NHỮNG nội DUNG cơ bản về PHẠM TRÙ THỰC TIỄN DO c mác và PH ĂNG GHEN xây DỰNG được THỂ HIỆN TRONG các tác PHẨM từ 1841 đến 1848 VAI TRÒ của nó đối với VIỆC HÌNH THÀNH THẾ GIỚI QUAN KHOA học - Pdf 40

NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU VỀ PHẠM TRÙ THỰC TIỄN
C.MÁC VÀ ĂNGHEN XÂY DỰNG ĐƯỢC THỂ HIỆN
TRONG CÁC TÁC PHẨM TỪ 1841 ĐẾN 1848, VAI TRÒ CỦA NÓ
ĐỐI VỚI VIỆC HÌNH THÀNH THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC
Kế thừa một cách có phê phán những thành tựu tư duy của nhân loại, sáng
tạo ra chủ nghĩa duy vật mới về chất, hoàn bị và triệt để, thống nhất giữa chủ
nghĩa duy vật và phép biện chứng, giữa quan niệm duy vật về tự nhiên và duy
vật về xã hội, giữa việc giải thích hiện thực về mặt triết học với việc cải tạo hiện
thực thực tiễn cách mạng. C.Mác - Ăngghen đã sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật
hoàn toàn mới. Đây là bước đột phá của triết học Mác, cải tạo một cách triệt để
CNDV cũ, kể cả CNDV của PhoiơBắc để xây dựng một CNDV mới, chủ nghĩa
duy vật thực tiễn. Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù trung tâm, nền
tảng, không chỉ trong lý luận nhận thức Mác xít mà còn của toàn bộ triết học
Mác - Lênin nói chung. Nó không chỉ bó hẹp trong phạm vi dùng để giải thích
quá trình nhận thức, mà còn mang nhiều ý nghĩa về mặt thế giới quan. Lý luận
về phạm trù thực tiến được Mác và Ăngghen xây dựng trong suốt quá trình hình
thành và hoàn thiện lý luận. Tuy nhiên từ năm 1841 đến 1848, bao gồm hai giai
đoạn của Triết học Mác: giai đoạn chuyển đổi lập trường và giai đoạn đề xuất
những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các nhà kinh
điển đã có nhiều tư tưởng về phạm trù thực tiễn, nhằm cải biến chủ nghĩa duy vật
thành chủ nghĩa duy vật hoàn toàn mới - chủ nghĩa duy vật thực tiễn.


2

Từ 1841 đến 1848, C.Mác và Ăngghen đã viết nhiều tác phẩm, thể hiện
việc chuyển đổi lập trường từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa duy vật, từ dân
chủ tư sản sang chủ nghĩa cộng sản và đề xuất cơ bản các nguyên lý của chủ nghĩa
duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử. Có thể kể đến một số tác phẩm:
Tập hợp 12 bài báo của Mác thời kỳ Mác làm việc tại Báo sông Ranh từ 1842 đến
1/4/1843 (C.Mác và Ăngghen toàn tập, Tập 1); "Phác thảo góp phần phê phán

"tinh thần thế giới", "ý niệm tuyệt đối" hay một lực lượng siêu nhiên nào đó ban
cho, mà do chính con người sáng tạo ra trong quá trình lao động sản xuất xã hội
của mình. Lao động đã "lọc bỏ" phần sinh vật trong con người, làm biến đổi,
phát triển và từng bước hoàn thiện hàng loạt bản tính tự nhiên của con người,
hình thành những thuộc tính xã hội. Mặt khác, với lao động, con người đã tạo ra
các phương tiện, điều kiện từ các đối tượng tự nhiên và cải tạo chúng, làm nên
"một tự nhiên thứ hai" cho mình.
Quá trình hình thành phạm trù thực tiễn, việc xác định đúng vấn đề con
người hiện thực còn được thể hiện ngày một sâu sắc hơn thông qua việc giải
quyết vấn đề con người bị tha hoá trong lao động, càng sản xuất ra vật chất thì
con người càng bị tha hoá. Vấn đề này được thể hiện thông qua một số tác phẩm.
Trong "Bản thảo kinh tế - triết học" năm 1844, C.Mác đã bóc trần toàn bộ tính
chất vô căn cứ của quan điểm duy tâm về yếu tố này, đặc biệt là khi nói đến vấn
đề tha hoá. Toàn bộ sự tha hoá và lột bỏ sự tha hoá của Hêghen diễn ra trong
phạm vi tư duy, do đó lao động, hoạt động của con người chỉ mang tính chất là
lao động tư duy, tinh thần, hoạt động tư duy mà thôi.
Trái ngược với kinh tế học chính trị tư sản, C.Mác cố tìm những cội nguồn
sâu sa của sự tách rời giữa lao động và tư bản, và tìm thấy chúng trong phạm trù
lao động bị tha hoá. Mác viết: không chỉ có nghĩa là lao động của anh ta trở thành
một đối tượng, có một sự tồn tại bên ngoài mà còn có ý nghĩa là lao động của anh

1

C.Mác và Ph.Ăngghen, Tuyển tập, NXBST, HN, 1980, tr.267.


5

ta tồn tại bên ngoài anh ta, độc lập với anh ta như một cái gì xa lạ với anh ta, và
lao động ấy trở thành sức mạnh độc lập, đối lập với anh ta....

Trong bài báo "Bàn luận về đạo luật ăn cắp gỗ" đăng trên báo sông Ranh,
C.Mác đã phát hiện ra vấn đề: bằng lý lẽ không thể bác bỏ được Nhà nước Phổ,
chỉ có bằng con đường xây dựng lý luận thực sự bài bản, thông qua thực tiễn,
bằng thực tiễn, đánh vào căn nguyên, nguồn gốc sinh ra bất công thì mới thay
đổi được xã hội cũ. Mượn thuật ngữ của PhoiơBắc và các nhà chủ nghĩa xã hội
không tưởng, ông khẳng định: phải tiến hành cách mạng chính trị (sau này dùng
là cách mạng tư sản) và cách mạng giải phóng nhân loại (sau này dùng là cách
mạng vô sản) để phá bỏ các chế độ xã hội cũ, kiểu xã hội như nhà nước Phổ.
Mùa hè năm 1843, Mác viết tác phẩm "Góp phần phê phán triết học pháp
quyền Hêghen". C.Mác đã nhấn mạnh ý nghĩa to lớn của tư tưởng tiên tiến trong
cải tạo xã hội. Ông chỉ ra tất yếu phải phát triển tư tưởng tiên tiến trong quần
chúng nhân dân để nó trở thành lực lượng tiến bộ xã hội. Luận chứng một cách
duy vật vai trò lý luận tiên tiến trong mối quan hệ của nó với thực tiễn cách
mạng, Mác viết: "Cố nhiên là vũ khí của sự phê phán không thay thế được sự
phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật
chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập
vào quần chúng".
Trong tác phẩm "Gia đình thần thánh hay phê phán sự phê phán có tính
phê phán, chống Bauơ và đồng bọn " - tác phẩm đầu tiên do C.Mác và Ăngghen
cộng tác viết. Thời gian viết tác phẩm vào khoảng tháng 9 đến tháng 11/1844 và
xuất bản vào tháng 2/1845. C.Mác và Ph.Ăngghen đã phê phán quan điểm của
Bauơ và đồng bọn, đưa ra những quan điểm đúng đắn, giải quyết quan hệ giữa tư
tưởng với thực tiễn, tư tưởng với lợi ích của con người, về vai trò của quần
chúng nhân dân trong tiến trình lịch sử. Không phủ nhận vai trò của ý thức, tư


7

tưởng đối với việc phản ánh, cải tạo thế giới khách quan, nhưng cả C.Mác và
Ph.Ăngghen chỉ rõ ý thức, tự nó không cải tạo được trên thực tế, giỏi lắm là cải

việc tuyệt đối hoá tư tưởng một cách thuần tuý của Bauơ và đồng bọn mà còn
cảnh báo chung cho những ai không quan tâm giải quyết đúng đắn lợi ích của
con người mà chỉ tiến hành công tác tư tưởng, lý luận "siêu thực tế" "bay lượn
cao trên thực tiễn", xa rời đời sống hiện thực.
Trong "Hệ tư tưởng Đức"; "Sự khốn cùng của triết học"; "Tuyên ngôn của
Đảng cộng sản", những tư tưởng trong các tác phẩm đó ngày càng sáng tỏ một
thế giới quan mới. Vấn đề thực tiễn, quan hệ lý luận - thực tiễn được C.Mác và
Ph.Ănghen thể hiện sáng tạo cụ thể qua các lĩnh vực, các hình thức cụ thể của
nó, đặc biệt qua hoạt động lao động sản xuất và hoạt động chính trị xã hội.
Ba là: C.Mác và Ăngghen đã phê phán quan điểm của các nhà duy vật, duy
tâm trước đây và đề cập đến mối quan hệ con người - thực tiễn thông qua việc
xác lập những nội dung căn bản của việc xây dựng mối quan hệ biện chứng giữa
chủ thể và khách thể - một nội dung quan trọng của phép biện chứng duy vật.
Quá trình xây dựng học thuyết của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen thẳng tay
gạt bỏ những quan niệm duy vật không triệt để, những quan niệm duy tâm xa lạ
"thuần tuý của ý niệm" với phép biện chứng chân chính.
Chúng ta thấy rằng quá trình giải phóng phép biện chứng duy tâm bắt đầu
từ chỗ lật ngược quan niệm duy tâm giữa chủ thể và khách thể của Hêghen. Sự
lật ngược này có ý nghĩa duy vật, bởi vì ý niệm đã bị "phế truất" và được giải
phóng khỏi vai trò, vốn không là kẻ sáng tạo và nguồn gốc đầu tiên của hiện
thực. Mác đã phê phán Hêghen không hiểu được mối liên hệ qua lại thực sự biện
chứng giữa các mặt đối lập như con người và tự nhiên, chủ thể và khách thể,
Mác chỉ ra rằng ý niệm tuyệt đối là cái dứt khoát "từ bỏ" tự nhiên khỏi bản thân
mình và ngay cả cái tự nhiên bị từ bỏ ấy cũng là một sự trừu tượng hoá đơn
thuần nhất. Ý niệm tuyệt đối - đó là sự trừu tượng hoá, nghĩa là tư tưởng trừu
tượng, là con người bị tha hoá khỏi giới tự nhiên, vì thế phép biện chứng duy


9


Vào đầu năm 1844, trong bài "Tình cảnh nước Anh", Ăngghen biểu hiện
thái độ không hài lòng của mình về chủ nghĩa duy vật phiến diện, nghĩa là siêu
hình. Hêghen rất chú ý đến vai trò của chủ thể, hoạt động thực tiễn của chủ thể là
cái bắt thế giới bên ngoài phải phục tùng mình. Nhưng khác Phíchtơ, Hêghen
khẳng định rằng ý chí chỉ có một giá trị nào đó khi nó là "ý chí biết nhận thức",
tức là cái ý chí sau khi đã nắm bắt được những đặc điểm của bản thân khách thể,
và chỉ trong chừng mực nó khắc phục được bản thân khách thể. Do đó, ông đấu
tranh quyết liệt với bọn "rêu rao về tính chủ thể", cho rằng khách thể "phải"
chiều theo những quan niệm và mong muốn của họ. Rõ ràng Mác và Ăngghen
không bỏ qua những tư tưởng đó của Hêghen khi hai ông giải quyết vấn đề cốt tử
này theo cách của mình trên lập trường thực sự khoa học.
Trong "Luận cương PhoiơBắc", về hoạt động thực tiễn với tính cách là
một nhân tố trong đó tất cả những bí ẩn của đời sống xã hội, của tư duy, của
nhận thức đều tìm thấy cách giải quyết hợp lý của nó. Đó là luận điểm đánh dấu
một bước ngoặt thật sự cách mạng của triết học.
Trong tác phẩm "Gia đình thần thánh" và "Hệ tư tưởng Đức", tất cả các tư
tưởng trên đều được phát triển thêm, được giải phóng khỏi các yếu tố tự nhiên
chủ nghĩa, xuất hiện do sự ảnh hưởng của chủ nghĩa duy vật nhân bản. Hoạt
động thực tiễn có đối tượng được cụ thể hoá trước hết, với tính cách là hoạt động
sản xuất nhằm tạo ra những điều kiện vật chất cần thiết cho đời sống xã hội. Do
đó, cái nổi lên hàng đầu không phải là hoạt động của con người nói chung, mà là
hoạt động của quần chúng, của quần chúng lao động, là những người mà C.Mác,
đối lập với phái Hêghen trẻ.
Bốn là: Đề cập đến những nội dung chủ yếu của Lý luận nhận thức, đặc
biệt đến vai trò của thực tiễn đối với nhận thức. Làm cuộc cách mạng của lý
luận nhận thức.


11




12

toàn có thể kết luận: Chỉ từ điểm xuất phát tìm hiểu thực chất con người hiện thực,
hoạt động thực tiễn sáng tạo của con người, xác lập mối quan hệ lý luận - thực
tiễn, mối quan hệ chủ thể - khách thể, vai trò của thực tiễn với nhận thức thì mới
có cơ sở để cải tạo chủ nghĩa duy vật cũ và phép biện chứng duy tâm, hình thành
một quan niệm duy vật biện chứng, xem như triết học chung cho mọi lĩnh vực tự
nhiên, xã hội, tư duy. Việc đưa phạm trù thực tiễn vào chủ nghĩa duy vật và phép
biện chứng của quá trình lịch sử khách quan có ý nghĩa to lớn trực tiếp góp phần
quyết định hình thành thế giới quan khoa học. Thế giới quan khoa học cách mạng
là hệ thống các quan điểm khoa học của con người về thế giới tự nhiên, xã hội, tư
duy trong đó có quan niệm đúng đắn về thực tiễn. Bằng việc xây dựng những nội
dung cơ bản của phạm trù thực tiễn, Mác và Ăngghen đã xây dựng thế giới quan,
phép biện chứng mới: thế giới quan duy vật biện chứng, phép biện chứng duy
vật.Vai trò đó được thể hiện cụ thể trên các vấn đề sau:
Thứ nhất: Bằng quan niệm này, C.Mác và Ăngghen đã đập tan quan niệm
duy tâm, làm cho quan niệm về lịch sử thoát khỏi định mệnh thần bí.
Cũng như chủ nghĩa chủ quan duy ý chí. Theo quan niệm của Hêghen về
lịch sử - một quan niệm được xây dựng trên phép biện chứng duy tâm, thì con
người chỉ đóng vai trò tự giác hay không tự giác truyền bá cái tinh thần tuyệt đối
đang phát triển.
Con người chỉ là con người trong chừng mực, ở trong một quan hệ thực
tiễn với tự nhiên, và do đó bằng hoạt động của mình, nó biến đổi những điều
kiện khách quan, sáng tạo ra những điều kiện này và do đó, đóng vai trò những
người sáng tạo ra lịch sử. Mác và Ăngghen bác bỏ quan niệm trừu tượng, xem
lịch sử là lực lượng siêu nhiên nào đó đối với con người, tự nó làm ra tất cả. Hai
ông diễn đạt dưới hình thức châm ngôn, ý nghĩa sâu sắc quan niệm lịch sử của
mình, trong đó là mối tương quan biện chứng khách thể - chủ thể bằng câu nói

của triết học.
Quan niệm thực tiễn giữ vai trò then chốt trong việc xây dựng lý luận về
nhận thức của chủ nghĩa Mác. Xuất phát từ quan niệm về thực tiễn, từ những con
người về hiện thực mà Mác đã đi đến tìm ra cơ cấu và các quy luật vận động của
xã hội.
Một điều đặc biệt nữa là C.Mác không xây dựng hệ thống triết học chỉ giải
thích thế giới mà còn là để cải tạo thế giới. Quan niệm về thực tiễn ở đây có ý
nghĩa cực kỳ quan trọng, nó bổ sung thêm một nội dung mới về mặt thế giới
quan. Đã có lúc C.Mác gọi những người cộng sản là nhà duy vật thực tiễn.


16

C.Mác và Ph.Ăngghen trong "Hệ tư tưởng Đức": "Thực ra đối với nhà duy vật
thực tiễn, nghĩa là đối với người cộng sản, vấn đề là phải cách mạng hoá thế giới
hiện tại, là tấn công và cải biến một cách thực tiễn tình trạng hiện tại của sự vật".
Lênin đã chú ý rằng: "Ngay từ 1844 - 1845, Mác đã phân biệt một trong những
thiếu sót chính của chủ nghĩa duy vật cũ là chủ nghĩa duy vật này không hiểu
được những điều kiện, mà cũng không đánh giá được tầm quan trọng của hoạt
động cách mạng thực tiễn, cho nên song song với công tác lý luận của mình,
C.Mác suốt đời luôn luôn chú ý đến vấn đề sách lược đấu tranh giai cấp của giai
cấp vô sản.... Nếu chia mặt ấy, thì Mác nhận xét rất đúng là chủ nghĩa duy vật sẽ
không đầy đủ, có tính chất một chiều và không có sinh khí".
Kết luận: Có thể nói rằng, chừng nào chưa có khả năng và chưa biết giải
quyết vấn đề thực tiễn thì chừng ấy vẫn chưa thoát khỏi phạm vi những hệ thống
triết học phiến diện, duy tâm và trừu tượng. Quan niệm về vấn đề "con người"
dưới khía cạnh thực tiễn xã hội duy nhất của nó là cơ sở để giải quyết đúng đắn
vấn đề cơ bản cũng như mọi vấn đề khác của triết học. Phát hiện này của C.Mác
và Ph.Ăngghen là phát hiện có tính chất quyết định đối việc sử dụng những phát
hiện khác để xây dựng một hệ thống triết học khoa học hoàn bị chân chính, đó là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status