CÂU 3: Trình bày khái quát những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật. Vai trò
của nó đối với nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng hiện nay?
1) Khái niệm phép biện chứng (PBC) và phép biện chứng duy vật (PBCDV)
Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biến chứng của thế giới thành hệ thống
các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của
nhận thức và thực tiễn. Với nghĩa như vậy, phép biện chứng thuộc về biện chứng chủ quan, đồng
thời nó cũng đối lập với phép siêu hình - phương pháp tư duy về sự vật, hiện tượng của thế giới
trong trạng thái cô lập và bất biến
Định nghĩa khái quát về phép biện chứng duy vật, Ph.Ăngghen cho rằng: "Phép biện chứng
duy vật là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên,
của xã hội loài người và của tư duy".
2) Khái quát những nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật:
a) Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật.
- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
Trong phép biện chứng duy vật, mối liên hệ phổ biến dùng để khái quát mối liên hệ sự tác động
qua lại chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng hay giữa các mặt các giai đoạn phát triển của
một sự vật hiện tượng. Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới theo
đó các sự vật hiện tượng trong thế giới dù có đa dạng có khác nhau đến thế nào đi chăng nữa thì
cũng chỉ là những dạng cụ thể khác nhau của một thế giới vật chất duy nhất.
Các mối liên hệ có tính khách quan phổ biến và đa dạng chúng giữ vai trò khác nhau quy định sự
vận động phát triển của sự vật hiện tượng. Trong hoạt động thực tiễn và nhận thức không nên tuyệt
đối hóa mối liên hệ nào và cũng không nên tách rời mối liên hệ này khỏi các mối liên hệ khác bởi
trên thực tế các mối liên hệ còn phải được nghiên cứu cụ thể trogn sự biến đổi và phát triển của
chúng
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biển khái quát bức trnah toàn cảnh về thế giới trong những mối
liên hệ chằng chịt giữa các sự vật hiện tượng của nó. Tính vô hạn của thế giới khách quan tính có
hạn của sự vật hiện tượng trogn thế giới đó chỉ có thể giải thích được trong mối liên hệ phổ biến và
được quy định bằng nhiều mối liên hệ có hình thức vai trò khác nhau. Từ nguyên lý về mối liên hệ
phổ biến con người rút ra được những quan điểm nguyên tắc chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt
động thực tiễn.
- Nguyên lý về sự phát triển:
hệ với những cái riêng thuộc loại khác”
nguyên nhân và kết quả
Nhận thức về sự tác động qua lại tương tác giữa các mặt các yếu tố, hoặc giữa các sự vật hiện
tượng với nhau dẫn đến sự xuất hiện ra mối liên hệ nhân quả. Nguyên nhân là sự tương tác qua lại
giữa các mặt trong một sự vật hiện tượng hoặc giữa các sự vật hiện tượng với nhau gây nên những
biến đổi nhất đinh. Kết quả là những biến đổi xuất hiện do sự tương tác qua lại giữa các mặt trong
một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật hiện tượng với nhau.
Giữa nguyên nhân kết quả có mối liên hệ qua lại quy định lẫn nhau. Nguyên nhân là cái sinh
ra kết quả nên luôn có trước kết quả, sau khi xuất hiện kết quả có ảnh hưởng tích cực trở lại đối với
nguyên nhân. Sự phân biệt nguyên nhân kết quả có tính tương đối. Một sự vật hiện tượng trong mối
quan hệ này là nguyên nhân, nhưng lại là kết quả ở trong mối quan hệ khác và ngược lại tạo nên
chuỗi nhân quả vô tận.
Do vậy nguyên nhân kết quả bao giờ cũng ở trong mối quan hệ cụ thể.
Tất nhiên và ngẫu nhiên
Trong khi phản ánh hiện thực khách quan con người nhận thức được tính không một nghĩa
không cùng một giá trị của các mối liên hệ khác nhau của sự vật hiện tượng nên phân chia chúng
thành nhóm các mối liên hệ nhất định phải xảy ra đúng như thế và nhóm các mối liên hệ có thể xảy
ra thế này hay thế khác. Tất nhiên do mối liên hệ bản chất do những nguyên nhân cơ bản bên trong
của sự vật hiện tượng quy định và trong những điều kiện nhất định phải xảy ra đúng như thế chứ ko
thể khác được. Ngẫu nhiên do mối liên hệ không bản chất, do những nguyên nhân, hoàn cảnh bên
ngoài quy định, có thể xuất hiện có thể không xuất hiện có thể xuất hiện thế này hoặc có thể xuất
hiện thế khác.
Giữa tất nhiên và ngẫu nhiên có mối liên hệ biện chứng với nhau. Tất nhiên bao giờ cũng
vạch đường đi cho mình thoogn qua vô số ngẫu nhiên, còn ngẫu nhiên là hình thức biểu hiện của tất
nhiên, bổ sung cho tất nhiên. Tất nhiên đóng vai trò chi phối sự phát triển còn ngẫu nhiên chỉ có thể
làm cho sự phát triển diễn ra nhanh hoặc chậm, trong hình thức này hay hình thức khác. Sự phân
biệt tất nhiên ngẫu nhiên có tính tương đối, trong những điều kiện nhất đinh, chúng chuyển hóa lẫn
nhau.
Nội dung và hình thức
Việc nhận thức nội dung và hình thức gắn liền với việc nghiên cứu các yếu tố quy định sự tồn
tại thực sự.
Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình vận động
phát triển của sự vật. Trong hiện thực bao giờ cũng chứa đựng những khả năng nhất định, ngược lại
khả năng lại nằm trong hiện thực và khi đủ điều kiện sẽ biến thành hiện thực mới. Mối quan hệ giữa
khả năng và hiện thực diễn ra rất phức tạp. Trong từng giai đoạn phát triển của sự vật thường xuất
hiện nhiều khả năng. Khả năng nào biến thành hiện thực là tùy thuộc vào điều kiện cụ thể. Trong
hoạt động thực tiễn phải dự báo các khả năng và tạo điều kiện cho khả năng tốt thành hiện thực và
ngăn ngừa khả năng xấu.
Các cặp phạm trù của phép biện chứng duy vật không phải là hệ thống bất biến, mà phát triển
cùng với sự phát triển của khoa học và thực tiễn. Mối quan hệ giữa các phạm trù của các ngành khoa
học với các phạm trù cần liên hệ chúng với nhau và với các quy luật cơ bản của phép biện chứng
duy vật bởi dù quan trọng đến mấy chỉ riêng các phạm trù hoặc các quy luật cơ bản của phép biện
chứng duy vật cũng không phản ánh đầy đủ các mối liên hệ của thế giới.
c) Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến những sự thay đổi về chất và
ngược lại :
Chỉ ra cách thức vận động và phát triển của sự vật hiện tượng. Trong đó chất là tính quy định
khách quan vốn có của sự vật hiện tượng. Trong đó, chất là tính quy định khách quan vốn có của sự
vật là sự thống nhất hữu cơ giữa các thuộc tính làm cho nó là nó mà không phải cái khác. Lượng là
tính quy định vốn có của sự vận động, phát triển của sự vật cũng như các thuộc tính của nó. Mỗi sự
vật đều là sự thống nhất giữa chất và lượng. Giới hạn trong đó những thay đổi căn bản về chất được
gọi là độ. Những thay đổi về lượng vượt quá giới hạn độ sẽ làm cho chất của sự vật biến căn bản.
Điểm mà tại đó sự thay đổi căn bản về chất được thực hiện gọi là điểm nút. Bước nhảy là bước thay
đổi căn bản về chất của sự vật do sự thay đổi căn bản về chất của sự vạt do sự tahy đổi về lượng
trước đó gây ra. Mối quan hệ giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất còn có chiều ngược
lại. Đến lượt nó, sự thay đổi về chất lại tác động đến lượng thúc đẩy lượng tiếp tục phát triển.
Nắm được nội dung quy luật này sẽ tránh nôn nóng đốt cháy giai đoạn tích lũy về lượng
không kịp thời chuyển những thay đổi về lượng sang những thay đổi về chất từ những thay đổi
mang tính tiến hóa sang những thay đổi mang tính cách mạng và ngược lại không biết sử dụng chất
mới để thúc đẩy lượng tiếp tục phát triển.
ko bản chất thành bản chất….
- Trong nhận thức, quan điểm toàn diện cho phép tính đến mọi khả năng của vận động, phát triển có
thể có của sự vật, hiện tượng đang nghiên cứu. Hơn nữa, quan điểm toán diện còn đòi hỏi để nhận
thức được sự vật hiện tượng chúng ta cần xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của
con người.
- Quan điểm toàn diện đối lập với cách nhìn phiến diện 1 chiều; đối lập với chủ nghĩa triết chung và
thuật ngụy biện. Cả chủ nghĩa triết chung và thuật ngụy biện đều là những biểu hiện của phương
pháp luận sai lầm trong việc xem xét các sự vật hiện tượng.
- Từ quan điểm toàn diện trong nhận thức, chúng ta rút ra cách nhìn đồng bộ trong hoạt động thực
tiễn. Theo đó, muốn cải tạo sự vật, hiện tượng phải áp dụng đồng bộ một hệ thống các biện pháp,
các phương tiện khác nhau để tác động làm thay đổi các mặt, các mối liên hệ tương ứng của sự vật
và hiện tượng. Song trong từng bước, từng giai đoạn phải nắm đúng khâu trọng tâm, then chốt để
tập trung lực lượng giải quyết.
b) Quan điểm phát triển trong nhận thức và thực tiễn.
- Cơ sở lý luận của quan điểm phát triển là nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vật.
Theo đó, phát triển là sự vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn
thiện đến hoàn thiện hơn. Phát triển là một trường hợp đặc biệt của sự vận động và trong sự phát
triển sẽ nảy sinh những tính quy định mới, cao hơn về chất. làm cho cơ cấu tổ chức, phương thức
tồn tại và vận động của sự vật hiện tượng cùng chức năng của nó ngày càng hoàn thiện hơn.
- Để nhận thức được sự tự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, chúng ta phải thấy được sự
thống nhất giữa sự biến đổi về lượng đối với sự biến đổi về chất trong quá trình phát triển; phải chỉ
ra được nguồn gốc và động lực bên trong; phải xác định được xu hướng phát triển của sự vật, hiện
tượng do sự phủ định biện chứng quy định;
- Quan điểm phát triển yêu cầu, khi xem xét sự vật hiện tượng phải đặt nó trong trạng thái vận động,
biến đổi, chuyển hóa để ko chỉ nhận thức sự vật hiện tượng trong trạng thái hiện tại, mà còn phải
thấy được khuynh hướng phát triển của nó trong tương lai.
- Quan điểm phát triển yêu cầu phải nhận thức sự phát triển là quá trình trải qua nhiều giai đoạn, từ
thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.Mỗi giai đoạn phát
triển lại có những đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau; bởi vậy phải có sự phân tích cụ thể để
tìm ra những hình thức tác động phù hợp hoặc để thúc đẩy, hoặc để hạn chế sự phát triển đó.