: Nguyễn Thị Hằng
Sinh viên lớp: K32 - mầm non - Khoa GD Tiểu học - Trường Đại học
sư phạm Hà Nội 2.
Tôi cam đoan tất cả những nội dung, số liệu ……. Đã trình bày trong khoá
luận của riêng tôi, tự tôi tìm tòi, nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của Thầy giáo
ThS. GVC: Nguyễn Văn Mỳ và chưa từng được công bố trong bất cứ mọt
khoá luận nào khác.
Hà nội, ngày 05 tháng 05 năm 2010
Người thực hiện

Nguyễn Thị Hằng

2


1.2. Lý do sư phạm
Bản thân là một người giáo viên mầm non tương lai tôi được nghiên
cứu, tìm hiểu về tâm sinh lý cũng như đặc điểm phát triển của trẻ mầm non
cùng với những trải nghiệm của tuổi thơ, lớn lên bên bầu sữa mẹ, bên cánh
võng tiếng ru của bà, bên những cây chuyền, hòn sỏi, hòn bi, hay cả những
tiếng hò reo la hét vui đùa trong những buổi chiều chăn trâu , cắt cỏ cùng
chúng bạn trên cánh đồng quê thanh bình êm ả hơn ai hết tôi hiểu được ý
nghĩa của những khúc đồng dao đối với đời sống tâm hồn của một con người.
Những khúc đồng dao chứa đùng những bài học giáo dục vô cùng quý
báu và hữu hiệu, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, khi được tiếp cận
những khúc đồng dao trẻ không chỉ được học đọc mà trẻ còn được hát, được
múa, được chơi, được cười và được thoả mãn sự hiếu động của tuổi thơ. Vậy
là chưa cần tới trường, lớp, phấn bảng, mà trẻ vẫn tiếp thu kiến thức đơn giản
của cuộc sống hay đúng hơn là trẻ có thể học làm người.
Hiểu được điều đó, tôi đã quyết định nghiên cứu tìm hiểu về những
khúc đồng dao để thªm một lần nữa khẳng định lại giá trị quý báu của đồng
dao và góp một tiếng nói bé nhỏ vào việc hoàn thành mục tiêu giáo dục toàn
diện cho trẻ mầm non.
2. Lịch sử vấn đề
Đồng dao là một bộ phận quan trọng của văn học dân gian nói riêng và
văn học Việt Nam nói chung, nó có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với người Việt
Nam, đặc biệt là đối với trẻ thơ. Các bài đồng dao không chỉ phong phú về
nội dung mà còn đa dạng về hình thức, nó tuy mộc mạc, giản dị về ngôn ngữ,
hình ảnh nhưng lại lưu giữ, chất chứa một giá trị tinh thần rất lớn, thấp thoáng
trong nó là hình ảnh của thiên nhiên tươi đẹp, của xã hội nông nghiệp gần gũi
thân thương, nó là nơi khơi nguồn tình mẫu tử, lòng thương người và hơn hết

4


ban đầu của trẻ mầm non
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu.
- Đồng dao và hệ thống đồng dao
- Đồng dao và vai trò của nó đối với sự hình thành các tập tính ban đầu
của trẻ mầm non.
4.2. Phạm vi nghiên cứu.
Do thời gian có hạn nên phạm vi nghiên cứu đề tài chỉ dừng lại ở việc
tìm hiểu Đồng dao và vai trò của nó đối với sự hình các tập tính ban đầu của
trẻ mầm non.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu.
5.1. Tìm hiểu về đồng dao và hệ thống đồng dao
5.2. Đồng dao và vai trò của nó đối với sự hình thành các tập tính
ban đầu của trẻ mầm non.
6. Phương pháp nghiên cứu.
6.1. Phương pháp phân tích tổng hợp
6.2. Phương pháp thống kê so sánh
6.3. Phương pháp đọc sách và tài liệu

6


NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1. Đồng dao và hệ thống đồng dao
1.1. Khái niệm
Cho tới nay các nhà nghiên cứu về thơ ca dân gian chú ý tới mặt
này, mặt kia của đồng dao nhưng đều nhất trí rằng Đồng dao là lời hát của
nhi đồng căn cứ vào từ điển Từ Hải và Từ Nguyên của Trung Quốc, Dương
Quảng Hàm cho biết Đồng dao là hát không có chương có khúc: có người cho
rằng Đồng dao là ca dao nhi đồng như Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Tấn Long,

dân tộc với hoạt động yêu nước thương nòi, đạo đức trong sáng của nhân dân
hoặc những lời ca dao về cảnh trí thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, phong
tục, lễ hội … Tồn tại gần các em, nó góp phần quan trọng trong việc hình
thành phát triển nhân cách người Việt Nam ở các em.
1.2. 1. Đồng dao trẻ em hát, đồng dao trẻ em hát, trẻ em chơi
1.2.1.1. Ngôn ngữ đồng dao trẻ em hát, đồng dao trẻ em hát, trẻ em
chơi
Các nhà tâm lý học cho rằng, từ 3 tuổi trở đi trẻ em đạt được ba thành
tựu cơ bản có tác dụng quyết định phát triển tâm lý là: Trẻ làm chủ lối đi
thẳng người, trẻ phát triển các hoạt động trong quan hệ với đồ vật, trẻ làm chủ
ngôn ngữ. trẻ em Việt Nam cũng nằm trong quy luật đó, tục ngữ có câu: Trẻ
lên ba cả nhà học nói như vậy lấy trẻ 3 tuổi làm mốc, có thể thấy từ tuổi này
trở đi trẻ tiếp nhận những lời đồng dao trẻ em hát tiếp theo là những lời đồng
dao trẻ hát, trẻ em chơi, có thể nêu đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ bộ phận
đồng dao này là: Giản dị, mộc mạc, vô tư, hồn nhiên, ngộ nghĩnh, vui tươi…
Đó là ngôn ngữ gồm từ vựng cụ thể về tự nhiên và xã hội gần gũi với
đời sống, sinh hoạt hàng ngày của trẻ em, nó hoàn toàn phù hợp với tâm lý trẻ

8


thơ. Có thể đó là những người gần gũi với trẻ như mẹ, bà… là những bộ phận
trên cơ thể như chân tay, tai, mắt, mũi … là những con vật nuôi trong nhà như
chó, mèo, lợn, gà … xa hơn là chim, cá, hoa, trái … rồi đến thời gian buổi
sáng, buổi chiều… đến không gian như: trăng, sao, mưa, nắng… có những bài
vè được trẻ kết lại theo một đề tài như bài vè chim: Chim ri là dì sáo sậu/Sáo
sậu là cậu bồ nông/Bồ nông là ông chim chích… có những từ được hiểu biết
trong trò chơi, trong sinh hoạt như các lời đồng dao gọi nghé, khi tư duy, trí
khôn phát triển, ngôn ngữ phát triển cụ thể được liên kết đơn giản dễ nhận
biết thường là những hoạt động như là: Con mèo mà trèo cây cau/Hỏi thăm

cành đa/ Leo phải cành cụt leo ra leo vào/ Con kiến mà leo cành đào/ Leo
phải cành cụt leo vào leo ra… Có thể là lời nói vòng tròn dựa theo cách gieo
vần Lúa ngô là cô đậu nành/ đậu nành là anh dưa chuột … Có thể là cách nói
ngoa dụ gây cười Ngồi buồn nói chuyện láo thiên/ Hồi tôi còn nhỏ rủ đi
khiêng ông trời/ Ra đường thấy muỗi đớp rơi/Bọ hung đám giỗ đi mời ông voi
Trong đồng dao trẻ em hát, đồng dao trẻ em hát, trẻ em chơi còn có ngôn ngữ
chỉ có lời mà không có nghĩa Chè la chè lít , Chi chi vít vít Những từ này có
thể gây hứng thú cho trẻ về mặt âm thanh, nhịp điệu cũng có thể do phát âm
của trẻ ở thời kỳ tiền ngôn ngữ.
Tóm lại ngôn ngữ đồng dao trẻ em hát, đồng dao trẻ em hát trẻ em chơi
thực sự là ngôn ngữ của trẻ. Trong khi chơi trẻ hát cùng thế giới tự nhiên, xã
hội xung quanh mình, qua đó làm cho tiếng nói của trẻ phát triển đặc biệt về
từ vựng, dù ở hình thức nói xuôi, nói ngược, nói lái … xét đến cùng đều để
các em được vui chơi, được giao tiếp với nhau và cùng để các em nắm bắt
ngày càng tốt hơn tiếng mẹ đẻ.

10


1.2.1.2. Kết cấu của đồng dao trẻ em hát, đồng dao trẻ em hát trẻ
em chơi.
Nhìn chung đồng dao trẻ em hát, đồng dao trẻ em hát, trẻ em chơi có
kết cấu phong phú đa dạng, đơn giản, tự nhiên, vần vè nhằm mục đích vui
chơi là chính và phần nào cảm nhận theo tư tưởng của trẻ.
Kết cấu Dắt dây từ vật này chuyển sang vật khác, từ chuyện này
chuyển sang chuyện khác, liên kết với nhau bằng vần của ngôn ngữ Cốc cốc
keng keng/ Mụ sên đi chợ/ Mụ rổ ở nhà/ Bắt gà làm thịt… rồi nói chuyện Con
ruồi có cánh, đòn gánh có mấu/ Con sấu có tai … tiếp theo là Chuyện bánh
trưng, rá mót, hàng trầu, hàng cau … cuối cùng là Hàng hương, hàng hoa/ Là
hàng ông Bẩn…

Điều đầu tiên cần khẳng định lời hát ru, lời ca dao là sáng tác của
người lớn sáng tạo. Như đã nói ở trên, nội dung và nghệ thuật lời của hát ru
và ca dao cho trẻ em không có ranh giới rõ ràng, có chăng chỉ có ở một số lời
hát ru được bắt đầu bằng Ru hỡi hời ru hoặc Ru con con ngủ… được xem như
tín hiệu của hát ru mà thôi, còn khi ru em, ru con, người chị, người mẹ có thể
hát những bài ca dao với giai điệu uyển chuyển để ru con, ru em. Đối với trẻ
em, ngôn ngữ hát ru và ngôn ngữ ca dao cho trẻ em có thể tìm hiểu trong hai
thời kỳ phát triển tâm sinh lý cho trẻ em: Thời kỳ tuổi thơ và thời kỳ tuổi nhỏ.
Ngôn ngữ lời hát ru ca dao cho trẻ em thời kỳ tuổi thơ : Theo kết quả
nghiên cứu của ngành tâm lý học trẻ thơ thì giai đoạn này chính là hình thái
khởi đầu của việc trẻ tìm hiểu ngôn ngữ. Như vậy ta có thể khẳng định lời hát
ru rất ích lợi đối với trẻ trước hết là phần nhạc điệu và ngữ âm của lời hát ru.
Cùng với tình cảm thân thương của mẹ vừa bế vừa ru, vừa hát tuy trẻ không
biết gì về ngữ nghĩa của lời ru nhưng đó là những lời vô nghĩa êm dịu gây ấn
tượng sâu sắc đối với thính giác và thần kinh của trẻ. Những âm thanh nhịp

12


điệu cùng với tình cảm của mẹ, hình ảnh ngôn ngữ của lời ru tác động tích
cực tới trẻ làm cho trẻ phát triển nhiều mặt về tâm lý, chuẩn bị tốt cho trẻ
cùng năm tháng, tiếp cận thời kỳ tuổi thơ với dấu mốc quan trọng là làm chủ
được ngôn ngữ, như vậy ở thời kỳ này giá trị thực tiễn của hát ru trước hết là
ngữ âm, là âm nhạc đi cùng lời hát ru hơn là ngữ nghĩa của ngôn ngữ lời hát
ru.
Ngôn ngữ lời hát ru, ca dao cho trẻ em thời kì tuổi thơ hay tuổi thiếu
nhi bắt đầu từ giai đoạn trẻ từ 3 tuổi đến 15 tuổi. Thời kỳ này trẻ em tiếp xúc
với đồng dao nhiệt tình hơn là tiếp xúc với hát ru và ca dao cho trẻ em vì đồng
dao cho trẻ em và đồng dao trẻ em hát trẻ em chơi là sáng tác của chính các
em, nó phù hợp với nhu cầu ngôn ngữ của trẻ trong giai đoạn này.

Phổ biến nhất trong hát ru và ca dao cho trẻ em là kết cấu một vế đơn
giản: Ai đem chim sáo sang sông/ Để cho chim sáo sổ lồng nó bay.
Khác với kết cấu của đồng dao trẻ em hát, trẻ em hát trẻ em chơi, kết
cấu của hát ru của ca dao cho trẻ em khá chặt chẽ có lời lẽ về một câu truyện
vui Bà còng đi chợ trời mưa/ Cái tôm cái tép đi đưa bà còng/ Đưa bà đến
quãng đường cong/ Đưa bà đến tận ngõ trong nhà bà … Có lời kể địa danh
phong phú Rủ nhau đi khắp long thành/ Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai
Tóm lại, kết cấu kể chuyện trong hát ru hoặc ca dao cho trẻ em phần
nhiều kết hợp sự việc với cảm nghĩ của con người, kể chuyện không tách dời
tả cảnh, tả tình.

14


1.2.3. Đồng dao trẻ em đố vui
1.2.3.1. Ngôn ngữ đồng dao trẻ em đố vui
Như ta đã biết đồng dao trẻ em đố vui là một bộ phận của đồng dao, nó
cũng khá phù hợp với tâm sinh lý của trẻ em, như vậy ngôn ngữ của đồng dao
trẻ em đố vui ngoài những đặc điểm chung còn mang nhũng dặc điểm riêng.
Ngôn ngữ của đố vui là ngôn ngữ súc tích, đa nghĩa nhiều ẩn dụ nặng
về lý trí, khêu gợi trí thông minh óc tìm tòi của trẻ. Khác với bộ phận đồng
dao khác ngôn ngữ đồng dao trẻ em đố vui không chỉ giúp trẻ vui chơi, phát
triển ngôn ngữ, tình cảm thẩm mĩ tình cảm đạo đức mà đồng dao trẻ em đố
vui còn giúp trẻ em phát triển trí tuệ, khi tham gia giải các câu đố, tìm đáp án,
tìm các câu trả lời cho câu đố, trẻ không thể dùng cảm giác mà trẻ phải tư
duy, phải tìm tòi khám phá. Từ đó góp phần làm giàu vốn hiểu biết cho trẻ, trẻ
nắm được các quy luật vận động, biến đổi của tự nhiên, xã hội.
1.2.3.2. Kết cấu của đồng dao trẻ em đố vui
Khác hẳn với kết cấu đồng dao, kết cấu đố vui do tính chất kỳ dị của
những hình ảnh tạo nên, vì vậy các nhân tố của kết cấu có thể gồm một hình

Thuyền bè dưới sông

Cái gì trên đồng

Thóc lúa trên đồng

Cái gì trên non

Hươu vượn trên non

Cái gì nhiều con

Gà mái nhiều con

Cái gì thì son

Cái chỉ thì son

Cái gì thì tròn

Cái gương thì tròn

1.3. Tính chất, chức năng, tác dụng cuả đồng dao
1.3.1. Tính chất
Đồng dao là một bộ phận của văn học dân gian, gần gũi với ca dao nên
nó có dầy đủ tính chất truyền miệng, nhiều dị bản và tập thể vì đồng dao là
của trẻ em nên đồng dao còn có tính chất vui chơi phù hợp với tâm lý trẻ em.
Phần lớn đồng dao do tự trẻ em sáng tạo trong lúc vui chơi, cùng hát đồng
thanh, truyền miệng cho nhau từ xóm thôn này, vùng này qua xóm thôn khác,
vùng khác. Do truyền miệng nên đồng dao tất nhiên có tính dị bản. Ví dụ như

mạc trong sáng. ở tuổi mẫu giáo lớn, tiểu học những đồng dao trẻ em hát - trẻ
em chơi, những đồng dao đố vui tác động mạnh mẽ tới nhân cách các em.
Sống trong nguồn nước trong lành của hát ru, của đồng dao vừa hát vừa chơi,
tình cảm và lý trí phát triển, trong tuổi thiếu niên, các em có thể hiểu được ý
nghĩa của đồng dao sống lại thời thơ ấu với bao kỉ niệm tốt đẹp. Tuổi thiếu

17


niên rất cần tiếp xúc với văn học dân gian đặc biệt với ca dao trẻ em, đó là
một kênh thông tin không thể thiếu góp phần hình thành nhân cách chuẩn bị
cho các em bước vào tuổi cao hơn.
1.4. Nội dung của đồng dao
Nhìn một cách tổng quát, hệ thống đồng dao Việt Nam dựng lên một
cuốn phim hiện thực của thiên nhiên và xã hội Việt Nam với nền kinh tế nông
nghiệp lâu đời mà tác giả và đạo diễn , người diễn xướng là Xã hội trẻ em với
cảm nghĩ vô tư, trong sáng, tư duy ngộ nghĩnh nhưng giầu tưởng tượng, thông
minh và sáng tạo. biết bao màu sắc tươi sáng của đất trời, cỏ cây hoa lá, biết
bao âm thanh vui nhộn của muôn loài hoà lẫn với tiếng ru êm dịu tha thiết của
mẹ hiền … Qua cảm nhận ấu thơ đồng dao đã đi vào lời hát, trò chơi của trẻ
như những dòng suối trong lành bắt nguồn từ truyền thống lao động, truyền
thống nhân đạo lâu đời của dân tộc góp phần hình thành và phát triển nhân
cách con người Việt Nam từ tấm bé. hệ thống đồng dao Việt Nam tuy có
nhiều bộ phận cấu thành nhưng thống nhất về nội dung, biểu hiện ở một số
chủ đề lớn.
1.4.1. Một thiên nhiên tươi đẹp sinh động dưới đôi mắt trẻ thơ
Từ ngàn đời xưa và có lẽ đến hôm nay, trẻ em Việt Nam, nhất là trẻ em
nông thôn rất gần gũi với thiên nhiên. Điều kiện khí hậu nhiệt đới làm cho
thiên nhiên nước ta tươi đẹp, phong phú, khi biết cảm nhận môi truờng thì
trong đầu các em xuất hiện hàng chục thắc mắc và hàng trăm câu hỏi: cây gì

1.4.2. Một xã hội nông nghiệp gần gũi thân thương với trẻ em
Có thể nói môi trường nông nghiệp, địa bàn nông thôn là nơi sản sinh,
nơi ca hát vui chơi diễn xướng của đồng dao. Trẻ em nông thôn từ miền xuôi
đến miền ngược cứ sáu bảy tuổi trở lên đã tham gia lao động với cha mẹ: chăn
trâu, cắt cỏ, mò cua, bắt ốc, bế em, cho gà ăn … vừa lao động trực tiếp các em
vừa vui chơi, vừa quan sát Chiều ni em đi câu cá/ Về cho má nấu canh chua/
Ô kìa con cua/ Có hai cái càng / Có tám cái ngoe/ Nó nâng cái bụng/ Nó đi

19


xàng xê/ Em bắt nó về …/ Làm quen với nông nghiệp các em cùng hát ca dao
với cha mẹ, đó là Công việc nhà nông quanh năm cầu cho mưa thuận gió hoà,
lúa tốt được mùa Ơn trời mưa nắng phải thì/ Nơi thì bừa cạn nơi thì cày sâu/
Công lênh chẳng quản bao lâu/ Ngày nay nước bạc ngày sau cơm vàng …/
Nông lâm, ngư nghiệp là ba hoạt động cơ bản của kinh tế nước ta, thông qua
đó các em tiếp cận nhẹ nhàng nhưng sâu sắc thông qua đồng dao Cha chài,
mẹ lưới, con câu/ Thằng rể đi úp con dâu đi mò đồng dao đi liền với trò chơi
đã mô phỏng các hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp
gián tiếp tập cho các em thành người lao động. Trò chơi dân gian kèm theo
đồng dao gắn bó chặt với hoạt động nông nghiệp, thủ công nghiệp như chơi
Trồng đậu, trồng cà, câu ếch, kéo cưa lừa xẻ, dệt vải … Cũng như các trò
chơi khác trò chơi dân gian vẫn có chức năng cơ bản là thoả mãn và phát triển
nhu cầu chơi và năng lực sáng tạo của trẻ em. Tính chất các trò chơi của trẻ
chỉ mang tính mô phỏng tượng trưng, tuy nhiên nhờ đó mà trẻ tích lũy kinh
nghiệm hoạt động trong tương lai. Hiện nay với nền kinh tế ngày càng phát
triển, ngoài việc giữ gìn và phát huy đồng dao gắn với trò chơi mang tính
nông nghiệp cần hướng dẫn cho các em nông thôn hiểu biết về đời sống công
nghiệp hoá trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá hiện nay Hay chăng
dây điện/ Là con nhện con/Không cần cỏ non/ Là con trâu sắt/ Rồng phun

hát kèm theo đại bộ phận do trẻ em sáng tác, giao lưu lan truyền từ nơi này
sang nơi khác, trẻ em nơi nào thấy hợp thì tiếp thu, phát triển và cải tiến cách
chơi cho phù hợp. Do đó trò chơi dân gian trẻ em có tính tập thể rất rõ. Trong
số các trò chơi dân gian thì số lượng trò chơi không kèm theo lời hát chiếm tỉ
lệ nhỏ còn đại đa số các trò chơi có kèm theo lời đồng dao. Sau khi nghiên
cứu tính chất của lời đồng dao trong các trò chơi đó là lời có vần, tính nhạc
rất ít giúp trẻ rèn luyện bồi dưỡng tiếng nói, ngữ nghĩa không phải là yếu tố
được các em quan tâm duy nhất mà các em chú ý nhiều đến nhữ âm nhịp và
vần, thao tác trò chơi phải đều đặn và đồng loạt. Người ta kết luận lời đồng
dao có những đóng góp quan trọng để thực hiện nội dung giáo dục và chức

21


năng vui chơi với nhiệm vụ rất đa dạng: luyện phát âm, cung cấp từ ngữ, giáo
dục nhận thức, bồi dưỡng tình cảm, giữ nhịp cho thao tác chơi, thay cho hiệu
lệnh kết thúc và hiệu lệnh xuất phát. Chọn người đóng vai chính. Bên cạnh
những lời đồng dao khớp với trò chơi thì có những lời đồng dao không quan
hệ hoặc quan hệ rất ít đến trò chơi như trò chơi Nu na nu nống/…/ Chân ai
sạch sẽ/ Gót đỏ hồng hào/ Được vào đánh trống còn các lời khác có các câu
cuối là Tè he chân rạt cho nên có một số trò chơi có kèm theo lời đồng dao
chỉ mượn trò chơi để vừa chơi trò chơi này nhưng lại học nội dung khác như
trong trò chơi chuyền thẻ các em không chỉ được học cách đếm Chuyền
chuyền đôi/ Đôi chúng tôi/ Đôi chúng nó/ Đôi chúng chó/ Đôi chúng mèo/
Đôi lên 3/ mà còn được dùng để phát triển từ vựng mình hát bạn chơi, chúng
mình cùng hát cùng thuộc trò chơi chuyền thẻ còn rèn luyện trí nhớ, rèn bàn
tay khéo léo, tính trung thực trong khi chơi.
Trong hệ thống đồng dao còn có chơi đố vui, câu đố có lời vần vè ám
chỉ vật đố, người giải đố phải đoán để trả lời. Câu đố cũng là một loại đồng
dao chơi mà học, học mà chơi manh tính rèn luyện suy nghĩ của trẻ em. Để

cò, cái kiến, cái bống.
Hát ru và ca dao cho trẻ em thường thống nhất trên nhiều chủ đề. Rất
nhiều phong cảnh đất nước ẩn mình trong ca dao Gió đưa cành trúc la đà/
Tiếng chuông Chấn Vũ canh gà Thọ Xương/ Mịt mù khói toả ngàn sương/
Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ trong kháng chiến nó cũng có thể là
lời dặn dò Con ơi con ngủ cho say/ Mẹ đi phục kích canh hai mẹ về… đó là
lòng mẹ, là tình mẹ và đó cũng là truyền thống dân tộc qua lời ru mẹ truyền
lại cho con đó là tình thương yêu đồng bào, đồng chí, là tinh thần đoàn kết
dân tộc Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Ngươì trong một nước phải thương
nhau cùng truyền thống yêu quý lao động Cày đồng đang buổi ban trưa/ Mồ
hôi thánh thót như mưa ruộng cày/ Ai ơi bưng bát cơm đầy/ Rẻo thơm một hạt
đắng cay muôn phần… Còn bao lĩnh vực khác như hội hè, đình đám, thuần

23


phong mỹ tục, quan hệ trong gia đình, làng xóm, thầy bạn … còn sống mãi
trong ca dao mà khi bước chân tới nhà trường các em tiếp nhận như những
dòng nước trong lành từ nguồn dân tộc.
Trong mục Hát ru em Vũ Ngọc Phan viết Nội dung những bài hát ru
em rất phong phú, có thể là những cảnh vật xinh xinh, những ý nghĩa thơ
ngây phù hợp với tuổi nhỏ, nó cũng có thể là những tình cảm thắm thiết của
những người phụ nữ biểu lộ trong bài ca, phù hợp với tâm tình người hát, nó
cũng có thể là tư tưởng đả kích giai cấp phong kiến
Trên đây là nội dung của hệ thống đồng dao Việt Nam được nhìn nhận
và đánh giá không theo nội dung từng bộ phận cấu thành của hệ thống đồng
dao mà nhìn tổng hợp theo nội dung của bốn chủ đề nêu trên.
1.5. Nghệ thuật của đồng dao
* Thi pháp với tư cách là tổ hợp những đặc điểm hình thức nghệ thuật
của tác phẩm ngôn từ.

hát, cùng chơi các trò chơi. Thể văn bốn gieo vần dễ dàng, vần cuối dòng thứ
nhất vần với tiếng thứ hai của dòng thứ hai … Đó là cách gieo vần đơn giản
nhất trong các thể thơ của đồng dao Tu hú là chú bồ câu/ Bồ câu là bác chim
di/ Chim di là dì sáo sậu/ Sáo sậu là cậu sáo đen … đặc điểm nổi bật trong
thể văn bốn là vè, vè là thể loại tự sự. Với người lớn vè là kể chuyện thế sự,
chuyện lịch sử. Còn đối với trẻ em, vè là kể chuyện nhưng là kể chuyện cỏ
cây, hoa lá, chim muông hoặc chuyện hài hước như vè nói ngược, vè thằng
bờm, vè thằng nhác. Lời của vè rất dài nhưng trẻ mau nhớ, mau thuộc vì có
vần và là bài học về từ vựng hấp dẫn. Trong đồng dao hát ru, số bài theo kiểu
văn bốn rất ít, vì nó không phù hợp với tính chất, giai điệu của thể loại này.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status