Tiểu luận triết học C mác và ph ăng ghen trình bày những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử từ 1844 đến 1848 - Pdf 34

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA TRIẾT HỌC


BÀI TIỂU LUẬN MÔN:

LỊCH SỬ TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

HÀ HNỘI,
tháng
6/2011
À NỘI
– 2011


Đề tài: C.Mác và Ph.Ăng-ghen trình bày những nguyên
lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử từ 1844 đến 1848.

Sinh viên thực hiện: TRẦN DIỆU THƯƠNG
Lớp: TRIẾT HỌC K29



NỘI – 2011

2


MỤC LỤC

3



Phần 1
SƠ LƯỢC VỀ C.MÁC, PH.ĂNG-GHEN VÀ BƯỚC CHUYỂN
BIẾN TỪ CNDT SANG CNDV, TỪ LẬP TRƯỜNG DÂN CHỦ
CÁCH MẠNG SANG LẬP TRƯỜNG CNCS
I. Sơ lược về Các Mác:

Các Mác (5/5/1818 – 14/3/1883) sinh trưởng trong một
gia đình trí thức tại thành phố Tơ-re-vơ, tỉnh Ranh, nước Đức. Bố của ông là
luật sư Hen-ri Mác, là người có tư tưởng cấp tiến, đã đánh giá cao phái khai
sáng Pháp thế kỷ XVIII và chế độ dân chủ tư sản đã được xác lập ở Pháp,
nhưng hoàn toàn không có khuynh hướng cách mạng tư sản. Hen-ri Mác là
người có ảnh hưởng lớn đến việc học tập và phấn đấu của Mác. Những ảnh
hưởng tốt của giáo dục gia đình, nhà trường và quan hệ xã hội khác đã làm hình
thành và phát triển ở Mác tinh thần nhân đạo và xu hướng yêu tự do. Phẩm chất
đạo đức – tinh thần cao đẹp đó không ngừng được bồi dưỡng và trở thành định
hướng đưa Mác tới chủ nghĩa dân chủ cách mạng và quan điểm vô thần.
Năm 1835, C.Mác vào học luật tại trường đại học Bon và qua một năm
chuyển sang học ở trường đại học Béc-lin. Tại đây, ông say mê nghiên cứu lịch
sử và triết học. Với những tư chất và sự say mê của bản thân, năm 1841 C.Mác
bảo vệ thành công luận án tiến sĩ triết học với đề tài “Sự khác nhau giữa triết
học tự nhiên của Đê-mô-crit và triết học tự nhiên của Ê-pi-quya”. Mặc dù trong
tác phẩm này Mác vẫn đứng trên lập trường duy tâm của Hê-ghen, song ông đã
coi nhiệm vụ của triết học là phải phục vụ cuộc đấu tranh cho sự nghiệp giải
5


phóng con người, phá bỏ hiện thực lỗi thời theo tinh thần cách mạng của phép
biện chứng. C.Mác viết trong luận án của mình: “Giống như Promete – sau khi

Khi còn là học sinh trung học, Ph.Ăng-ghen đã căm ghét sự chuyên chế và độc
đoán của bọn quan lại, ông đã kiên trì tự học, nuôi ý chí là khoa học và hoạt
độn cải biến xã hội bằng cách mạng. Ph.Ăng-ghen say mê nghiên cứu khoa học,
đặc biệt là các tác phẩm của Hê-ghen. Năm 1838, ông đến làm thư ký cho hiệu
buôn ở Béc-rơ-men, tiếp tục tự học và trau dồi kiến thức cho mình và chính ở
đây ông đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng, đứng trên lập trường dân
chủ cách mạng. Tuy nhiên lúc này ông vẫn chưa thoát khỏi những quan điểm
duy tâm, tôn giáo, chưa phân biệt được giai cấp công nhân là giai cấp đặc biệt
trong quần chúng nhân dân bị áp bức, bóc lột.
Năm 1841, trong khi thực thi nghĩa vụ quân sự ở Béc-lin, Ph.Ăng-ghen
tiếp tục trau dồi kiến thức, làm quen với những người thuộc phái Hê-ghen trẻ và
trở thành môn đệ của phái này. Cuối năm 1841, Ăng-ghen đọc tác phẩm “Bản
chất đạo thiên chúa” của Phoi-bách và nó đã có tác động mạnh mẽ tới thế giới
quan của ông. Ph.Ăng-ghen muốn vượt qua lập trường của phái Hê-ghen trẻ để
đi đến một thế giới quan mới thực sự cách mạng, gắn liền với cuộc đấu tranh
chính trị thực tiễn của nhân dân.
Trong quá trình hoạt động lý luận và thực tiễn đấu tranh cách mạng, ông và
C.Mác đã gặp nhau, từ đó bắt đầu một tình bạn vĩ đại, họ cùng nhau xậy dựng
nên lý luận khoa học cách mạng, cùng dấn thân vào sự nghiệp đấu tranh giải
phóng con người, giải phóng xã hội.
7


5/8/1895, Ph.Ăng-ghen mất tại Luân Đôn – Vương quốc Anh.
III. Sơ lược về sự chuyển biến từ chủ nghĩa duy tâm (CNDT) sang chủ
nghĩa duy vật (CNDV), từ lập trường dân chủ cách mạng sang lập trường
chủ nghĩa cộng sản (CNCS) của C.Mác và Ph.Ăng-ghen:
Trong thời gian học tập và nghiên cứu khoa học không ngừng, C.Mác và
Ph.Ăng-ghen đều bồi dưỡng và vun đắp cho tinh thần dân chủ cách mạng và vô
thần của mình. Đặc biệt là sao khi đọc tác phẩm “Bản chất đạo thiên chúa” của

phản động của Tô-mát Các-lây. Năm 1844, Ph.Ăng-ghen cho ra đời tác phẩm
“Lược thảo phê phán khoa kinh tế - chính trị học” – tác phẩm này ông chủ
trương phê phán chính trị - kinh tế học của Adam-smith và Ri-các-đô, trong đó
ông đứng trên quan điểm của chủ nghĩa xã hội coi những hiện tượng cơ bản của
chế độ kinh tế là hậu quả tất nhiên của sự thống trị của chế độ tư hữu… Đây
chính là tác phẩm đánh dấu bước chuyển biến hoàn toàn của Ph.Ăng-ghen từ
CNDT sang CNDV, từ lập trường dân chủ cách mạng sang CNCS.

9


Phần 2
CÁC MÁC VÀ PH.ĂNG-GHEN TRÌNH BÀY NHỮNG
NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CNDV – LỊCH SỬ TRONG GIAI
ĐOẠN TỪ 1844 ĐẾN 1848
I. Giới thiệu về những nguyên lý cơ bản của CNDV – lịch sử và các tác
phẩm trong giai đoạn 1844 – 1848:
Giai đoạn từ 1844 đến 1848 là thời gian hoàn thành những nguyên lý cơ
bản của triết học mác xít, trong giai đoạn này C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã tiếp
tục đề xuất những tư tưởng duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của mình qua
rất nhiều tác phẩm. Những nguyên lý triết học đã được hình thành ở tác phẩm
trước bao giờ cũng được bổ sung, hoàn thiện vào tác phẩm sau đó. Trong nội
dung bài tiểu luận này tôi xin được trình bày những nguyên lý cơ bản của
CNDV – lịch sử được thể hiện trong từng tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen.
Những nguyên lý cơ bản của CNDV – lịch sử được trình bày trong giai
đoạn này, tôi sẽ khái quát như sau:
─ Giai cấp và đấu tranh giai cấp.
─ Vai trò của thực tiễn.
─ Con người và hoạt động, bản chất của con người.
─ Vai trò của quần chúng nhân dân.

tha hóa và tìm con đường để khắc phục nó. Mặc dù tác phẩm chưa được hoàn
thành nhưng nó có ý nghĩa lớn lao đối với việc hình thành quan điểm triết học
của C.Mác, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Từ năm 1844, C.Mác có nhiều thời gian hơn để nghiên cứu những vấn đề
mà ông muốn làm khi còn ở báo “Sông Ranh” , một lần ông đọc được “Bản
11


thảo góp phần phê phán kinh tế - chính trị học” của Ph.Ăng-ghen và tác phẩm
này đã tạo ra sự kích thích để C.Mác bắt tay nghiên cứu kinh tế - chính trị học.
Sau một thời gian, kết quả của quá trình nghiên cứu miệt mài của C.Mác là sự
ra đời của tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học 1844”.
Trong tác phẩm này, trên cơ sở phê phán có tính kế thừa quan điểm của
A.Smith và D.Ricardo, ông đã vạch trần tính hạn chế của kinh tế - chính trị tư
sản trong luận điểm về tính vĩnh viễn của chế độ tư hữu, khi họ khẳng định
rằng tư hữu là thuộc tính của con người; nhưng lại cho rằng, sự tồn tại của
những người vô sản (người không có tài sản) là hợp lý, là tự nhiên. Đây thực sự
là một luận điểm thể hiện rõ tính chất mâu thuẫn. Đứng trên lập trường duy vật,
C.Mác tuyên bố: cần phải xóa bỏ chế độ tư hữu, để trả lại bản chất “người” đích
thực cho con người; để làm được điều đó thì cần phải làm cách mạng và người
làm cách mạng chính là giai cấp công nhân và đông đảo nhân dân lao động.
Điều này đã cho thấy quan điểm của C.Mác về đấu tranh giai cấp và sứ mệnh
lịch sử của giai cấp công nhân, giai câp vô sản.
Tư tưởng chủ đạo trong tác phẩm này là tư tưởng về vai trò quyết định của
lao động, của sản xuất vật chất đối với con người. Trước hết, C.Mác đánh giá
cao tư tưởng của A.Smith và D.Ricardo coi lao động tạo ra giá trị - điều này
khác với những quan điểm trước đó cho rằng giá trị hàng hóa được tạo ra trong
lưu thông, trong ý nghĩa sử dụng. Sau đó, C.Mác phê phán quan điểm tư sản coi
lao động chỉ là thuần túy sáng tạo ra hàng hóa. Ông chứng minh rằng, lao động
còn sáng tạo ra chính bản thân con người, tiếp tục phát triển con người và toàn

vậy, lao động của họ không thuộc về mình, mà thuộc về những người sở hữu.
Trong quan điểm của C.Mác về tư hữu và xóa bỏ chế độ tư hữu, có thể thấy
không chỉ “những công nhân không có sở hữu” mới bị tha hóa, mà ngay cả
“những người sở hữu” cũng bị tha hóa. Tuy nhiên, khác với sự tha hóa ở người
công nhân, sự tha hóa của những người sở hữu biểu hiện ra ở “trạng thái tha
hóa”. Thuật ngữ “tha hóa” đã được Hê-ghen và Phoi-bách dùng, với Hê-ghen –
13


“tha hóa” là “ý niệm tuyệt đối” bị tha hóa thành giới tự nhiên xã hội, tự nhiên
xã hội lại biến đổi và khắc phục để trở thành “ý niệm tuyệt đôi”. Với Phơ-bách
– “tha hóa” là sự tha hóa về tình cảm đạo đức, bởi con người trong triết học của
ông là cong người sinh học. Đến C.Mác, ông đã chỉ ra tính duy vật và biện
chứng trong quan điểm về “tha hóa” và “tự tha hóa” của mình. Nghiên cứu tác
phẩm này, ta có thể nhận thấy quan điểm của ông về việc người lao động làm
thuê bị hạ thấp ngang với máy móc, họ cảm thấy mình chỉ còn là “con vật”.
Người sở hữu thì không lao động, còn người lao động thì không được quyền sở
hữu, và xã hội vận động trong hai cực đối lập ấy. Vì vậy, chỉ có xóa bỏ chế độ
tư hữu mới giải quyết được sự đối lập trong xã hội, đồng thời mới thực hiện
được giải phóng con người. Nhưng xóa bỏ tư hữu ở đây không phải là xóa bỏ
sở hữu mang tính cá nhân, mà là xóa bỏ tư hữu về tư bản, vì tư hữu tư bản là cơ
sở để bóc lột sức lao động của người khác. Những tư tưởng, quan điểm trên của
C.Mác chính là cơ sở để ông hình thành học thuyết về giá trị thặng dư của kinh
tế - chính trị học mác xít.
Tác phẩm “Bản thảo kinh tế - triết học 1844” của C.Mác là cái mốc quan
trọng trong việc hình thành các quan điểm triết học của ông và khởi thảo các
nguyên lý xuất phát trong triết học Mác. Mặc dù tác phẩm này C.Mác vẫn chưa
gọi mình là người cộng sản và ông cũng chưa gọi học thuyết của ông là chủ
nghĩa cộng sản nhưng nó đã thể hiện được lập trường, tư tưởng cách mạng chân
chính của C.Mác, đồng thời luận chứng cho thế giới quan của chủ nghĩa cộng

đói khổ, địa vị kinh tế - xã hội thấp kém của giai cấp công nhân trong xã hội tư
bản. Qua việc tiếp xúc, đi sâu vào phong trào của giai cấp công nhân, Ph.Ăngghen đã nhận thấy sức mạnh tiềm ẩn của giai cấp công nhân – họ là giai cấp có
khả năng và tất yếu sẽ là lực lượng đấu tranh tiêu diệt chế độ tư hữu tư sản, xây
dựng chế dộ chông hữu cộng sản chủ nghĩa và xóa bỏ mọi áp bức, bất công
trong xã hội. Do vậy cần phải gắn kết toàn thể giai cấp công nhân thành một
khối vững chắc để có thể thực thi vai trò lịch sử của mình.

15


Với tất cả những ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm, V.I.Lê-nin đã đánh giá tác
phẩm là sự tố cáo đáng sợ nhất đối với chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản, ấn
tượng mà nó gây ra là rất lớn.
Như vậy, mặc dù C.Mác và Ph.Ăng-ghen hoạt động độc lập với nhau
nhưng đều có chung những quan điểm giống nhau về triết học, về đời sống xã
hội và về những nhiệm vụ của giai cấp vô sản. Từ mùa xuân 1845, Ph.Ăngghen đến Brucxen, hai con người cùng chí hướng có cơ hội được trình bày với
nhau những nguyên lý của một thế giới quan mới, và không có gì ngạc nhiên
khi cả hai đều phát hiện ra những nguyên lý tương tự nhau. Sau này, họ cùng
nhau viết một số tác phẩm chung thể hiện những tư tưởng, quan điểm khoa học
của mình, và là những lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động toàn thế giới.
3) Tác phẩm “Gia đình thần thánh” – C.Mác, Ph.Ăng-ghen – 1845:
Tác phẩm “Gia đình thần thánh” hay “Phê phán sự phê phán có tính phê
phán” do C.Mác và Ph.Ăng-ghen cùng viết nhằm phê phán tính phê phán của
anh em Bruno – Bauer và những người của phái Hê-ghen trẻ - phái này là bộ
phận trí thức vô chính phủ, tự đề cao mình (hữu khuynh) và kết tội C.Mác ,
Ph.Ăng-ghen đã không phê phán giai cấp công nhân. Thông qua tác phẩm,
C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã trình bày sâu hơn về những nguyên lý triết học duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử của mình.
Tác phẩm này gồm có 9 chương, được in thành cuốn sách khổ nhỏ dày hơn

đóng vai trò trung tâm của lịch sử, đặc biệt trong thời đại này là sự phát triển
mạnh mẽ của giai cấp công nhân, họ ra đời từ trong lòng sản xuất tư bản chủ
nghĩa nên họ chính là lực lượng tiên phong tiến hành đấu tranh cách mạng
nhằm xóa bỏ tư hữu, xóa bỏ người bóc lột người. Như vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen đã nhìn thấy sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là điều tất yếu bới nó
do các điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội khách quan mang lại, như: giai cấp
công nhân có lợi ích thống nhất với lợi ích của các giai cấp lao động khác, nên
17


có thể tập hợp được các giai cấp lao động khác để thực hiện sứ mệnh lịch sử
của mình; giai cấp công nhân cũng như quần chúng nhân dân lao động không
chỉ sáng tạo ra của cải vật chất mà còn sáng tạo ra của cải tinh thần, còn
những kẻ bóc lột không sáng tạo ra gì hết; …v…v…
C.Mác và Ph.Ăng-ghen cũng phê phán quan điểm cho rằng nhà nước
là công cụ của sự phê phán, nhà nước quyết định xã hội công dân của
phái Hê-ghen trẻ. Qua đó, các ông trình bày tư tưởng của mình: xã hội
công dân là cơ sở quyết định nhà nước, hay cơ sở hạ tầng quyết định kiến
trúc thượng tầng. Bên cạnh đó còn có những quan điểm về mối quan hệ
giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, quan niệm về quan hệ sản xuất;
những tư tưởng này bổ sung vào việc xây dựng nên học thuyết về hình
thái kinh tế - xã hội của triết học mác xít.
Trong tác phẩm “Gia đình thần thánh” C.Mác và Ph.Ăng-ghen chưa
trình bày những nguyên lý của mình một cách chín muồi nhưng những
quan niệm đó đều có ý nghĩa cách mạng lớn lao. Đồng thời hai ông mới
chỉ phê phán chủ nghĩa duy tâm (phái Hê-ghen trẻ) mà chưa phê phán
chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII và chủ nghĩa duy vật Phơ-bách.
Tuy nhiên tác phẩm đã chứng minh lý luận và tư tưởng chỉ phát huy được
vai trò của nó khi nó được hiện thức hóa thông qua hoạt động thực tiễn
của con người, “tư tưởng tự nó không làm thay đổi được gì hết, mà để
biến đổi lịch sử đều phải thông qua hoạt động của con người”. C.Mác và

nhà triết học:
─ D.Diderot: thực tiễn là thực nghiệm khoa học của con người.
─ Hê-ghen: thực tiễn là hoạt động tinh thần, là yếu tố của cái tinh thần, ý thức.
─ Phơ-bách: thực tiễn là hoạt động con buôn bẩn thỉu, không phải hoạt động
thực tiễn xã hội, cùng lắm thì thực tiễn giúp cho con người quan sát sự vật
mà thôi ( bởi vì con người trong triết học Phơ-bách là con người sinh học,
phi xã hội, nên thực tiễn cũng là cái tinh thần).
Từ những quan điểm vẫn còn hạn chế trên đây, C.Mác đã đưa ra quan điểm
của mình hết sức khoa học và biện chứng duy vật: Thực tiễn là hoạt động vật
chất cảm tính của con người, nó có tính mục đích (thông qua thực tiễn con
người biến đổi thế giới khách quan theo mục đích). Hoạt động thực tiễn là hoạt
động vật chất nên không được đồng nhất với hoạt động tinh thần; nó là hoạt
động chỉ có ở con người và là hoạt động có mục đích. Theo quan điểm này của
20


C.Mác, tức là con người sử dụng công cụ, phương tiện tác động vào tự nhiên để
biến đổi nó theo mục đích của mình và thực tiễn là hoạt động riêng có ở con
người.
Vấn đề con người và bản chất con người, C.Mác phê phán triết học duy vật
Phơ-bách vẫn còn hạn chế khi Phơ-bách chỉ thấy cái sinh học – tự nhiên ở con
người, nhấn mạnh yếu tố tộc loài mà không thấy được cái xã hội của của con
người. C.Mác đưa ra tư tưởng của mình: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất
con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Con người trong triết học Mác
là con người thực tiễn (tức là nhấn mạng cái xã hội), điều này đã tạo nên bản
chất của con người, đó là bản chất xã hội. Bởi con người vừa là sản phẩm, vừa
là chủ thể của hoàn cảnh tự nhiên; con người không chỉ biến đổi tự nhiên mà
con biến đổi chính mình; con người có cả mặt sinh học và mặt xã hội. Con
người thường phát triển trong các mối quan hệ xã hội, nếu tách khỏi xã hội con
người sẽ không là con người nữa. Bản chất con người là biến nên khi quan hệ

Ph.Ăng-ghen cũng tới thăm và tại đây hai người đã quyết định trình bày có hệ
thống và phát triển hơn nữa học thuyết triết học mới của mình, đấu tranh chống
các trào lưu tư tưởng tư sản và tiểu thư sản thù địch với giai cấp công nhân. Tác
phẩm “Hệ tư tưởng Đức” ra đời với mục đích phê phán giai cấp tư sản Đức,
đồng thời hoàn thiện những nguyên lý cơ bản trong học thuyết của C.Mác và
Ph.Ăng-ghen. Tuy nhiên do bị kiểm duyệt gắt gao mà đến những năm 1932 –
1934 tác phẩm mới được xuất bản.
Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” lần đầu tiên C.Mác và Ph.Ăng-ghen
khẳng định học thuyết của mình là Chủ nghĩa xã hội khoa học; khẳng định sự
đối lập hệ tư tưởng vô sản với với hệ tư tưởng tư sản và tiểu tư sản. Đây là
bước tiến dài trong quá trình xây dựng thế giới quan mới của C.Mác và
Ph.Ăng-ghen. Sở dĩ có được thành công như vậy là bởi cả hai ông đều tích cực
tham gia vào hoạt động trong các phong trào của công nhân và các cuộc đấu
tranh chống chủ nghĩa xã hội không tưởng và chủ nghĩa xã hội tiểu tư sản.

22


Nội dung cơ bản của tác phẩm được các ông đề cập trước hết là vấn đề con
người, bởi vì con người theo các ông quan niệm chính là tiền đề của lịch sử,
đồng thời đó là điểm xuất phát của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trên cơ sở phê
phán các quan điểm trước Mác về động lực phát triển của lịch sử đó là:
─ Phái Hê-ghen trẻ: con người phê phán (sự phê phán có tính phê phán)  con
người trừu tượng.
─ Phơ-bách: con người sinh học, con người mang tính tộc loài.
C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã khẳng định: “Tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch
sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống”. Song,
đó là những con người hiện thực mà sản xuất vật chất là hành vi lịch sử đầu tiên
của họ. Phương thức sản xuất vật chất không chỉ đơn thuần là tái sản xuất sự
tồn tại thể xác của cá nhân,mà hơn thế “nó là một phương thức hoạt động nhất

sâu sắc hơn về các quy luật của sự phát triển xã hội. Rốt cuộc thì sự phát triển
của các LLSX không chỉ là cái quyết định tất cả những mối quan hệ giữa người
với người, mà còn quyết định bước chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội này lên
hình thái kinh tế - xã hội khác, cao hơn. Nếu trước kia, các ông coi sản xuất vật
chất là cớ sở của toàn bộ đời sống xã hội thì giờ đây, trong “Hệ tư tưởng Đức”,
các ông đã tìm thấy cơ cấu nội tại trong sự phát triển của chính cơ sở đó và nhờ
vậy, đã giải thích được mối quan hệ lệ thuộc giữa các mặt chủ yếu của đời sống
xã hội.
Với những nhận thức sâu sắc này, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã đi đến quan
niệm khoa học về toàn bộ quá trình phát triển của lịch sử nhân loại. Các ông coi
những cuộc cách mạng xã hội giải quyết mâu thuẫn giữa LLSX và QHSX là
những điểm nút của lịch sử, là cái phân chia lịch sử nhân loại thành những giai
đoạn chủ yếu và làm nên bước chuyển của các hình thái kinh tế - xã hội. Những
quan niệm khoa học trên đây của các ông đã trở thành cơ sở nền tảng của học
thuyết về các hình thái kinh tế - xã hội mà sau này, trong hàng loạt tác phẩm lý
luận, các ông đã trình bày chi tiết hơn và đầy đủ hơn. Từ việc xem xét sản xuất,
C.Mác và Ph.Ăng-ghen chuyển sang xem xét các quan hệ xã hội, chế độ xã hội,
24


kết cấu giai cấp của xã hội, quan hệ giữa các cá nhân, giai cấp và xã hội. Trên
cơ sở của những quan niệm mới về các vấn đề này, các ông đã tiến hành phân
tích lĩnh vực thượng tầng kiến trúc, luận giải mối quan hệ giữa nhà nước và xã
hội công dân, giữa nhà nước, luật pháp và chế độ sở hữu.
Như vậy, có thể nói, bằng việc áp dụng một cách triệt để chủ nghĩa duy vật
vào việc nghiên cứu mọi mặt, mọi hiện tượng của đời sống xã hội, trong tác
phẩm này, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã trình bày một cách toàn diện, chi tiết
quan niệm duy vật của các ông về lịch sử. Qua đó các ông đã đi đến kết luận về
tính tất yếu lịch sử của cuộc cách mạng vô sản, đồng thời khẳng định chủ nghĩa
cộng sản không phải là một kế hoạch được vạch ra một cách tư biện về xã hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status