Phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin về Triết học ở các trường đại học tại Hà Nội - Pdf 27

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Trong xu thế hội nhập hiện nay, yêu cầu đặt ra cho giáo dục Việt
Nam là hiện đại hóa nền giáo dục. Bởi vì, chỉ có hiện đại hóa giáo dục mới có
thể tạo ra bước phát triển căn bản, toàn diện nguồn nhân lực, thúc đẩy sự nghiệp
CNH, HĐH mà toàn Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang tiến hành. Bởi vì,
hiện đại hóa giáo dục mới đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp
ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội cho đất nước trong giai đoạn mới. Một
trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục đào tạo là đổi mới PPDH. Vấn
đề này được thể hiện rõ trong các chủ chương, chính sách lớn của Đảng, pháp
luật của nhà nước. Luật Giáo dục 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (điều 5
khoản 2) chỉ rõ: PPDH phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy
sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng
thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.
1.2. Giáo dục đại học là bậc học trực tiếp tạo ra nguồn nhân lực cao cho
xã hội. Ở bậc giáo dục này có nhiệm vụ đào tạo nghề nghiệp tương lai cho SV
nên phải có PPDH phù hợp với cách dạy đại học. Tuy nhiên trong những năm
gần đây, các PPDH đại học đã bộc lộ nhiều bất cập, việc dạy học theo kiểu
“thầy giảng giải - trò ghi nhớ” không đảm bảo cho mục tiêu giáo dục đại học về
nguồn nhân lực mà xã hội cần. Đổi mới PPDH đại học được Nghị quyết 02 Hội
nghị BCHTƯ Đảng khóa VIII đã chỉ rõ: đổi mới mạnh mẽ PP giáo dục - đào
tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói quen nền nếp sáng tạo của
người học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là
sinh viên đại học.
1.3. Với PPDH các môn khoa học Mác – Lênin trong đó có Những nguyên
lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học đang đổi mới mạnh mẽ. Thực
tế dạy học đại học ở nước ta hiện nay, môn khoa học này có nhiều thay đổi cả
nội dung chương trình và PPDH. Theo quyết định số 52/2008/QĐ-BGDĐT
ngày 18/9/2008, việc dạy học kiến thức Triết học giúp giảm bớt thời lượng học
tập lý thuyết trên lớp, hướng cho SV tự học nhiều hơn, khuyến khích GV sử
dụng các PPDH tích cực nhưng cũng gây ra nhiều bất cập: một là, kiến thức

của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học ở các trường đại học tại Hà Nội.
4. Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin,
nếu GV sử dụng PPTLN với các biện pháp như: xây dựng các chủ đề TLN phù
2
hợp; kết hợp TLN với PPTT; sử dụng các KTDH trong TLN; tổ chức các hoạt
động trải nghiệm trong dạy học TLN cho SV; kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
cho SV thì kết quả học tập SV sẽ đạt kết quả tốt, đảm bảo được các mục tiêu
dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học Những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học ở các trường đại học tại Hà Nội.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, đề tài tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
nghiên cứu cơ sở lý luận của PPTLN trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học ở các trường Đại học tại Hà Nội; điều tra,
đánh giá thực trạng sử dụng PPTLN trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học ở các trường đại học tại Hà Nội; đề xuất
biện pháp để thực hiện việc dạy học bằng PPTLN trong dạy học Những nguyên
lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học ở các trường Đại học tại Hà
Nội; tổ chức TN sư phạm những biện pháp để đánh giá tính khả thi của các biện
pháp đã đề xuất trong luận án.
6. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn của việc sử dụng PPTLN trong dạy học
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học ở các trường
đại học tại Hà Nội; khảo sát thực trạng dạy và học Những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác- Lênin về Triết học có sử dụng PPTLN ở các trường đại học tại
Hà Nội. Các trường Đại học được khảo sát và dạy TN là: Đại học Tài nguyên
và Môi trường; Đại học Sư phạm Hà Nội; Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc
gia; Đại học Thương mại Hà Nội; Đại học Kiểm sát Hà Nội; nội dung TN là các
biện pháp khi áp dụng PPTLN trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác – Lênin về Triết học ở các trường đại học đã nêu ở trên.

mạnh của PPDH này. Vì vậy, GV nên sử dụng các biện pháp TLN như: xây dựng
các chủ đề TLN phù hợp; kết hợp TLN với PPTT; sử dụng các KTDH trong
TLN; tổ chức các hoạt động trải nghiệm trong dạy học TLN; kiểm tra, đánh giá
kết quả học tập cho SV sẽ nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, đáp ứng yêu
cầu của việc đổi mới giáo dục hiện nay ở nước ta.
Kết quả TN đã khẳng định tính đúng đắn của các biện pháp đã đề xuất khi
dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học ở các
trường đại học tại Hà nội hiện nay.
9. Đóng góp mới của đề tài
Thứ nhất, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận của PPTLN trong dạy học
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học ở các trường
đại học tại Hà Nội;
4
Thứ hai, đánh giá thực trạng việc dạy học sử dụng PPTLN ở các trường
đại học tại Hà Nội, từ đó chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến thực trạng để thấy
được sự cần thiết của việc sử dụng PPTLN trong dạy học Những nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học ở các trường đại học tại Hà Nội.
Thứ ba, đề xuất biện pháp để tiến hành PPTLN trong dạy học Những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học nhằm nâng cao chất
lượng dạy học và hình thành các kĩ năng, năng lực cho SV.
10. Cấu trúc của luận án
Ngoài mở đầu, kết luận kiến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được chia
làm 4 chương:
Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu;
Chương 2. Cơ sở khoa học của PPTLN trong dạy học Những nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học ở các trường đại học;
Chương 3. Các nguyên tắc và biện pháp sử dụng PPTLN trong dạy học
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học ở các trường
đại học tại Hà Nội;
Chương 4. Thực nghiệm Sư phạm

1.3. Các nghiên cứu phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học Những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin ở các trường đại học hiện nay
Sử dụng PPTLN trong dạy học khoa học Mác – Lênin có một số tác giả
bàn đến và cho rằng: dạy học bằng PPTLN giúp cho SV chủ động trong nghiên
cứu và tiếp thu môn học, học cách suy nghĩ về những vấn đề, những quy luật
chính trị - xã hội của môn học bằng cách cho họ thực hành suy nghĩ, qua thảo
luận SV hình thành thói quen làm việc có kế hoạch, nghiêm túc. Song các
nghiên cứu lý luận về TLN một cách có hệ thống, nghiên cứu thực tế dạy học
bộ môn, những ưu thế của môn học ra sao, hình thức TLN nào thuận lợi với
đặc thù môn học, đặc thù đối tượng SV đại học từ đó đưa ra những biện pháp
cơ bản trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về
Triết học thì chưa được bàn đến.
Luận án kế thừa có chọn lọc những giá trị các công trình đã nghiên cứu. Trên cơ
sở đó, luận án sẽ tiến hành phân tích, lựa chọn, bổ sung, để xây dựng một số biện
pháp sử dụng PPTLN mà theo tác giả nó sẽ mang tính khả thi cao, phù hợp với
thực tiễn dạy học khoa học Mác – Lênin nói chung và Những nguyên lý cơ bản
của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học nói riêng để nâng cao chất lượng dạy học.
1.4. Những vấn đề luận án cần đi sâu nghiên cứu
Luận án cần đi sâu nghiên cứu các vấn đề sau:
1. Luận án tiếp tục khẳng định vai trò của PPTLN trong dạy học Những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học ở các trường Đại học.
6
2. Điều tra, đánh giá thực trạng sử dụng PPTLN trong dạy học Những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học ở các trường đại học
nói chung và các trường đại học tại Hà Nội nói riêng. Từ đó thấy được sự cần
thiết việc áp dụng PPTLN trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác – Lênin về Triết học ở các trường đại học tại Hà Nội là cần thiết và có cơ sở
khoa học để thực hiện.
3. Khẳng định PPTLN không chỉ áp dụng ở các bậc học dưới mà có thể áp
dụng ở tất cả các bậc học trong đó việc dạy học ở đại học là có khả năng thực

Nội dung cơ bản của PPTLN trong dạy học ở đại học biểu hiện: GV tổ
chức cho SV học tập để hình thành tri thức của bài học với những biểu hiện
như: tổ chức cho SV hoạt động học tập để cùng trao đổi, TL, suy nghĩ, quan
điểm, quyết định, và giải quyết một vấn đề gì đó trong những nhóm nhỏ, người
học cùng thực hiện một nhiệm vụ nhất định trong một thời gian nhất định.
Trong nhóm, dưới sự chỉ đạo của nhóm trưởng, người học chia sẻ kinh nghiệm
và hợp tác cùng nhau để giải quyết nhiệm vụ được giao hình thành tri thức khoa
học, các kĩ năng, các năng lực cho người học.
Sử dụng PPTLN trong dạy học có đặc điểm nổi bật là sự hợp tác nhóm,
trong việc hợp tác nhóm có nhiều dấu hiệu cơ bản để xác định như: có sự tương
tác trực diện; có sự phụ thuộc tích cực; trách nhiệm cá nhân cao; có sử dụng
hợp lý các kĩ năng xã hội Có sự nhận xét tương tác nhóm.
Với việc dạy học bằng PPTLN sẽ đảm bảo được rất nhiều tiềm năng giáo
dục kĩ năng nghề nghiệp, kĩ năng sống cho SV, năng lực nghề nghiệp cho SV.
Luận án nêu rõ các hình thức chia nhómvàcác hình thức TLN, cách tiến
hành TLN, các giai đoạn khi tiến hành TLN, những ưu điểm và hạn chế của
PPTLN trong dạy học hiện nay.
2.1.2. Phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học Những nguyên lý cơ bản
của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học ở các trường đại học
2.1.2.1. Đặc thù môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về
Triết học với việc sử dụng phương pháp thảo luận nhóm ở các trường đại học
• Về mục tiêu môn học
Mục tiêu dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về
Triết học trực tiếp trang bị tri thức triết học cho SV, đồng thời từng bước xác
lập thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận chung nhất để tiếp cận
các khoa học chuyên ngành được đào tạo của SV. Đặc biệt, việc học tập tri thức
khoa học Mác – Lênin không chỉ trang bị cho SV phương pháp luận chung mà
sau khi học tập tri thức triết học sẽ hình thành phương pháp học tập chuyên
ngành, hình thành các năng lực nghề nghiệp cho SV.
• Nội dung dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết

nhiệm vụ học tập, tính kiên trì, nhẫn nại của SV được hình thành khi học tập
bằng PPDH này
Đối với chủ trương đổi mới của Đảng, Nhà nước và Bộ giáo dục và Đào
tạo, dạy học bằng PPTLN sẽ góp phần nâng cao chất lượng đổi mới PPDH,
đáp ứng được cách đào tạo tín chỉ trong giáo dục đại học hiện nay ở nước ta.
PPTLN trực tiếp hướng đến người học. PPTLN có ý nghĩa về giáo dục các kĩ
năng, năng lực cho SV.
9
2.2. Cơ sở thực tiễn của phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học Những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học ở các trường đại
học tại Hà Nội
2.2.1. Một số đặc điểm sinh viên các trường đại học tại Hà Nội
Khi tìm hiểu thực trạng và đưa ra biện pháp, GV cần quan tâm đến một số
đặc điểm của SV như: về tâm lý lứa tuổi; về mặt nhận thức của SV; đặc điểm
SV vùng miền, địa bàn mà SV đang sinh sống, học tập. Từ những đặc điểm của
SV nói chung và SV trên địa bàn Hà Nội nói riêng để tìm ra con đường, PPDH
có hiệu quả. Việc áp dụng PPTLN trong dạy học là biện pháp quan trọng nhằm
tích cực hoạt động học tập của người học, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu
quả dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học,
hình thành kĩ năng, năng lực cho SV ở trường đại học tại Hà Nội nói riêng và
các trường đại học trên cả nước nói chung.
2.2.2. Thực trạng việc sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học ở các
trường đại học tại Hà Nội
2.2.2.1. Nhận thức của giảng viên và việc sử dụng phương pháp thảo luận
nhóm trong dạy học Những nguyên lý cơ của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết
học ở các trường đại học tại Hà Nội
Khi điều tra thực trạng tác giả thấy rằng: sử dụng PPTLN trong dạy học
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về triết học, GV có vai trò
quan trọng, là người tổ chức, điều khiển, là “trọng tài” khoa học khi TLN. Tuy

Hơn nữa, thông qua học tập bằng TLN, các kĩ năng, năng lực của SV được hình
thành và phát triển, đáp ứng được mục tiêu giáo dục đại học hiện nay ở nước ta,
từ đó thấy rõ muốn nâng cao chất lượng học tập bộ môn cần có sự tác động đồng
bộ, toàn diện, trong đó tìm ra các biện phápTLN khoa học, hợp lý, dễ sử dụng
là vấn đề cấp thiết để phát huy hết tiềm năng vốn có của PPDH tích cực này.
Chương 3
NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP
THẢO LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC NHỮNG NGUYÊN LÝ
CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ TRIẾT HỌC
Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI HÀ NỘI
3.1. Các nguyên tắc khi xây dựng biện pháp
Khi xây dựng các biện pháp TLN trong dạy học Những nguyên lý cơ bản
của chủ nghĩa Mác – Lênin về triết học, ngoài việc căn cứ vào cơ sở lý luận và
cơ sở thực tiễn đã trình bày trong luận án, các biện pháp đưa ra còn phải tuân
thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
3.1.1. Đảm bảo định hướng phát triển năng lực cho người học
Mục tiêu của đổi mới giáo dục nói chung và dạy học đại học nói riêng
hiện nay đã và đang hướng đến việc định hướng phát triển năng lực cho người
học. Chính vì vậy, khi sử dụng PPTLN trong dạy học Những nguyên lý cơ bản
11
của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học phải đảm bảo nguyên tắc định hướng
phát triển năng lực cho SV. Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là
điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn
sàng hành động và trách nhiệm. Sử dụng PPTLN để dạy học Triết học sẽ đảm
bảo được sự hình thành và phát triển cả về năng lực chung và năng lực đặc thù
cho SV đại học. Các năng lực chung như: năng lực tự học, năng lực thuyết
trình, năng lực sáng tạo trong học tập, năng lực thảo luận nhóm và hợp tác
nhóm Các năng lực đặc thù như: năng lực chịu trách nhiệm công dân, năng lực
nêu và giải quyết vấn đề, năng lực tư duy khái quát
3.1.2. Đảm bảo tính khoa học và tính đặc thù môn học

học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học ở các
trường đại học tại Hà Nội
3.2.1. Biện pháp 1: xây dụng các chủ đề thảo luận nhóm phù hợp
Căn cứ nội dung kiến thức và mục tiêu bài học, GV xác định nhiệm vụ để
SV tiến hành học tập bằng PPTLN. Với việc sử dụng PPTLN, GV chỉ tiến hành
dạy học bằng PPTLN đối với những nhiệm vụ học tập tương đối phức tạp, khó
đối với đa số SV trong lớp, những nhiệm vụ đòi hỏi sự huy động vốn kinh
nghiệm, hiểu biết của nhiều người, hoặc cần tổ chức cho SV tranh luận, TL về
một vấn đề mà SV còn có nhiều cách hiểu khác nhau, đa dạng các ý kiến.
Để xác định đúng nhiệm vụ của SV khi tiến hành TLN, GV cần: căn cứ vào
kiến thức, mục tiêu của từng bài học triết học cụ thể; căn cứ theo chuẩn kiến
thức, kỹ năng; căn cứ vào nội dung chương trình của sách giáo trình.
Trên cơ sở xác định đúng mục tiêu của bài học, mục tiêu khi tiến hành TLN,
GV xây dựng các chủ đề TLN phù hợp và lựa chọn nhiệm vụ nhóm, cách thức
chia nhóm, hình thức TLN hợp lí tạo cơ sở để thiết kế biện pháp TLN tương ứng.
3.2.2. Biện pháp 2: kết hợp thảo luận nhóm với phương pháp thuyết trình
Sự kết hợp giữa PPTLN với PP thuyết trình tạo sự liên kết, hỗ trợ, "cộng hưởng"
lẫn nhau, phát huy những điểm mạnh và khắc phục những hạn chế của từng PP. Khi dạy
học bằng PPTLN, tùy theo đơn vị kiến thức cụ thể của từng chương, từng bài và từng tiết
học, với những điều kiện cụ thể để mỗi GV tổ chức hợp lý hoạt động TLN của SV kết
hợp một cách khoa học, linh hoạt với PP thuyết trình …GV lợi dụng triệt những ưu điểm
của các PP, các thủ thuật, các hình thức giảng dạy nhằm chuyển tải kiến thức một cách tối
ưu, bài giảng thêm sinh động, phong phú đạt được mục tiêu bài học.
3.2.3. Biện pháp 3: sử dụng các kĩ thuật dạy học trong thảo luận nhóm
Ở biện pháp này, tác giả nêu bản chất của kĩ thuật dạy học; các kĩ thuật
thường dùng trong TLN đem lại kết quả tốt như: kĩ thuật khăn trải bàn; kĩ thuật
13
mảnh ghép; kĩ thuật sử dụng phiếu học tập các kĩ thuật trên đều có tiềm năng
giáo dục kĩ năng sống cho họ. Trong các kĩ thuật dạy học, tác giả nêu rõ cách
tiến hành kĩ thuật “khăn trải bàn”,“các mảnh ghép”, “phiếu học tập” trong TLN

4.1.1. Mục đích thực nghiệm
14
TN được tiến hành nhằm kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết khoa học
đã được xây dựng, qua đó khẳng định tính khả thi của các biện pháp dạy học
xây dựng, khẳng định tính khả thi của các biện pháp khi sử dụng PPTLN trong
dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học ở các
trường đại học tại Hà Nội.
4.1.2. Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm
Khi tiến hành TN phải tuân thủ các nguyên tắc:
Thứ nhất, về nội dung kiến thức. Nội dung kiến thức phải đảm bảo chất
lượng tri thức khoa học, khách quan, tôn trọng chương trình, giáo trình dạy học
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học;
Thứ hai, về đối tượng TN. Đối tượng TN phải đảm bảo tính đa dạng của
nhiều trường TN và trình độ nghiệp vụ của các GV dạy TN.
4.1.3. Phương pháp thực nghiệm và địa điểm thực nghiệm
- PP TN: TN hình thành và TN ĐC. Với các lớp TN, các bài dạy được
tiến hành theo cách thức, các giải pháp mà tác giả đề xuất. Còn ở các lớp ĐC,
GV vẫn dạy bình thường theo PP mà họ dự định (chủ yếu các lựa chọn PP
thuyết trình).
- Địa điểm TN: Đại học Tài nguyên và Môi trường; Đại học Sư phạm Hà
Nội; Đại học Ngoại ngữ (Đại học Quốc gia); Đại học Thương mại Hà Nội; Đại
học Kiểm sát Hà Nội.
4.1.4. Đối tượng thực nghiệm sư phạm
TN được tiến hành với SV năm thứ nhất của các trường đại học đã nêu
trên. Mỗi trường có hai lớp SV được chọn TN và ĐC có trình độ nhận thức tương
đương, không quá chênh lệch về học lực và nề nếp học tập; GV dạy TN kinh
nghiệm, chuyên môn vững vàng, tâm huyết với nghề.
4.2. Tổ chức thực nghiệm
Tác giả xác định thời gian TN từ cuối tháng 8 đến hết tháng 11 của năm học:
2012 – 2013 (bảng 4.1) trong luận án biểu hiện tình hình cụ thể của đối tượng TN;

tương đối đồng đều. Kết quả kiểm tra là tương đương nhau.
4.5.1.2. Kết quả bài kiểm tra thực nghiệm thăm dò
Tác giả tiến hành TN thăm dò ở một trường đại học (Đại học Kiểm sát Hà
Nội) để thấy được các biện pháp đề xuất có tính khả thi hay không, từ đó tiếp tục
tiến hành dạy TN ở giáo án TN tác động ở phạm vi rộng hơn. Kết quả thu được từ
TN thăm dò là 77SV/lớp, ĐC 77 SV/lớp với kết quả kiểm tra biểu hiện (bảng 4.5)
là cơ sở khẳng định tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất trong dạy học Những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học
4.5.2. Giai đoạn 2: thực nghiệm tác động
4.5.2.1. Kết quả nhận thức của sinh viên
16
Tác giả tiến hành kiểm tra, đánh giá việc nhận thức của SV, kết quả đánh giá
đã được thống kê (bảng 4.6).Từ kết quả nhận thức của SV qua quá trình TN, tác
giả đi đến tổng hợp, tính toán, xử lý số liệu kết quả của bài kiểm tra TN, tác giả
tập trung phân tích kết quả bài dạy TN tác động.Tổng số lớp TN: 5; số lớp ĐC: 5;
tổng số bài TN: 365; tổng số bài ĐC: 363.
Việc đánh giá kết quả bài làm của SV được tính theo thang điểm 10; trong
đó: SV đạt điểm 9, 10: loại giỏi; SV đạt điểm 7 – 8: loại khá; SV đạt điểm 5,6:
loại trung bình; SV đạt điểm dưới 5: loại yếu.
Đánh giá học tập của SV cho thấy, kết quả ở nhóm TN cao hơn hẳn nhóm lớp
dạy học ĐC. Điểm trung bình của nhóm lớp TN là 7.33, trong khi đó điểm trung bình
của nhóm lớp ĐC là 6.14, độ lệch chuẩn điểm trung bình của nhóm TN so với nhóm
lớp ĐC là 1,19. Trong đó độ lệch chuẩn của nhóm lớp TN là: 1.60; độ lệch chuẩn của
nhóm lớp ĐC là: 1,75. Như vậy, ở các lớp TN kết quả học tập của SV cao hơn hẳn ở
các lớp ĐC, và cao hơn hẳn bài kiểm tra đầu vào. Qua những phân tích trong luận
án, tác giả tiến hành lập bảng phân phối kết quả TN để thấy rõ hơn kết quả tích
cực của nhóm lớp này so với nhóm ĐC (bảng 4.7 trong luận án).
Từ bảng 4.7, có sự khác nhau về các mức độ điểm: giỏi, khá, trung bình, yếu
kém ở hai nhóm lớp. Các lớp TN, SV đạt điểm yếu kém, trung bình chiếm tỷ lệ
thấp: yếu 4.7 %; trung bình 26.8 %, trong khi tỉ lệ SV đạt điểm khá, giỏi tương đối

giao việc, kỹ năng thảo luận trong nhóm, kỹ năng hợp tác, kỹ năng thuyết trình
để trình bày ý kiến cá nhân, ý kiến nhóm, kĩ năng trình bày vấn đề một cách
lôgic khoa học, kĩ năng tổ chức, quản lý được hình thành. Trong các kĩ năng trên
không được hình thành ở các lớp ĐC.
4.5.2.3. Đánh giá kết quả tổ chức hoạt động học tập của sinh viên
Việc theo dõi quá trình học tập của SV và thông qua kết quả thu được tác
giả thấy mức độ hứng thú đối với bài học ở lớp TN và lớp ĐC có sự khác nhau rõ
rệt. Ở nhóm lớp TN, SV thấy bài học có sự hứng thú, hấp dẫn sinh động (70,10%);
bình thường (10%). Hầu hết các em tỏ rõ sự hứng thú, phấn khởi sau bài học, số
SV cảm thấy bài học khó hiểu chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ. Trong khi đó, tỷ lệ SV cảm
thấy hứng thú với bài học ở nhóm ĐC lại thấp hơn (18,21%); bình thường (28,
70%), số SV thờ ơ, không hứng thú với bài học chiếm tỷ lệ lớn. Trong buổi TLN
mối quan hệ giữa GV với SV, SV với SV rất lễ phép, thoải mái, cởi mở, thân
thiện. Trong khi ở các lớp ĐC ít được biểu hiện.Từ kết quả trên tác giả thấy những
biện pháp đã nêu hoàn toàn mang tính khả thi trong dạy học Những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về Triết học ở các trường mà tác giả lựa
chọn TN. Giả thuyết khoa học của luận án đã được chứng minh và có thể áp
dụng ở các trường đại học và cao đẳng trên phạm vi cả nước.
Mặc dù, GV đã quan tâm hơn nhiều tới những SV nhận thức chậm hơn của các
lớp TN, song không tránh khỏi thực tế vẫn có một số SV có học lực yếu, ý thức học
tập chưa tích cực, bản thân SV chưa có PP học tập khoa học, chưa theo kịp với cách
học tập ở bậc đại học. Bên cạnh đó, một số em ý thức học tập kém, chưa thực sự
quan tâm đến môn học nên kết quả học tập kém, sự nhận thức kiến thức cơ bản về
18
các khái niệm phạm trù triết học không vững chắc. Để khắc phục những tồn tại trên,
cần phải có thời gian, sự nỗ lực của GV, sự quan tâm của các cấp để việc dạy học
bằng PPTLN thực sự phát huy hết những mặt tích cực.
4.6. Đánh giá chung về kết quả thực nghiệm
Từ quá trình TN, tác giả thấy rằng: với trình độ đầu vào của hai nhóm lớp TN
và ĐC tương đương nhau nhưng tác giả nhận thấy chất lượng nắm kiến thức, kĩ

dạy học góp phần nâng cao chất giáo dục nói chung và dạy học Những nguyên lý
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về Triết học ở các trường đại học tại Hà Nội
hiện nay nói riêng.
2. Đối với hệ thống lý luận về PPTLN, luận án đã góp phần sáng tỏ một số
vấn đề trong dạy học. Cụ thể, luận án nêu rõ một số khái niệm cơ bản như: PPDH,
PPDH đại học, đổi mới PPDH, PPTLN; bản chất và vai trò quan trọng của TLN
trong dạy học. Luận án cũng nêu mối liên hệ giữa PPTLN với các PPDH, các
KTDH được sử dụng trong TLN sử dụng PPTLN theo những biện pháp được đề
xuất là điều cần thiết trong việc tích cực hóa các hoạt động của người học đạt được
mục tiêu giáo dục đề ra.
3. Khảo sát thực trạng sử dụng PPTLN trong dạy họcNhững nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung và về Triết học nói riêng ở các trường
đại học tại Hà Nội cho thấy: phần lớn các thầy cô dạy học bằng các PPDH truyền
thống nhưng cũng có một số thầy cô đã thể hiện ý tưởng vận dụng PPTLN trong
dạy học, hầu hết GV chưa có cách thức, biện pháp khoa học, cụ thể. Qua khảo sát,
tác giả cũng thấy rõ GV còn gặp khó khăn khi sử dụng PPTLN trong dạy học, GV
chưa có một cách tổ chức khoa học, hợp lý theo một quy trình và những biện pháp
cụ thể. Chính vì vậy, chất lượng dạy học bộ môn chưa cao, SV chưa tích cực học
tập. Với việc nghiên cứu lý luận PPTLN trong dạy học đã có một số tác giả nghiên
cứu nhưng chưa có những gợi ý xác đáng, sâu sắc về phạm vi, đối tượng và cách
thức vận dụng PPTLN trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác
- Lênin về Triết học ở các trường đại học tại Hà Nội.
4. Luận án nghiên cứu kiến thức Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác - Lênin về Triết học và chọn lựa những nội dung kiến thức phù hợp, thiết
thực có thể áp dụng PPTLN. Từ những định hướng chung cho việc vận PPTLN,
luận án đề xuất một số biện pháp cụ thể nhằm vận dụng PPTLN trong dạy học
phần Triết học. Quá trình tổ chức dạy học, việc xác định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ
của một giờ dạy luôn được ý thức thường trực là: trang bị cho SV đủ tri thức khoa
học bộ môn, các kĩ năng, năng lực nghề nghiệp cho SV, từ tri thức đã học được
SV vận dụng sáng tạo trong học tập và thực tế cuộc sống đặt ra. Hơn thế, luận án

muốn quan tâm đến lý luận dạy học về PPTLN.
6. Kết quả của việc nghiên cứu có ý nghĩa khẳng định việc vận dụng
PPTLN trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về
Triết học phù hợp với trình độ nhận thức và năng lực tư duy của SV, phù hợp với
đặc điểm của môn học, đem lại hiệu quả giờ dạy cao, các GV tham gia dạy TN,
các nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy, các nhà quản lý đánh giá cao các biện pháp
mà tác giả đề xuất và cho rằng có thể triển khai trên diện rộng.
21
Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một hướng trong rất nhiều hướng triển khai cách
thức dạy học bộ môn. Mỗi hướng dạy học có khả năng sử dụng các PP, biện pháp
khác nhau, đều có những ưu thế riêng, điều quan trọng là GV và SV vận dụng và
phát huy những ưu thế đó trong bày dạy như thế nào để nâng cao chất lượng dạy
học bộ môn và đạt được tiêu giáo dục đã đề ra trong quá trình dạy học.
KIẾN NGHỊ
Quá trình khảo sát và triển khai TN cũng cho thấy một số vấn đề tồn tại
trong việc dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về Triết
học bằng PPTLN hiện nay hoàn toàn có thể khắc phục được. Theo đó, tác giả xin
đưa ra những kiến nghị sau đây:
1. Đối với các trường đại học và cao đẳng sư phạm, nơi đào tạo GV dạy các
môn Lý luận chính trị chủ nghĩa Mác - Lênin các cấp, tác giả cho rằng cần phải
xây dựng hoặc điều chỉnh chương trình đào tạo sao cho sát chương trình dạy học ở
các cấp và với sự thay đổi của thực tiễn xã hội. Việc cung cấp đầy đủ, toàn diện tri
thức lí thuyết về các PPDH cho cho SV sư phạm dạy học các môn Mác - Lênin là
rất cần thiết, song việc định hướng cho các thầy giáo, cô giáo tương lai sử dụng
những nội dung kiến thức nào, vào đâu trong quá trình dạy học các bài học cụ thể
của chương trình cũng là việc vô cùng quan trọng để các em ngay từ khi còn ngồi
trên giảng đường đại học đã làm quen với dạy học bằng PPTLN. Đồng thời, dạy
cho giáo viên tương lai sẵn sàng tiếp nhận các xu hướng luôn vận động, phát triển,
đổi mới thường xuyên của giáo dục, có PP học tập nghiên cứu phù hợp với sự vận
động, đổi mới của xã hội về giáo dục để nhanh chóng thích ứng với công việc mà

mới đạt được kết quả tốt.
Chúng ta biết rằng tại giảng đường đại học luôn là nơi SV học cách tư duy,
tập dượt tư duy và tư duy. Nếu hàng ngày SV đến trường để nghe những điều
nhiều người đã nghe, thu lượm những kiến thức cụ thể để xếp vào một ngăn nào
đó trong trí não thì họ sẽ sớm có cảm giác bão hòa về kiến thức, khó tìm được
hứng thú với việc học tiếp theo. Điều này đòi hỏi người GV hiện nay phải biết
cách sử dụng các PPDH đòi hỏi SV tư duy ở mức độ cao, mềm dẻo và linh hoạt
trong việc sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại cũng như hệ thống bài tập,
các câu hỏi nhằm phát huy tối đa vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của SV trong
các giờ dạy học nói chung và giờ học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác
- Lênin về Triết học nói riêng. GV có kế hoạch hướng dẫn cụ thể, để dành thời
gian hợp lí cho SV tư duy và thảo luận.
Đổi PPDH nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường đại học là một
nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục hiện nay. Trong xã hội hiện đại, khi
khối lượng tri thức của nhân loại đã và đang tăng lên vùn vụt thì việc dạy học ở
nhà trường được xác định rõ theo hướng là dạy cách thức tiếp nhận và tạo lập
các giá trị văn hóa thay vì dạy các tri thức văn hóa cụ thể. Từ cách dạy học trên,
để SV ra trường có thể đối diện và giải quyết được những vấn đề ngày càng
23
phức tạp và tinh tế trong công việc, cũng như trong cộng đồng và cuộc sống cá
nhân của mình. Thực tế việc dạy học các môn Lý luận chính trị Mác – Lênin hiện
nay chưa tạo ra được sức hấp dẫn đối với SV và xã hội, chúng tôi thấy cần thiết
phải đưa ra những PP, biện pháp dạy học bộ môn một cách khoa học, hiệu quả mà
vẫn đảm bảo tính hấp dẫn của mỗi buổi học. Làm mới kiến thức và đòi hỏi SV
phải giải quyết những điều phức hợp hơn hoặc mang tính khoa học chính là một
cách làm cho giờ học thêm hấp dẫn. Với dạy học Những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác - Lênin về Triết học thì dạy học bằng PPTLN với các biện pháp
mà tác giả đưa ra cùng với sự sáng tạo của mỗi GV trong việc kết hợp với các
PPDH khác là một trong những cách dạy học phù hợp, hiện đại ngày nay.
5. Các biện pháp mà tác giả đề xuất để dạy học Những nguyên lý cơ bản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status