Đặng Lê Ngọc Hưng Lớp SH: 08XH
NỘI DUNG ÔN TẬP
NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MAC-LÊ NIN
1/ Điều kiện ra đời, đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hóa?
Trong lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội, có hai hình thức sản xuất rõ rệt là: sản xuất tự cấp tự túc
và sản xuất hàng hóa.
Sản xuất tự cấp, tự túc là sản xuất sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của người sản xuất trong nội bộ đơn vị
kinh tế. Còn sản xuất hàng hóa là sản xuất ra sản phẩm để bán, các quan hệ kinh tế giữa những người sản xuất
biểu hiện qua việc mua bán sản phảm của nhau trên thị trường.
Sản xuất hàng hóa đã ra đời trong hai điều kiện lịch sử:
+ Có sự phân công lao động xã hội:
Phân công lao động xã hội là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, biểu hiện ở sự chuyên môn hóa
sản xuất, Do phân công lao động xã hội, mỗi người hoặc mỗi nhóm người chỉ sản xuất một hoặc một số sản
phẩm nhất định. Mỗi người (hoặc mỗi nhóm người) đều thừa sản phẩm do mình sản xuất ra nhưng lại thiếu
các loại sản phẩm khác. Do đó, việc trao đổi sản phẩm trở thành tất yếu và có lợi đối với mọi người sản xuất.
+ Có chế độ tư hữu. Điều đó làm cho nhữg người sản xuất độc lập với nhau; họ sản xuất dựa trên cơ sở tư
liệu sản xuất của họ và sản phẩm lao động thuộc quyền chi phối của họ.
Chế độ tư hữu làm cho ngững người sản xuất độc lập với nhau, còn phân công lao động xã hội lại làm cho
họ phụ thuộc vào nhau. Sản xuất hàng hóa ra đời chính là để giải quyết mâu thuẫn này.
Những hình thức đầu tiên của sản xuất hàng hóa xuất hiện từ thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên
thủy, tồn tại và phát triển ở các phương thức sản xuất tiếp theo.
Sản xuất hàng hóa phát triển cao nhất, phổ biến nhất trong chủ nghĩa tư bản và trở thành hình thức sản
xuất hàng hóa điển hình, nổi bật trong lịch sử.
Sản xuất hàng hóa tiếp tục tồn tại và phát triển dưới chủ nghĩa xã hội vì dưới chủ nghĩa xã hội còn tồn tại
nhiều hình thức sở hữu khác nhau và trình độ phân công lao động xã hội ngày càng phát triển. Như vậy, sản
xuất hàng hóa xuất hiện rồi tồn tại và phát triển ở nhiều xã hội, là sản phẩm của lịch sử phát triển sản xuất của
loài người. Nó có nhiều ưu thế, tiến bộ so với sản xuất tự cấp tự túc mà cho tới nay chưa có hình thức sản xuất
xã hội nào có ưu thế hơn nó. Tuy nhiên, ở các xã hội khác nhau, sản xuất hàng hóa có vai trò và giới hạn khác
nhau. Song, nhìn chung, so với sản xuất tự cấp tự túc, sản xuất hàng hóa có nhiều ưu việt đặc biệt:
- Thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, hợp lý hóa sản
xuát, tiết kiệm. tăng năng suất lao động.
b/ Giá trị:
Muốn hiểu giá trị của hàng hóa phải nghiên cứư từ giá trị trao đổi của nó.
Giá trị trao đổi biểu hiện mối quan hệ trao đổi hàng hóa trên thị trường. Đó là mối quan hệ tỷ lệ về lượng
giữa những hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau đem trao đổi với nhau.
Ví dụ: 1m vải trao đổi với 5kg thóc.
Sở dĩ vải và thóc là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi được với nhau theo một tỷ lệ
nhất định, vì vải và thóc đều là sản phẩm của lao động, có cơ sở chung là sự hao phí lao động của con người.
Sự hao phí lao động đó chính là giá trị của hàng hóa.
Vậy, giá trị hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó.
Do đó, giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị.
Giá trị phản ánh mối quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hóa. Do đó, giá trị là một phạm trù
lịch sử, chỉ tồn tại trong kinh tế hàng hóa.
3/ Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa?
Hàng hóa có hai thuộc tính không phải là do có hai thứ lao động khác nhau kết tinh trong nó, mà là do lao
động của người sản xuất hàng hóa có tính chất hai mặt: vừa mang tính chất cụ thể (lao động cụ thể), lại vừa
mang tính chất trừu tượng (lao động trừu tượng).
a/ Lao động cụ thể:
Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất
định.
Mỗi một lao động cụ thể có mục đích, phương pháp, công cụ lao động, đối tượng lao động và kết quả lao
động riêng. Chính những cái riêng đó phân biệt các loại lao động cụ thể khác nhau. Lao động cụ thể tạo ra giá
trị sử dụng của hàng hóa.
Trong xã hội có nhiều loại hàng hóa với những giá trị sử dụng khác nhau là do có nhiều loại lao động cụ
thể khác nhau. Nếu phân công lao động xã hội càng phát triển thì càng có nhiều giá trị sử dụng khác nhau để
đáp ứng nhu cầu xã hội.
b/ Lao động trừu tượng:
Lao động của người sản xuất hàng hóa nếu coi đó là sự hao phí sức lao động nói chung không kể hình
thức cụ thể của nó như thế nào được gọi là lao động trừu tượng. Hay nói cách khác, nếu gạc bỏ lao động cụ
thể sang 1 bên thì lao động của tất cả người sản xuất hàng hóa có 1 điểm chung đó là sự hao phí sức lực thần
kinh cơ bắp của con người. Đó là lao động trừu tượng.
Cần phân biệt tăng năng suất lao động với tăng cường độ lao động. Cường độ lao động là mức độ hao phí
lao động trong một đơn vị thời gian. Tăng cường độ lao động sẽ làm tăng thêm mức hao phí lao động, và do
đó, làm tăng số lượng sản phẩm một cách tương ứng, vì vậy giá trị một đơn vị hàng hóa không thay đổi.
Lao động của người sản xuất hàng hóa có trình độ thành thạo khác nhau. Nó được chia thành hai loại: lao
động giản đơn là lao động không cần rèn luyện, đào tạo và lao động phức tạp phải qua quá trình học tập rèn
luyện…Trong cùng một đơn vị thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn.
Trong quá trình trao đổi hàng hóa, mọi lao động phức tạp đều được quy thành bội số của lao động giản
đơn trung bình một cách tự phát trên thị trường.
5/ Quy luật giá trị?
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế của nền sản xuất hàng hóa. Ở đâu có sản xuất hàng hóa thì ở đó có quy
luật giá trị hoạt động một cách khách quan.
Quy luật giá trị đòi hỏi việc sản xuất và trao đổi hàng hóa, phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần
thiết, có nghĩa là:
- Trong sản xuất, nó đòi hỏi người sản xuất luôn luôn có ý thức tìm cách hạ thấp hao phí lao động cá
biệt xuống nhỏ hơn, hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết.
- Trong lưu thông, nó đòi hỏi việc trao đổi hàng hóa phải dựa trên nguyên tắc ngang giá.
Quy luật giá trị hoạt động thông qua sự lên xuống của giá cả trên thị trường. Nó có mối quan hệ hữu
cơ với quy luật cung - cầu. Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả nhỏ hơn giá trị. Khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả
lớn hơn giá trị.
Quy luật giá trị hoạt động ở trong mọi phương thức sản xuất có sản xuất hàng hóa, nhưng đặc điểm hoạt
động, vai trò và tác dụng của nó khác nhau, vì nó bị các quy luật kinh tế đặc thù của phương thức sản xuất đó
chi phối.
Trong điều kiện nền sản xuất hàng hóa dựa trên cơ sở chế độ tư hữu giữ vai trò thống trị, quy luật giá trị
hoạt động một cách tự phát và có bốn tác dụng chủ yếu sau:
- Tự phát điều tiết các yếu tố sản xuất (tư liệu sản xuất và sức lao động) vào các ngành, các khu vực
khác nhau của nền sản xuất xã hội, thông qua sự biến động của cung - cầu thể hiện qua giá cả trên thị trường.
- Tự phát điều tiết lưu thông hàng hóa. Thông qua sự biến động (chênh lệch) của giá cả, hàng hóa từ
nơi có giá cả thấp sẽ được di chuyển về nơi có giá cả cao.
- Tự phát kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao đông, làm cho lực
lượng sản xuất phát triển.
Trong công thức 1 là giá trị sử dụng; trong công thức 2 là giá trị. Ở đây, tiền thu về (T) phải lớn hơn
tiền ứng trước (T) một lượng là t. Do đó T’ = T + t (Số tiền trội lên so với số tiền ứng ra ban đầu là giá trị
thặng dư, ký hiệu là (m)).
Như vây, số tìên ứng ra ban đầu (T) với mục đích đem lại giá trị thặng dư cho người chủ có tiền được gọi
là tư bản. Qua đó, đi đến kết luận: Tiền tệ chỉ trở thành tư bản khi được dùng để mang lại giá trị thặng dư cho
tư bản.
b/ Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản:
Lý luận giá trị đã chứng minh rằng:
Giá trị của hàng hóa do lao động của những người sản xuất hàng hóa tạo ra trong sản xuất. Nhưng nhìn
vào công thức T – H – T’ người ta dễ lầm tưởng rằng tiền tệ cũng tạo ra giá trị khi vận động trong lưu thông.
Thực chất thì bản thân tiền, dù ở ngoài hay ở trong lưu thông, cũng không tự lớn lên được. Tiền không thể
sinh ra tiền là điều hiển nhiên.
Còn lưu thông thuần túy, dù diễn ra ở bất cứ hình thức nào, kể cả việc mua rẻ bán đắt, cũng không làm
tăng thêm giá trị, không tạo ra giá trị thặng dư; ở đây chỉ có sự phân phối lại lượng giá trị có sẵn trong xã hội
mà thôi, bởi nếu mua rẻ thứ này thì sẽ lại phải mua đắt thứ kia: bán đắt thứ này thì lại phải bán rẻ thứ khác, vì
tổng khối lượng hàng và tiền trong toàn xã hội ở một thờì gian nhất định là một số lượng không đổi.
Tuy vậy, không có lưu thông cũng không tạo ra được giá trị thặng dư. Do đó, mâu thuẫn của công thức
chung của tư bản là giá trị thặng dư không do lưu thông đẻ ra nhưng lại được tạo ra thông qua lưu thông.
Sỡ dĩ như vậy vì nhà tư bản tìm được trên thị trường một loại hàng hóa đặc biệt có khả năng tạo ra giá trị
thặng dư cho mình. Đó là hàng hóa sức lao động.
7/ Hàng hóa sức lao động?
Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực của con người, là khả năng lao động của con người. Sức lao
động là yếu tố cơ bản của mọi quá trình sản xuất. Nó chỉ trở thành hàng hóa khi có hai điều kiện:
- Người có sức lao động được tự do thân thể, được quyền làm chủ sức lao động của mình để có thể
đi làm thuê (bán sức lao động).
- Họ không có tư liệu sản xuất và của cải khác để sinh sống, buộc phải đi làm thuê, tức là bán sức
lao động của mình. Sức lao động khi trở thành hàng hóa, nó vừa có hai thuộc tính như hàng hóa thông thường
vừa có đặc điểm riêng.
- Giá trị hàng hóa sức lao động cũng bằng lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất
ra nó. Nhưng việc sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động phải được thực hiện bằng cách tiêu dùng cho cá
(C).
Trong quá trình sản xuất, bộ phận tư bản này có sự thay đổi về lượng, tăng lên về số lượng giá trị, vì
đặc điểm của giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động là khi được đem tiêu dùng thì nó sẽ tạo ra một lượng
giá trị mới lớn hơn giá trị bản thân nó - gọi là tư bản khả biến (ký hiệu bằng V).
- Việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến vạch rõ nguồn gốc của giá trị thặng
dư là do lao động làm thuê của công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không. Hiện nay, giai cấp tư sản sử
dụng máy móc hiện đại tự động hóa quá trình sản xuất đối với một số sản phẩm. Trong điều kiện sản xuất như
vậy, tư bản bất biến có vai trò quan trong quyết định việc tăng năng suất lao động, nhưng cũng không thể coi
đó là nguồn gốc của giá trị thặng dư. Suy đến cùng, bộ phận tư bản khả biến tồn tại dưới hình thức sức lao
động (chân tay và trí óc) mới là nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư tư bản chủ nghĩa.
10/ Tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư?
Tỷ suất giá trị thặng dư là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị thặng dư (m) và tư bản khả biến (V). Tỷ suất giá trị
thặng dư ký hiệu là m’ và được xác định bằng công thức:
%100' ×=
v
m
m
Công thức tính tỷ suất giá trị thặng dư còn có dạng:
%100
'
' ×=
t
t
m
Trong đó: - t là thời gian lao động tất yếu
- t’ là thời gian lao động thặng dư.
Tỷ suất giá trị thặng dư vạch rõ trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với lao động làm thuê, đồng thời nó
cũng nói lên ngày lao động được chia thành hai phần - thời gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng
dư – như thế nào.
Khối lượng giá trị thặng dư (M) là số lượng giá trị thặng dư mà nhà tư bản thu được trong một thời gian
như kéo dài thời gian lao động trong ngày, trong khi thời gian lao động cần thiết không thay đổi.
- Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu trên
cơ sở tăng năng suất lao động xã hội. Việc tăng năng suất lao động xã hội, trước hết ở các ngành sản xuất ra
vật phẩm tiêu dùng, sẽ làm cho giá trị sức lao động giảm xuống, do đó, làm giảm thời gian lao động cần thiết.
Khi độ dài ngày lao động không thay đổi, thời gian lao động cần thiết giảm sẽ làm tăng thời gian lao động
thặng dư - thời gian để sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối cho nhà tư bản.
- Để giành ưu thế trong cạnh tranh, để thu được nhiều giá trị thặng dư, các nhà tư bản đã áp dụng
những tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, cải tiến tổ chức sản xuất, hoàn thiện phương pháp quản lý kinh tế,
nâng cao năng suất lao động. Kết quả là, giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội. Nhà tư bản nào
thực hiện được điều đó thì khi bán hàng hóa của mình sẽ thu được một số giá trị thặng dư trội hơn so với các
nhà tư bản khác.
b/ Giá trị thặng dư siêu ngạch:
Phần giá trị thặng dư thu được trội hơn giá trị thặng dư bình thường của xã hội được gọi là giá trị
thặng dư siêu ngạch.
Xét từng đơn vị sản xuất tư bản chủ nghĩa, giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời cục bộ.
Nhưng xét trên toàn bộ xã hội tư bản, giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên. Vì vậy,
giá trị thặng dư siêu ngạch là một động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản ra sức cải tiến kỹ thuật, tăng
năng suất lao động.
Giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động. Cái
khác nhau là ở chỗ giá trị thặng dư tương đối thì dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội; còn giá trị
thặng dư siêu ngạch thì dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động cá biệt.
12/ Quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản?
Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản.
Quy luật kinh tế cơ bản là quy luật phản ánh bản chất và mục đích của một phương thức sản xuất. Mỗi
phương thức sản xuất có một quy luật kinh tế cơ bản.
Bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất công nhân buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản. Lao động không
công của công nhân làm thuê là nguồn gốc của giá trị thặng dư, nguồn gốc làm giàu của nhà tư bản.
Sản xuất giá trị thặng dư là mục đích duy nhất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Vì mục đích đó, các nhà
tư bản sản xuất bất cứ loại hàng hóa nào, kể cả vũ khí giết người hàng loạt, miễn là thu được nhiều giá trị
Đề cương ôn tập KTCT HKII Trang 6 Lớp HP: 08NLCB02
Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô tư bản cá biệt bằng cách tư bản hóa một phần giá trị thặng dư.
Tích tụ tư bản là kết quả trực tiếp của tích lũy tư bản. Chẳng hạn, một tư bản 1.000 đôla cộng thêm 100 đôla
giá trị thặng dư tư bản hóa thành một tư bản lớn hơn 1.100 đôla.
Tích tụ tư bản là một tất yếu. Trước hết đó là do yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản,
của cạnh tranh và của tiến bộ kỹ thuật. Đồng thời trình độ bóc lột và khối lượng giá trị thặng dư bóc lột được
ngày càng tăng trong quá trinh phát triển của chủ nghĩa tư bản là điều kiện vật chất làm cho khả năng tư bản
hóa giá trị thặng dư biến thành hiện thực tích tụ tư bản.
b/ Tập trung tư bản: là sự tăng thêm quy mô tư bản bằng cách kết hợp nhiều tư bản nhỏ thành một tư bản
lớn hơn. Thí dụ: một tư bản 3.000 đôla kết hợp lại với một tư bản 2.000 đôla thành một tư bản lớn hơn 5.000
đôla.
Tập trung tư bản thường diễn ra bằng hai phương pháp. Phương pháp cưỡng bức và phương pháp tự
nguyện. Phương pháp cưỡng bức thể hiện ở chỗ: trong quá trình cạnh tranh, các nhà tư bản lớn thôn tính các
nhà tư bản nhỏ phá sản. Ở phương pháp tự nguyện trong quá trình cạnh tranh, các nhà tư bản không phân
thắng bại, họ liên hiệp lại và tổ chức các công ty cổ phần để tránh khỏi sự phá sản và có đủ sức mạnh cần thiết
cho cạnh tranh trên phạm vi mới.
Nếu tích tụ tư bản làm tăng quy mô tư bản xã hội và phản ánh mối quan hệ trực tiếp giữa giai cấp công
nhân và giai cấp tư sản thì tập trung tư bản không làm tăng quy mô tư bản xã hội mà chỉ phân phối lại và tổ
chức lại tư bản xã hội; nó phản ánh quan hệ trực tiếp giữa các nhà tư bản.
Tích tụ và tập trung tư bản có quan hệ với nhau và tác động thúc đẩy nhau. Tích tụ tư bản làm tăng quy
mô tư bản cá biệt khiến cho cạnh tranh gay gắt hơn, dẫn đến sự tập trung tư bản. Tập trung tư bản tạo ra điều
kiện để tăng cường bóc lột giá trị thặng dư và đẩy mạnh tích tụ tư bản.
c/ Cấu tạo hữu cơ của tư bản:
Trong quá trình tích lũy tư bản, cơ cấu tư bản dần dần thay đổi. Các bộ phận của tư bản có sự thay đổi
không giống nhau. Cấu tạo của tư bản gồm có hai mặt: mặt vật chất và mặt giá trị.
Đề cương ôn tập KTCT HKII Trang 7 Lớp HP: 08NLCB02
Đặng Lê Ngọc Hưng Lớp SH: 08XH
Cấu tạo của tư bản về mặt vật chất gồm có tư liệu sản xuất và sức lao động. Tỷ lệ giữa số lượng tư liệu
sản xuất và số lượng sức lao động sử dụng tư liệu sản xuất đó gọi là cấu tạo kỹ thuật của tư bản.
Cấu tạo của tư bản về mặt giá trị gồm có tư bản bất biến và tư bản khả biến. Tỷ lệ giữa tư bản bất biến và
tư bản khả biến gọi là cấu tạo giá trị của tư bản.
thành hạ, hợp thị hiếu người tiêu dùng. Muốn giảm thời gian sản xuất phải tăng năng suất lao động, giảm thời
gian gián đoạn bằng cách ứng dụng khoa học kỹ thuật v…v…
Nghiên cứu chu chuyển của tư bản, cần hiểu được việc chu chuyển hai bộ phận giá trị của tư bản sản
xuất là tư bản cố định và tư bản lưu động.
c/ Tư bản cố định:
Là bộ phận của tư bản sản xuất (nhà xưởng, thiết bị, máy móc) tham gia toàn bộ vào quá trình sản
xuất, nhưng giá trị của nó được chuyển dần dần vào sản phẩm. Tư bản cố định sử dụng lâu dài và bị hao mòn
dần. Có hai loại hao mòn: hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình. Hao mòn hữu hình là hao mòn về giá trị sử
dụng, do quá trình sử dụng và do tác động của tự nhiên mà bị hao mòn. Còn hao mòn vô hình là hao mòn về
giá trị do quá trình hiện đại hóa của khoa học kỹ thuật, nhiều máy móc mới được sản xuất ra tốt hơn với giá rẻ
hơn, làm cho máy móc cũ đang được sử dụng bị giảm giá trị ban đầu.
d/ Tư bản lưu động:
Là bộ phận của tư bản sản xuất (nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ…) được tiêu dùng hoàn toàn
trong một chu kỳ sản xuất và giá trị của nó được chuyển toàn bộ vào sản phẩm.
Đề cương ôn tập KTCT HKII Trang 8 Lớp HP: 08NLCB02
Đặng Lê Ngọc Hưng Lớp SH: 08XH
=> Nghiên cứu chu chuyển của tư bản là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn trong việc sử dụng tiền vồn trong
sản xuất và kinh doanh hợp lý, nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao. Cần tăng tốc độ chu chuyển tư bản cố định, tận
dụng tối đa công suất máy móc, thiết bị. Phải đẩy nhanh tốc độ xây dụng để đưa công trình vào sản xuất càng
sớm càng tốt.
16/ Khủng hoảng kinh tế trong chủ nghĩa Tư bản?
Khủng hoảng kinh tế là khủng hoảng “sản xuất thừa”, biểu hiện hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ được.
Thừa không phải do nhu cầu xã hội mà do sức mua có hạng của quần chúng lao động.
Nguyên nhân xâu xa của khủng hoảng kinh tế là do mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản, mẫu thuẫn
giữa tính chất xã hội của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Biểu hiện cụ thể qua các
điểm:
- Mâu thuẫn giữa tính có tổ chức, có kế hoạch trong từng xí nghiệp với tình trạng sản xuất vô chính
phủ trong toàn xã hội.
- Mâu thuẫn giữa xu hướng mở rộng sản xuất vô hạn của chủ nghĩa tư bản với sức mua có hạn của
quần chúng lao động.
b.2/ Tỷ suất lợi nhuận:
Tỷ suất lợi nhuận tỷ lệ phần trăm giá trị thặng dư và toàn bộ tư bản ứng trước, ký hiệu là P’.
%100' ×
+
=
vc
m
P
Tỷ suất lợi nhuận (P’) khác với tỷ suất giá trị thặng dư (m’).
+ Nếu xét về lượng P’ luôn nhỏ hơn m’.
Đề cương ôn tập KTCT HKII Trang 9 Lớp HP: 08NLCB02
Đặng Lê Ngọc Hưng Lớp SH: 08XH
+ Nếu xét về chất P’ nói lên cho nhà Tư bản biết kinh doanh và ngành nào có lợi hơn, còn m’ nói lên trình
độ bóc lột của Tư bản với công nhân làm thuê.
18/ Lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất?:
a/ Cạnh tranh giữa các ngành và sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân:
Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các xí nghiệp tư bản kinh doanh trong các ngành sản
xuất khác nhau, nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi hơn.
Biện pháp cạnh tranh là tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác.
Kết quả là hình thành nên lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất.
Giả sử trong xã hội có 3 nhà Tư bản có số tư bản bằng nhau đều là 100, tỷ suất giá trị thặng dư đều là
100%, tư bản ứng trước đều chu chuyển hết giá trị vào sản phẩm. Nhưng do tính chất kinh tế, kỹ thuật mỗi
ngành khác nhau nên cấu tạo hữu cơ của các xí nghiệp cũng rất khác nhau. Nếu số lượng giá trị thặng dư của
xí nghiệp nào tạo ra cũng bằng lợi nhuận nó thu được thì tỷ suất lợi nhuận sẽ rất khác nhau.
Ngành
Sản
Xuất
Chi Phí
Sản Xuất
TBCN
PPPP
n
''''
321
+++
=
Hay:
'P
%100×=
∑
∑
K
M
Trong đó: -
∑
M
là tổng giá trị thặng dư của xã hội.
-
∑
K
là tổng tư bản của xã hội.
Khi hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, có thể tính được lợi nhuận bình quân (
P
) từng ngành theo
công thức
P
= K x
'P
; trong đó K là tư bản ứng trước của từng ngành.
Lợi nhuận bình quân là lợi nhuận bằng nhau của tư bản bằng nhau đầu tư vào các ngành sản xuất khác
a.2/ Lợi nhuận thương nghiệp:
Lợi nhuận thương nghiệp là một phần giá trị thặng dư được tạo ra trong quá trinh sản xuất mà tư bản công
nghiệp nhường cho tư bản thương nghiệp để tư bản thương nghiệp bán hàng hóa của mình, là biến tướng của
giá trị thặng dư. Nguồn gốc của nó là một bộ phận lao động không được trả công của công nhân.
Tư bản công nghiệp và tư bản thương nghiệp phân phối giá trị thặng dư cho nhau diễn ra theo quy luật tỷ
suất lợi nhuận bình quân thông qua cạnh tranh và thông qua chênh lệch giữa giá cả sản xuất cuối cùng và giá
cả sản xuất công nghiệp.
b) Tư bản cho vay và lợi tức
b.1/ Tư bản cho vay:
- Tư bản cho vay đã xuất hiện trước chủ nghĩa tư bản gọi là tư bản cho vay cổ xưa, đặc điểm của nó là cho
vay nặng lãi.
- Đến chủ nghĩa tư bản, trong quá trình chu chuyển của tư bản công nghiệp do có sự không ăn khớp về
không gian và thời gian:
* Có nhà tư bản đã bán được hàng, có doanh thu nhưng chưa đến kỳ hạn mua nguyên liệu, trả công cho
công nhân,…có tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi nhưng là tư bản thì không ngừng lớn lên.
* Các nhà tư bản khác đã đến kỳ hạn đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất,…có nhu cầu sử dụng tư
bản của người khác và chấp nhận việc trả lãi.
Tình hình trên nảy sinh quan hệ vay mượn (quan hệ tín dụng) và tư bản nhàn rỗi đó thành tư bản cho vay.
Tư bản cho vay là tư bản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi mà người chủ sở hữu nó cho người khác vay, sử
dụng trong một thời gian nhất định nhằm thu lời.
b.2/ Lợi tức:
- Trong tay nhà tư bản hoạt động thì tư bản đi vay mang lại lợi nhuận và lợi nhuận đó cũng bằng lợi nhuận
bình quân, vì vậy lợi nhuận bình quân được chia thành 2 phần:
* Trả lợi tức.
* Thu nhập của chủ xí nghiệp.
Lợi tức là một phần của lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản hoạt động phải trả cho nhà tư bản cho vay về
việc sử dụng tư bản đi vay (ký hiệu là Z).
b.3/ Tỷ suất lợi tức: là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức và số tư bản tiền tệ cho vay trong một thời gian
nhất định, ký hiệu là Z’
Đề cương ôn tập KTCT HKII Trang 11 Lớp HP: 08NLCB02
giá cổ phiếu.
- Trị giá cổ phiếu không phải là số tiền ghi trên mặt cổ phiếu.
- Thị giá cổ phiếu phụ thuộc vào mức cổ tức và lãi suất hiện hành.
'Z
tucCo
G =
Trong đó: G: thị giá cổ phiếu.
Z’: lãi suất.
d.3/ Tư bản giả: là các loại giấy có giá: cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu…
Đặc biệt:
+ Có thể mua bán trao đổi, chuyển nhượng.
+ Mang lại thu nhập chủ sở hữu.
+ Giá cả vận động tách rời giá trị thật.
e) Địa tô tư bản chủ nghĩa:
e.1/ Bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa:
Địa tô tư bản là lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản kinh doanh trong nông
nghiệp phải nộp cho chủ ruộng (ký hiệu R). Xét về nguồn gốc của R đó là một phần của giá trị thặng dư
nhưng khi lợi nhuận siêu ngạch chuyển hóa thành R đã xuyên tạc bản chất của nó.
e.2/ Hình thức của địa tô: hai hình thức.
* Địa tô chênh lệch: là lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân mà nhà tư bản kinh doanh trong
Đề cương ôn tập KTCT HKII Trang 12 Lớp HP: 08NLCB02
Đặng Lê Ngọc Hưng Lớp SH: 08XH
nông nghiệp phải nộp cho chủ ruộng, đó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung được quyết định bởi điều
kiện sản xuất xấu nhất với giá cả sản xuất cá biệt trên diện tích đất tốt và trung bình.
* Địa tô tuyệt đối: là số lợi nhuận siêu ngạch dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân, hình thành nên bởi chênh
lệch giữa giá trị nông sản với giá cả sản xuất chung của nông phẩm.
e.3/ Các loại địa tô và giá cả ruộng đất:
* Các loại địa tô:
- Địa tô hầm mỏ, mức địa tô là do chất lượng, trữ lượng khoáng sản.
- Địa tô xây dựng do vị trí quyết định.
Do đó, tư bản độc quyền ngân hàng tìm cách thâm nhập vào công nghiệp, trở thành người cùng chiếm hữu
các doanh nghiệp công nghiệp.
Tư bản độc quyền công nghiệp tìm cách thâm nhập vào ngân hàng, trở thành người cùng chiếm hữu ngân
hàng.
Tư bản độc quyền ngân hàng và tư bản độc quyền công nghiệp thâm nhập vào nhau, dung hợp với nhau
đến lúc không phân rõ ranh giới Tư bản tài chính ra đời và trở thành lực lượng thống trị nền kinh tế tư bản
chủ nghĩa.
Trên cơ sở tư bản tài chính hình thành nên các tập đoàn tư bản tài chính (các tỷ phú) chi phối và thống trị
đời sống kinh tế và chính trị của xã hội tư bản.
Thực hiện sự thống trị bằng “chế độ tham dự” thông qua việc nắm lấy số cổ phiếu khống chế để chi phối
công ty mẹ, bằng cách đó chi phối các công ty con…
Thâu tóm nền kinh tế trong tay.
Đề cương ôn tập KTCT HKII Trang 13 Lớp HP: 08NLCB02
Đặng Lê Ngọc Hưng Lớp SH: 08XH
Thống trị về kinh tế.
c/ Xuất khẩu tư bản:
Xuất khẩu giá trị ra nước ngoài nhằm sản xuất ra giá trị thặng dư ở đó. Có 2 hình thức:
- Đầu tư trực tiếp: xuất khẩu tư bản để xây dựng xí nghiệp mới hoặc mua lại những xí nghiệp đang
hoạt động; thầu việc hải cảng, đường xá…ở nước ngoài (xuất khẩu tư bản sản xuất hay tư bản kinh doanh).
- Đầu tư gián tiếp: xuất khẩu tư bản cho nhà nước hay cho tư nhân nước ngoài vay (xuất khẩu tư bản
vay).
Theo Marx: xuất khẩu tư bản là xuất khẩu quan hệ sản xuất TBCN ra ngoài, là công cụ chủ yếu để
bành trướng sự thống trị của TB tài chính ra toàn thế giới.
Sau chiến tranh, xuất khẩu tư bản vẫn là cơ sở của độc quyền quốc tế nhưng quy mô, chiều hướng và
kết cấu của xuất khẩu tư bản đã có bước phát triển mới.
Xuất khẩu tư bản là vũ khí đấu tranh chủ yếu giữa các tổ chức độc quyền nhằm tranh giành thị trường và
phạm vi ảnh hưởng.
Theo Lênin: “ theo nghĩa bóng thì các nước xuất khẩu tư bản là chia nhau thế giới”.
d/ Sự phân chia thế giới giữa các liên minh độc quyền quốc tế:
Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là nền sản xuất hàng hóa lớn, vì vậy thị trường là điều kiện sống còn; quy
vừa là tổ chức quản lý kinh tế - văn hóa – xã hội của nhân dân, được thể hiện tập trung qua 2 chức năng chủ
yếu đó là chức năng thống trị giai cấp và chức năng xây dựng.
a.2/ Đặc trưng, chức năng và nhiệm vụ của nhà nước XHCN:
* Đặc trưng:
- Quản lý dân cư trên 1 vùng lãnh thổ nhất định.
Đề cương ôn tập KTCT HKII Trang 14 Lớp HP: 08NLCB02
Đặng Lê Ngọc Hưng Lớp SH: 08XH
- Có 1 hệ thống các cơ quan quyền lực chuyên nghiệp mang tính cưỡng chế với mọi thành viên
trong xã hội.
- Hình thành hệ thống thuế khóa để nuôi bộ máy nhà nước.
Ngoài 3 đặc trưng trên, do bản chất của nhà nước XHCN vừa mang bản chất giai cấp công nhân, vừa
có tinh thần nhân dân rộng rải và tính dân tộc sâu sắc, do đó nhà nước XHCN có những đặc trưng riêng.
- Nhà nước XHCN không phải là công cụ đàn áp 1 giai cấp nào đó. Nhà nước thực hiện 1 chính
sách giai cấp vì lợi ích của tất cả những người lao động đồng thời lãnh đạo giai cấp công nhân thông qua chính
đảng của nó.
- Nhà nước XHCN có đặc trưng khác hẳn nhà nước tư sản, cũng là công cụ chuyên chính giai cấp
nhưng vì lợi ích của tất cả người lao động. Tất cả giai cấp công nhân nhà nước chuyên chính vô sản thực hiện
chấn áp đối với những kẻ phá hoại nhà nước xã hội chủ nghĩa.
- Trong khi nhấn mạnh sự cần thiết của bạo lực và chấn áp, C.Mác khẳng định xây dựng xã hội là
đặc trưng cơ bản của nhà nước XHCN.
- Nhà nước XHCN nằm trong nền dân chủ XHCN, do đó nó ngày càng được hoàn thiện, các hình
thức đại diện nhân dân mở rộng dân chủ nhằm lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý
xã hội.
- Nhà nước XHCN là 1 kiểu nhà nước đặc biệt, là “nữa nhà nước”.
* Chức năng:
- Chức năng tổ chức thực hiện nhằm xây dựng toàn diện xã hội mới.
- Chức năng bạo lực nhằm đập tan sự phản kháng của kẻ thù, chống lại sự âm mưu của kẻ thù, bảo
vệ độc lập chủ quyền và an ninh xã hội.
Hai chức năng trên, nhà nước XHCN có chính là quản lý kinh tế, xây dựng và phát triển kinh tế, cải
thiện không ngừng đời sống vật chất, tinh thần nhân dân, quản lý văn hóa – xã hội, xây dựng nền văn hóa
Đặng Lê Ngọc Hưng Lớp SH: 08XH
Trong xã hội có giai cấp quyền lực của nhân dân được thể chế hóa bằng chế độ của nhà nước. Pháp
luật từ khi có giai cấp dân chủ được thể hiện dưới hình thức khác, đó là hình thức nhà nước được gọi là chỉnh
thể dân chủ hay “nền dân chủ”. Nền dân chủ hay chế độ dân chủ là hình thái dân chủ mang đủ hình thức nhà
nước, là hình thức xác định trong điều kiện cụ thể của xã hội có giai cấp. Nền dân chủ do giai cấp thống trị tạo
ra được thể chế hóa bằng luật pháp.
Như vậy, xã hội loài người trải qua các nền dân chủ: chủ nô, phong kiến, tư sản, và sau cách mạng
tháng 10 là một nền dân chủ mới ra đời: nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
b.2/ Đặc trưng cơ bản của nền dân chủ XHCN:
- Thứ 1: với tư cách là chế độ nhà nước được sáng tạo bởi quần chúng nhân dân lao động dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng Sản. Dân chủ XHCN đảm bảo mọi quyền lực thuộc về nhân dân, nhà nước XHCN là thiết
chế chủ yếu thực thi dân chủ do giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua chính đảng của nó.
- Thứ 2: nền dân chủ XHCN có cơ sở kinh tế là công hữu và tư liệu sản xuất của XHCN.
- Thứ 3: trên cơ sở sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn XH, nền dân
chủ XHCN có sức động viên thu hút mọi tiềm năng sáng tạo tích cực của nhân dân về xây dựng xã hội mới.
- Thứ 4: nền dân chủ XHCN cần có và phải có những điều kiện tồn tại với tư cách là nền dân chủ rộng
rải nhất trong lịch sử, nhưng vẫn là nền dân chủ mang tính giai cấp.
23/ Xây dựng nền văn hóa XHCN?
1/ Khái niệm nền văn hóa XHCN:
a/ Khái niệm văn hóa, nền văn hóa:
Văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và thực tiễn
trong quá trình lịch sử của mình.
Văn hóa theo nghĩa rộng bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.
- Văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật
chất.
Văn hóa theo nghĩa hẹp được hiểu chủ yếu là văn hóa tinh thần.
- Văn hóa tinh thần là tổng thể các tư tưởng lý luận, giá trị sáng tạo tinh thần và hoạt động tinh thần
con người. Như vậy, nói văn hóa là nói tới con người, là nói việc phát triển bản chất năng lực con người nhằm
hoàn thiện con người, xã hội, do đó văn hóa là trong con người dù trong hoạt động kinh tế chính trị hay trong
tư tưởng.
Khái niệm dân tộc được thể hiện trong 2 nghĩa:
- Theo nghĩa hẹp: đó là một cộng đồng tộc người cùng chung sống trên 1 lãnh thổ, có chung 1 hình thái
kinh tế - xã hội, chung ngôn ngữ, lịch sử - nguồn gốc, nền văn hóa tâm lý, tính cách (thường được gọi là tộc
người – như: dân tộc Thái, dân tộc Tày…)
- Theo nghĩa rộng: đó là một cộng đồng người rộng lớn (có thể bao gồm nhiều tộc người) cùng sinh
sống trong 1 quốc gia, như dân tộc Việt Nam, dân tộc Đức….
Như vậy, dân tộc là một bộ phận quốc gia, là cộng đồng xã hội theo nghĩa là các tộc người. Theo nghĩa 2,
dân tộc là toàn bộ nhân dân 1 nước, là 1 quốc gia dân tộc.
+ Những đặc trưng cơ bản của dân tộc:
- Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế. Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc. Các
mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của
cộng đồng dân tộc.
- Có thể cư trú tập trung trên một vùng lãnh thổ của một quốc gia, hoặc cư trú đan xen với nhiều dân
tộc anh em. Vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ đất nước.
- Có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng (trên cơ sở ngôn ngữ chung của quốc gia) làm công
cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, tình cảm…
- Có nét tâm lý riêng (nét tâm lý dân tộc) biểu hiện kết tinh trong nền văn hóa dân tộc và tạo nên
bản sắc riêng của nền văn hóa dân tộc, gắn bó với nền văn hóa của cả cộng đồng các dân tộc (quốc gia dân
tộc).
Như vậy, cộng đồng người ổn định chỉ trở thành dân tộc khi có đủ các đặc trưng trên, các đặc trưng của dân
tộc là một chỉnh thể gắn bó chặt chẽ với nhau, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định. Sự tổng hợp các
đặc trưng nêu trên làm cho các cộng đồng dân tộc được đề cập ở đây - về thực chất là một cộng đồng xã hội -
tộc người, trong đó những nhân tố tộc người đan kết, hòa quyện vào các nhân tố xã hội.
a.2/ Hai xu hướng phát triển dân tộc:
- Xu hướng thứ nhất: do sự thức tỉnh, sự trưởng thành của ý thức dân tộc mà các cộng đồng dân cư muốn
tách ra để xác lập các cộng đồng dân tộc độc lập.
- Xu hướng thứ hai: các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở nhiều quốc gia muốn liên
hiệp lại với nhau.
a.3/ Giải quyết vấn đề dân tộc:
Dân tộc ra đời trên cơ sở phát triển của những cộng đồng nguyên thủy như thị tộc, bộ lạc…Tuy nhiên, sự
hiện thực, con nguời tìm sự giải thoát trong đời sống tinh thần, họ tìm đến tôn giáo. Trong xã hội có giai cấp,
sự áp bức bóc lột, sự tàn bạo bất công, chiến tranh, đói khổ cũng là nguyên nhân xã hội làm nảy sinh tôn giáo.
- Nguồn gốc nhận thức:
o Con người nhận thức về thế giới bên ngoài và tự nhận thức về chính mình, song khả năng
nhận thức của 1 con người, 1 thế hệ, 1 thời đại là có hạn. Khi không hiểu biết hết các hiện tượng tự nhiên và
xã hội, con người dễ đi đến với tôn giáo.
o Trong xã hội hiện đại còn biết bao điều bí ẩn đối với con người, nhiều hiện tượng diễn ra
nhưng con người chưa lý giải nỗi. Đó chính là điều kiện thuận lợi cho sự phục hồi, tái tạo và nảy sinh ý thức
tôn giáo.
- Nguồn gốc tâm lý của tôn giáo:
o Những trạng thái tâm lý mang tính tiêu cực như: cô đơn, bất hạnh, đau khổ, nỗi kinh hoàng
sợ hãi, sự chán chường dễ dẫn con người đến với tôn giáo.
o Những trạng thái tâm lý tích cực như sự hân hoan, vui sướng, mãn nguyện, sự thăng hoa,
lòng kính trọng, tự hào….1 cách thái quá đôi khi cũng có thể là 1 trong những nguyên nhân dẫn con người đến
với tôn giáo.
o Ngoài ra, các yếu tố như thói quen, truyền thống, phong tục tập quán cũng là những
nguyên nhân tâm lý dẫn đến sự hình thành và phát triển tình cảm và niềm tin của tôn giáo.
+ Bản chất của tôn giáo:
- Tôn giáo mang bản chất xã hội, tôn giáo không phải là cái tự có mà là sản phẩm của con người xã
hội, cũng tức là phương thức tồn tại của con người. Tôn giáo là sự phản ánh xã hội con người vào trong ý thức
của con người. Song sự phản ánh đó chỉ là 1 sự phản ánh phi lý tính, hoang đường, bóp méo hiện thực, để rồi
sau đó lấy cái phi lý, hoang đường làm chuẩn mực để giải thích hoặc chi phối hiện thực của con người. Không
phải con người cá nhân riêng lẻ, mà là con người xã hội đã sinh ra tôn giáo, do đó tôn giáo là 1 hiện tượng xã
hội.
- Tôn giáo về bản chất không phải là sản phẩm của thần thánh, là sản phẩm của siêu nhiên, thần bí
mà là sản phẩm của xã hội. Tôn giáo là 1 hiện tượng lịch sử, 1 sản phẩm của thời đại lịch sử nhất định. Các
mác cho rằng: “không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà chính con người sáng tạo ra tôn giáo”.
+ Tính chất của tôn giáo:
- Tính lịch sử: tôn giáo là 1 phạm trù lịch sử, vì tôn giáo không xuất hiện cùng với con người mà nó
chỉ xuất hiện trong tư duy trừu tượng của con người, tôn giáo là sản phẩm của lịch sử. Trong từng thời kì lịch