Thủy Nguyên_2014
Đề cương ôn tập triết 2
Biên soạn:
Nguyên_ tài năng sinh k58
[email protected]
Tai liệu đã qua tham khảo, biên soạn và chỉnh sửa.
Nguồn: internet
Câu 1: Trình bày khái niệm hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa?
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, nó có thể thỏa mãn những nhu cầu nhất
định nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.
Khi nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác bắt đầu bằng
sự phân tích hàng hóa. Điều này bắt nguồn từ các lí do sau:
Thứ 1, hàng hóa là hình thái biểu hiện phổ biến nhất của của cải trong xã hội
tư bản
Thứ 2, hàng hóa là hình thái nguyên tố của của cải, là tế bào kinh tế trong đó
chứa đựng mọi mầm mống mâu thuẫn của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa.
Thứ 3, phân tích hàng hóa nghĩa là phân tích giá trị - phân tích cái cơ sở của
tất cả các phạm trù chính trị kinh tế học của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa.
Hai thuộc tính của hàng hóa là :
- Giá trị sử dụng:
1. Là công dụng của vật phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của
con người(VD: gạo để ăn, áo để mặc )
2. Giá trị sử dụng của hàng hóa do thuộc tính tự nhiên của hàng
hóa quy định.Nó là một phạm trù vĩnh viễn.
3. Số lượng giá trị sử dụng của một vật không phải ngay một lúc
đã phát hiện ra được hết, mà nó được phát hiện dần dần trong
quá trình phát triển của khoa học – kĩ thuật.
4. Giá trị sử dụng chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu
dùng, nó là nội dung vật chất của của cải, không kể hình thức
mâu thuẫn với nhau.
Câu 2: Trình bày lượng giá trị của hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng
đến lượng giá trị của hàng hóa?
• Lượng giá trị hàng hóa là số lượng lao động của người sản xuất hàng
hóa kết tinh trong hàng hóa. Lượng giá trị của hàng hóa là do lượng
lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa đó quyết định.
• Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa:
1) Năng suất lao động:
Là năng lực sản xuất của lao động, nó được tính bằng số
lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian
hoặc số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn
vị sản phẩm.
Có 2 loại năng suất lao động : năng suất lao động cá biệt
và năng suất lao động xã hội.
Trên thị trường, hàng hóa được trao đổi không phải theo
giá trị cá biệt mà là giá trị xã hội ⇒ Năng suất lao động
có ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hóa đó chính là
năng suất lao động xã hội.
Năng suất lao động xã hội càng tăng, thời gian lao động
xã hội cẩn thiết để sản xuất ra hàng hóa đó giảm, lượng
giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít và ngược lại.
Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa tỷ lệ thuận với số
lượng lao động kết tinh và tỷ lệ nghịch với năng suất lao
động xã hội ⇒ Muốn giảm giá trị của mỗi đơn vị hàng
hóa xuống, thì ta phải tăng năng suất lao động xã hội.
2
Thủy Nguyên_2014
Năng suất lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố: trình độ
khéo léo của người lao động, sự phát triển của khoa học –
kĩ thuật và trình độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản
• Quy luật giá trị yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ
sở giá trị của nó, tức là dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần
thiết.
• Trong sản xuất, quy luật giá trị đòi hỏi người sản xuất phải điều chỉnh
làm cho hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí
3
Thủy Nguyên_2014
mà xã hội chấp nhận được(giá trị cá biệt hàng hóa nhỏ hơn hoặc bằng
giá trị xã hội hàng hóa)
• Trong lưu thông, trao đổi phải tuân theo nguyên tắc ngang giá.
• Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá cả
hàng hóa
• Giá cả hàng hóa là biểu hiện bằng tiền tệ của giá trị hàng hóa.
• Trên thị trường, giá cả hàng hóa phụ thuộc vào các yếu tố: giá trị của
hàng hóa, cạnh tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền…
• Giá cả hàng hóa biến động lên xuống xoay quanh giá trị của nó. Sự
vận động của giá cả thị trường của hàng hóa xoay quanh trục giá trị
của nó chính là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị.
Tác động của quy luật giá trị:
Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa:
- Điều tiết sản xuất tức là điều hòa, phân bố các yếu tố sản xuất giữa
các ngành,các lĩnh vực của nền kinh tế.
- Tác động này của quy luật giá trị thông qua sự biến động của giá cả
hàng hóa trên thị trường dưới tác động của quy luật cung cầu.
- Nếu cung nhỏ hơn cầu, giá cả hàng hóa sẽ lên cao hơn giá trị, hàng
hóa bán chạy, lãi cao, thì người sản xuất sẽ đổ xô vào ngành đó. Do
đó, tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyển dịch vào ngành ấy
tăng lên và ngược lại.
- Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua giá cả trên thị
trường. Sự biến động của giá cả thị trường cũng có tác động thu hút
sản trở thành người nghèo khó.
***** Những tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa có ỹ
nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức to lớn:
Một mặt qui luật giá trị chi phối sự lựa chọn tự nhiên, đào thải các yếu kém,
kích thích các nhân tố tích cực phát triển .
Mặt khác, phân hóa xã hội thành kẻ giàu người nghèo, tạo ra sự bất bình
đẳng trong xã hội.
*Câu 4: So sánh công thức lưu thông tư bản và công thức lưu thông của
hàng hóa?
Điểm giống: Cả hai sự vận động, đều là do hai giai đoạn đối lập nhau là mua
và bán hợp thành, trong mỗi giai đoạn đều có hai nhân tố vật chất đối diện
nhau là tiền và hàng, và hai người có mối quan hệ kinh tế với nhau là người
mua và người bán.
Khác nhau:
Đặc điểm so sánh Công thức lưu thông hàng
hóa giản đơn(H-T-H)
Công thức lưu thông của tư
bản(T-H-T)
Khởi đầu và kết
thúc
Khởi đầu bằng việc
bán(H-T) và kết thúc bằng
việc mua(T-H).
Điểm xuất phát và điểm
kết thúc đều là hàng hóa.
Bắt đầu bằng việc mua(T-
H) và kết thúc bằng việc
bán(H-T).
Tiền là điểm bắt đầu và là
điểm kết thúc
hóa đặc biệt, mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gôc sinh ra giá
trị.Thứ hàng hóa đó là sức lao động mà nhà tư bản đã tìm thấy trên thị
trường.Vậy,
Hàng hóa sức lao động: Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại
trong cơ thể con người và được người đó sử dụng đưa vào trong quá trình
sản xuất.
Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa là:
- Người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được sức lao
động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng
hóa.
- Người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất và tư
liệu sinh hoạt, họ trở thành người “vô sản”, để tồn tại buộc anh ta phải
bán sức lao động của mình để sống.
- Sự tồn tại đồng thời hai điều kiện nói trên tất yếu biến sức lao động thành
hàng hóa. Sức lao động biến thành hàng hóa là điều kiện quyết định để
tiề biến thành tư bản. Nhưng để tiền biến thành tư bản thì lưu thông hàng
hóa và lưu thông tiền tệ phải phát triển tới một mức độ nhất định.
- Trong các hình thái xã hội trước chủ nghĩa tư bản chỉ có sản phẩm của
lao động mới là hàng hóa. Chỉ đến khi sản xuất hàng hóa phát triển đến
một mức độ nhất định nào đó, các hình thái sản xuất xã hội cũ( sản xuất
nhỏ, phường hội, phong kiến) bị phá vỡ, thì mới xuất hiện những điều
kiện để cho sức lao động trở thành hàng hóa, chính điều này đã làm cho
sản xuất hàng hóa trở nên có tính chất phổ biến.
Câu 6: Phân tích hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động?
1) Giá trị hàng hóa sức lao động:
6
Thủy Nguyên_2014
- Do thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái
sản xuất sức lao động quyết định
- Nhưng sức lao động chỉ tồn tại như năng lực sống của
- Mặt khác, sự tăng năng suất lao động xã hội sẽ làm tăng
giá trị sức lao động.
2) Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động:
- Hàng hóa sức lao động không chỉ có giá trị mà còn có giá
trị sử dụng như bất kì một hàng hóa thông thường nào.
- Giá trị của hàng hóa sức lao động cũng chỉ thể hiện ra
trong quá trình tiêu dùng sức lao động.
7
Thủy Nguyên_2014
- Nhưng quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hóa sức lao
động khác với quá trình tiêu dùng hàng hóa thông thường
ở chỗ: hàng hóa thông thường sau quá trình tiêu dùng hay
sử dụng thì giá cả hay giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến
mất theo thời gian.
- Trái lại , quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động, đó
lại là quá trình tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của
bản thân hàng hóa sức lao động . Phần lớn hơn đó là giá
trị thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt.
- Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có
tính chất đặc biệt, nó là nguồn gốc sinh ra giá trị. Đó là
chìa khóa để giải thích mâu thuẫn của công thức chung tư
bản.Chính điều đặc biệt này đã làm cho sự xuất hiện của
hàng hóa sức lao động trở thành điều kiện để tiền tệ
chuyển hóa thành tư bản.
*Câu 7: Trình bày khái niệm giá trị thặng dư, so sánh phương pháp sản
xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối.
Giá trị thặng dư là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao
động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.
Điểm giống:
Đều làm tăng giá trị thặng dư và kéo dài thời gian lao động thặng dư.Hơn
bóc lột lao động không công của công nhân làm thuê.
Như vậy, bản chất của tư bản là thể hiện quan hệ sản xuất xã hội mà trong
đó giai cấp tư sản chiếm đoạt giá trị thặng dư do giai cấp công nhân sáng tạo
ra.
Vai trò của tư bản bất biến và tư bản khả biến:
Xét bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất :
Tư liệu sản xuất có nhiều loại, có loại được sử dụng toàn bộ trong quá trình
sản xuất, nhưng chỉ hao mòn dần, do đó chuyển dần từng phần giá trị của nó
vào sản phẩm như máy móc, thiết bị…, có loại khi đưa vào sản xuất thì
chuyển toàn bộ giá trị của nó trong một chu kỳ sản xuất như nguyên liệu,
nhiên liệu.
Song, giá trị của bất kỳ tư liệu sản xuất nào cũng đều nhờ có lao động cụ thể
của công nhân mà được bảo toàn và di chuyển vào sản phẩm, nên giá trị đó
không thể lớn hơn giá trị tư liệu sản xuất đã bị tiêu dùng để sản xuất ra sản
phẩm.
Cái bị tiêu dùng của tư liệu sản xuất là giá trị sử dụng, kết quả của việc tiêu
dùng đó là tạo ra một giá trị mới.
Giá trị tư liệu sản xuất được bảo toàn dưới dạng giá trị sử dụng mới chứ
không phải được sản xuất ra.
Bộ phận tư bản biến thành tư liệu sản xuất mà giá trị được bảo toàn và
chuyển vào sản phẩm , tức là không thay đổi về lượng giá trị của nó được
gọi là tư bản bất kiến(KH: c)
Bộ phận dùng để mua sức lao động thì khác. Một mặt, giá trị của nó biến
thành các tư liệu sinh hoạt của người công nhân và biến đi trong tiêu dùng
của công nhân.
Mặt khác, trong quá trình lao động, bằng lao động trừu tượng, công nhân tạo
ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân sức lao động, nó bằng giá trị sức
lao động cộng với giá trị thặng dư.
Như vậy bộ phận dùng để mua sức lao động đã không ngừng chuyển hóa từ
đại lượng bất biến thành một đại lượng khả biến, tức là đã tăng lên về lượng
nghĩa tư bản, là cơ sở tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản.
Nội dung của nó là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa bằng cách tăng
cường bóc lột công nhân làm thuê. Quy luật giá trị thặng dư ra đời và
tồn tại cùng với chủ nghĩa tư bản.
Nó quyết định các mặt chủ yếu, các quá trình kinh tế chủ yếu của tư
bản.Nó là động lực vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản, đồng
thời nó cũng làm cho mọi mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là
mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc, đưa đến sự
thay thế tất yếu chủ nghĩa tư bản bằng một xã hội cao hơn.
Hiện nay ở một số nước tư bản phát triển, giai cấp công nhân đã có
mức sống khá hơn. Nhưng mức sống đó vẫn là kết quả của việc bán
sức lao động. Họ vẫn bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư. Trong
điều kiện hiện nay, sản xuất giá trị thặng dư có những đặc điểm mới
sau đây:
1) Một là, do kĩ thuật và công nghệ hiện đại được áp dụng rộng rãi
nên khối lượng giá trị thặng dư được tạo ra chủ yếu nhờ tăng
năng suất lao động. Việc tăng năng suất lao động do áp dụng kỹ
thuật và công nghệ hiện đại có đặc điểm là chi phí lao động
sống trong một đơn vị sản phẩm giảm nhanh, vì máy móc hiện
đại thay thế được nhiều lao động sống hơn.
10
Thủy Nguyên_2014
2) Hai là, cơ cấu lao động xã hội ở các nước tư bản phát triển
hiện nay có sự biến đổi lớn. Do áp dụng rộng rãi kỹ thuật và
công nghệ hiện đại nên lao động phức tạp,lao động trí tuệ tăng
lên và thay thế lao động giản đơn, lao động cơ bắp. Do đó, lao
động trí tuệ, lao động có trình đọ kỹ thuật cao ngày càng có vai
trò quyết định trong việc sản xuất giá trị thặng dư. Chính nhờ
sử dụng lực lượng lao động ngày nay và tỷ suất và khối lượng
giá trị thặng dư đã tăng lên rất nhiều.
Năng suất lao động:
11
Thủy Nguyên_2014
Năng suất lao động xã hội tăng lên thì giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu
dùng giảm đi. Sự giảm này đem lại hai hệ quả cho tích lũy:
Một là, với khối lượng giá trị thặng dư nhất định, phần dành cho tích lũy có
thể lấn sang phần tiêu dùng, trong khi sự tiêu dùng của nhà tư bản không
giảm mà vẫn có thể bằng hoặc cao hơn trước.
Hai là, một lượng giá trị thặng dư nhất định dành cho tích lũy cũng có thể
chuyển hóa thành một lượng tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm nhiều
hơn trước.
Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ đã tạo ra nhiều yếu tố phụ thêm cho
tích lũy nhờ việc sử dụng vật liệu mới và tạo ra công dụng mới của vật liệu
hiện có như những phết thải trong tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân
của xã hội, những vật vốn không có giá trị. Cuối cùng năng suất lao động sẽ
là cho giá trị của tư bản cũ tái hiện dưới hình thái hữu dụng mới càng nhanh.
Chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng:
Tư bản sử dụng là khối lượng giá trị những tư liệu lao động mà toàn bộ quy
mô hiện vật của chúng đều hoạt động trong quá trình sản xuất sản phẩm.
Tư bản tiêu dùng là phần giá trị những tư liệu lao động ấy được chuyển vào
sản phẩm theo từng chu kỳ sản xuất dưới dạng khấu hao.
Giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng có sự chênh lệch. Sự chênh lệch
này là thước đo sự tiến bộ của lực lượng sản xuất. Sau khi trừ đi những tổn
phí hàng ngày trong việc sử dụng máy móc và công cụ lao động - nghĩa là
sau khi trừ đi giá trị hao mòn của chúng đã chuyển vào sản phẩm - nhà tư
bản sử dụng những máy móc và công cụ lao động đó mà không đòi hỏi một
chi phí khác.
Kỹ thuật càng hiện đại, sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu
dùng càng lớn, thì sự phục vụ không công của tư liệu lao động càng lớn.
Đại lượng tư bản ứng trước:
tăng lên tránh được thiệt hại hao mòn hữu hình do tự nhiên phá hủy và hao
mòn vô hình gây ra.Nhờ đó, mà có điều kiện đổi mới các thiết bị nhanh.
*Tư bản lưu động là bộ phận tư bản sản xuất tồn tại dưới dạng
nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ, sức lao đông, …giá trị của nó được
hoàn lại toàn bộ cho các nhà tư bản sau mỗi quá trình sản xuất, khi hàng hóa
đc bán song.
Tư bản lưu động chu chuyển nhanh hơn tư bản cố định. Việc tăng tốc
độ chu chuyển của tư bản lưu động có ỹ nghĩa quan trọng.
Một mặt, tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động tăng lên sẽ làm tăng
lượng tư bản lưu động được sử dụng trong năm, do đó tiết kiệm được tư bản
ứng trước.
Mặt khác, do tăng tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động khả biến
làm cho tỷ suất giá trị thặng dư và khối lượng giá trị thặng dư hàng năm tăng
lên
Câu 12: Trình bày nguyên nhân chuyển biến của chủ nghĩa tư bản từ tự
do cạnh tranh sang độc quyền?
Sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của khoa học kĩ thuật
đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, hình thành các xí nghiệp có
quy mô lớn.
Vào năm 30 của thế kỉ XIX, những thành tựu khoa học kĩ thuật mới xuất
hiện như lò luyện kim mới của Tô Mát…đã tạo ra sản lượng lớn gang thép
với chất lượng cao; phát hiện ra hóa chất mới như H2SO4, thuốc
nhuộm, máy móc mới ra đời: động cơ đi- ê- zen, máy phát điện…Những
13
Thủy Nguyên_2014
thành tựu khoa học kĩ thuật này, một mặt làm xuất hiện những ngành sản
xuất mới đòi hỏi xí nghiệp phải có quy mô lớn.Mặt khác nó dẫn đến tăng
năng suất lao động, tăng khả năng tích lũy tư bản, thúc đẩy phát triển sản
xuất lớn.
Trong điều kiện phát triển của khoa học kĩ thuật, sự tác động của các quy
Đồng thời, sở hữu nhà nước thực hiện các chức năng quan trọng sau:
Thứ 1, mở rộng sản xuất TBCN , bảo đảm địa bàn rộng lớn cho sự phát triển
của chủ nghĩa tư bản.
14
Thủy Nguyên_2014
Thứ 2, giải phóng tư bản của tổ chức độc quyền từ những ngành ít lãi đề đưa
vào những ngành kinh doanh có hiệu quả hơn.
Thứ 3, làm chỗ dựa về kinh tế cho nhà nước để nhà nước điều tiết một số
quá trình kinh tế phục vụ lợi ích của tầng lớp tư bản độc quyền.
Hơn nữa, sở hữu tư bản nhà nước phản ánh xuyên tạc bản chất của chế độ sở
hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Song thực tế, nó không vượt được khuôn khổ
của sở hữu tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, công nhân vẫn không phải là người chủ
đối với tư liệu sản xuất của xí nghiệp nhà nước.
- Sự điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản:
Sự điều tiết này được thực hiện bằng nhiều công cụ như pháp luật, giá cả,
chính sách tài chính và tiền tệ…
Mặc dù sự điều tiết của nhà nước đã đưa lại kết quả thiết thực, nhưng những
sai lầm trong sự điều tiết của nhà nước lại đưa đến hậu quả là tác động tiêu
cực của cạnh tranh tự do và độc quyền kinh doanh tư nhân.
Vì thế, hệ thống điều tiết kinh tế của nhà nước đã dung hợp cả 3 cơ chế: thị
trường. độc quyền tư nhân và điều tiết của nhà nước , nhằm phát huy mặt
tích cực và hạn chế mặt tiêu cực từng cơ chế.
Câu 14: Trình bày nguyên nhân ra đời và bản chât của chủ nghĩa tư bản
độc quyền nhà nước?
Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa tư bản độc
quyền nhà nước là:
1) Tích tụ và tập trung tư bản càng lớn thì tích tụ và tập trung sản xuất
càng cao, do đó cơ cấu ngành kinh tế thay đổi đòi hỏi vai trò điều tiết
và kế hoạch hóa của nhà nước. Nói cách khác, lực lượng sản xuất xã
hội hóa ngày càng cao càng mâu thuẫn gay gắt với hình thức chiếm
bó chặt chẽ với nhau: tăng sức mạnh của các tổ chức độc quyền, tăng
vai trò can thiệp của nhà nước vào kinh tế , kết hợp sức mạnh của kinh
tế độc quyền tư nhân với với sức mạnh chính trị của nhà nước trong
một thể chế thống nhất và bộ máy nhà nước phụ thuộc vào các tổ chức
độc quyền.
Lê Nin từng nói: “Bọn đầu sỏ tài chính dùng một mạng lưới dày đặc
những quan hệ lệ thuộc để bao chum hết thảy các thiết chế kinh tế và
chính trị đó là biểu hiện rõ rệt nhất của sự độc quyền ấy”
Trong cơ cấu của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, nhà nước đã
trở thành một tập thể tư bản khổng lồ. Nó cũng là chủ sở hữu những xí
ngiệp, cũng tiến hành kinh doanh, bóc lột lao động làm thuê như một
nhà tư bản thông thường.
Như vậy, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước là một quan hệ kinh
tế, chính trị, xã hội, chứ không phải là một chính sách trong giai đoạn
độc quyển của chủ nghĩa tư bản .
Bất cứ nhà nước nào cũng có vai trò kinh tế nhất định đối với xã hội
mà nó thống trị, song ở mỗi chế độ xã hội, vai trò kinh tế của nhà
nước có sự biến đổi thích hợp đối với xã hội đó
Các nhà nước trước chủ nghĩa tư bản chủ yếu can thiệp bằng bạo lực
và theo lối cưỡng bức siêu kinh tế. Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản
tự do cạnh tranh, nhà nước tư sản ở bên trên, bên ngoài quá trình kinh
tế, vai trò của nhà nước chỉ dừng lại ở việc điều tiết bằng thuế và pháp
luật.
Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản độc quyền vai trò của nhà
nước tư sản dần dần có sự biến đổi, không chỉ can thiệp vào nền sản
16
Thủy Nguyên_2014
xuất xã hội bằng thuế, luật pháp mà còn có vai trò tổ chức và quản lí
các xí nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước, điều tiết bằng các biện
pháp đòn bẩy kinh tế vào tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất.
Sở hữu nhà nước không chỉ bao gồm động sản và bất động sản cần
cho bộ máy của nhà nước, mà gồm cả những xí nghiệp nhà nước trong
công nghiệp và trong các lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội : giao
thông, y tế
Nhà nước được xây dựng dưới nhiều hình thức khác nhau là vì:
Xây dựng xí nghiệp nhà nước bằng vốn của ngân sách
17
Thủy Nguyên_2014
Quốc hữu hóa các xí nghiệp tư nhân bằng cách mua lại
Nhà nước mua cổ phần của các xí nghiệp tư nhân
Mở rộng xí nghiệp nhà nước bằng vốn tích lũy của các xí nghiệp tư
nhân
Đồng thời, sở hữu nhà nước thực hiện các chức năng quan trọng như:
Một là, mở rộng sản xuất tư bản chủ nghĩa, đảm bảo địa bàn rộng lớn
cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản
Hai là, giải phóng tư bản của tổ chức độc quyền từ những ngành ít lãi
để đưa vào những ngành kinh doanh có hiệu quả
Ba là, làm chỗ dựa về kinh tế cho nhà nước để nhà nước điều tiết một
số quá trình kinh tế phục vụ lợi ích của tầng lớp tư bản độc quyền.
Mặc dù có những chức năng quan trọng như vậy, nhưng không phải
lúc nào giai cấp tư sản cũng muốn mở rộng sở hữu tư bản nhà nước.
Vấn đề là ở chỗ, khi nào nó mang lại lợi ích cho giai cáp tư sản thì sẽ
được chú ý phát triển và ngược lại
Sự điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản
Hệ thống điều tiết kinh tế của nhà nước đã dung hợp cả ba chơ chế:
thị trường, độc quyền tư nhân và điều tiết của nhà nước nhằm phát
huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của từng cơ chế. Xét đến
cùng và về bản chất, hệ thống điều tiết đó phục vụ cho chủ nghĩa tư
bản độc quyền.
Bản thân sự điều tiết của nhà nước cũng có những mặt tích cực và tiêu
xuất, làm thuê cho giai cấp tư sản và bị bóc lột giá trị thặng dư. Đây là đặc
trưng cơ bản nhất của giai cấp công nhân dưới chế độ tư bản chủ
nghĩa.Chính vì vậy, C.Mác và Ăng ghen đều gọi là giai cấp cấp công nhân
dưới chủ nghĩa tư bản là giai cấp vô sản.
Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ, bộ mặt của chủ nghĩa tư bản đã có những thay đổi to lớn và đi
cùng với nó là sự thay đổi nhất định của giai cấp công nhân so với trước kia.
Cơ cấu nghành nghề của giai cấp công nhân đã có những thay đổi to lớn:
bên cạnh công nhân của nền công nghiệp cơ khí, đã xuất hiện công nhân của
nền công nghiệp tự động hóa- Giai cấp công nhân hiện nay không chỉ bao
gồm những người lao động trong công nghiệp , trực tiếp tạo ra giá trị vật
chất cho xã hội mà còn bao gồm những người lao động trong cá bộ phận
dịch vụ công nghiệp, gián tiếp tham gia vào quá trình sản xuất vật chất.
Song, dù cho trình độ kỹ thuật có thay đổi như thế nào đi chăng nữa thì xét
xem tiêu chí kinh tế - xã hội, giai cấp công nhân vẫn tồn tại như một giai cấp
đặc tù với cả hia tiêu chí cơ bản nói trên.
Căn cứ vào hai thuộc tính nói ở trên chúng ta có thể đưa ra định nghĩa như
sau về giai cấp công nhân:
Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển
cùng với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại với nhịp độ phát
triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hoá ngày càng cao; là lực
lượng sản xuất cơ bản tiên tiến, trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản
xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; Đại biểu
cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại hiện
nay
Nội dung sứ mện lịch sử của giai cấp công nhân:
19
Thủy Nguyên_2014
Trong mỗi thời kỳ chuyển biến cách mạng lên một hình thái kinh tế -
xã hội cao hơn luôn có một giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của lịch sử, đóng
nghĩa
Xét một cách tổng quát chúng ta có thể khẳng định rằng, địa vị kinh tế xã
hội của giai cấp công nhân quy định một cách khách quan vai trò xứ mện
của giai cấp công nhân bởi vì:
Thứ 1, giai cấp công nhân là bộ phận quan trọng nhất, cách mạng nhất trong
bộ phận cấu thành lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư
bản.Trong nền sản xuất hiện đại, giai cấp công nhân vừa là chủ thể trực tiếp,
vừa là sản phẩm căn bản nhất của nền sản xuất đó. Tất cả các giai cấp khác
20
Thủy Nguyên_2014
đều suy tàn và tiêu vong cùng với đòn đại công nghiệp, còn giai cấp công
nhân lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp.
Giai cấp công nhân hiện đại có xu hướng ngày càng được tri thức hóa
cao.Có điều này là bởi do yêu cầu khác quan của sự phát triển côn nghiệp
trong thời đại mà khoa học và công nghệ đã và đang trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp.
Thứ 2 là, do không có tư liệu sản xuất nên giai cấp công nhân phải bán sức
lao động của mình cho nhà tư bản và bị nhà tư bản chiếm đoạt giá trị thặng
dư, họ bị lệ thuộc hoàn toàn trong quá trình phân phối các kết quả lao động
của chính mình. Do vậy, về mặt lợi ích giai cấp công nhân là giai cấp đối
kháng trực tiếp với giai cấp tư sản. Xét về bản chất, họ là giai cấp cách mạng
triệt để nhất chống lại chế độ áp bức,bóc lột tư bản chủ nghĩa.
Điều kiện sinh hoạt khách quan của họ quy định rằng, họ chỉ có thể tự giải
phóng bằng cách giải phóng toàn xã hội khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong
cuộc cách mạng ấy, họ không mất gì ngoài xiềng xích và được cả thế giới về
mình.
Thứ 3, giai cấp công nhân có lợi ích căn bản thống nhất với lợi ích của toàn
thể nhân dân lao động nên họ có thể tập hợp, đoàn kết, lãnh đạo đông đảo
quần chúng đi theo làm cách mạng, đồng thời họ cũng là người đi đầu trong
cuộc đấu tranh của toàn thể nhân dân lao động và của dân tộc vì sự nghiệp
chung một kẻ thù là giai cấp tư sản bóc lột.Và cũng do yêu cầu của cuộc đấu
tranh giai cấp, để chống lại chủ nghĩa tư bản, giai cấp tư sản khi mà chúng
đã liên kết với nhau thành tập đoàn tư bản, chủ nghĩa đế quốc,vì vậy mà giai
cấp công nhân càng phải nêu cao tinh thần quốc tế của giai cấp mình.
Vô sản ở các nước phải đoàn kết lại(C.Mac và Ăng ghen)
Vô sản tất cả các nước và các dân tộc vị áp bức đoàn kết lại(Lê nin)
Câu 17: Trình bày quy luật ra đời của đảng cộng sản , vai trò của đảng
cộng sản trong việc thực hiện sứ mệnh của giai cấp công nhân?
Quy luật ra đời của đảng cộng sản :
Trong thực tế lịch sử, phong trào của giai cấp công nhân chống lại giai cấp
tư sản đã nổ ra ngay từ khi chủ nghĩa tư bản hình thành và phát triển, theo
qui luật có áp bức có đấu tranh.
Mặc dù, phong trào công nhân có thể phát triển về số lượng, qui mô cuộc
đấu tranh có thể được mở rộng nhưng cuối cùng đều bị thất bại vì thiếu một
lí luận khoa học và cách mạng soi đường.
Chỉ khi nào giai cấp công nhân đạt đến trình độ tự giác bằng cách tiếp thu lý
luận khoa học và cách mạng thì lúc đó phong trào đấu tranh của giai cấp này
mới thật sự là phong trào mang tính chất chính trị.
Khi đảng cộng sản việt nam ra đời, thông qua sự lãnh đạo của đảng, giai cấp
công nhân nhận thức được vai trò, vị trí của mình trong xã hôi, hiểu được
con đường, biện pháp đấu tranh cách mạng, từ đó tập hợp được đông đảo
quần chúng nhân dân lao động, thực hiện việc lật đổ chủ nghĩa tư bản, giải
phóng giai cấp mình, giải phóng toàn xã hội và tổ chức xây dựng xã hội mới
về mọi mặt.
Đảng cộng sản muốn hoàn thành vai trò lãnh đạo cách mạng thì trước hết
phải luôn luôn chăm lo xây dựng về tư tưởng và tổ chức, phải luôn luôn làm
cho đảng vững mạnh về chính trị, không ngừng nâng cao về trí tuệ, gắn bó
với quần chúng nhân dân, có năng lực lãnh đạo và hoạt động thực tiễn.
Do vậy, sự ra đời của đảng là một tất yếu khách quan, là vấn đề có tính qui
luật. Đó là , Đảng cộng sản là sự kết hợp biện chứng giữa chủ nghĩa Mác lê
học, cách mạng và là những người được tôi luyện từ trong thực tiễn phong
trào cách mạng.
Câu 18: Trình bày khái niệm và nguyên nhân của cách mạng xã hội chủ
nghĩa?
Khái niệm cách mạng xã hội chủ nghĩa:
Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng nhằm thay thế chế độ tư
bản chủ nghĩa lỗi thời bằng chế độ xã hội chủ nghĩa, trong cuộc cách mạng
đó, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo và cùng với quần chúng nhân dân
lao động xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh .
Theo nghĩa hẹp, cách mạng xã hội chủ nghĩa được hiểu là một cuộc cách
mạng chính trị, được kết thúc bằng việc giai cấp công nhân cùng nhân dân
23
Thủy Nguyên_2014
lao động giành được chính quyền,thiết lập nên nhà nước chuyên chính vô
sản- nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
Theo nghĩa rộng, cách mạng xã hôi chủ nghĩa bao gồm cả hai thời kì: cách
mạng về chính trị nhằm thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản và thời kỳ
sử dụng nhà nước của mình để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới về
mọi mặt kinh tế,chính trị, văn hóa tư tưởng
Nguyên nhân của cách mạng xã hội chủ nghĩa:
Nguyên nhân sâu sa của mọi cuộc cách mạng trong xã hội là do mâu thuẫn
gay gắt giữa nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất với sự kìm hãm của
quan hệ sản xuất đã trở nên lỗi thời.
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa,lực lượng sản xuất ngày càng phát triển,ngày
càng có tính xã hội hóa cao, mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất mang
tính tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất.
Biểu hiện trong lĩnh vực kinh tế là tổ chức, tính kế hoạch cao trong từng
doanh nghiệp ngày càng tăng với tính vô tổ chức của toàn xã hội do tính
cạnh tranh của nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa đã tạo ra.
Khi xảy ra khủng hoảng thừa, sản xuất đình trệ, công nhân không có việc