TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA LUẬT
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP
LUẬT HIẾN PHÁP
I. KHÁI NIỆM LUẬT HIẾN PHÁP
Luật Hiến pháp được hiểu là ngành luật hiến pháp, là
một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm tổng thể các quy
phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhất,
quan trọng nhất.
Các quan hệ xã hội được coi là quan trọng nhất có nội
dung xác định các chế độ xã hội, xác định quyền và nghĩa vụ
của con người, xác định việc tổ chức bộ máy nhà nước. Ngành
luật hiến pháp chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhất
trong số các quan hệ quan trọng nhất nêu trên.
Ở Việt Nam, pháp luật tồn tại chủ yếu dưới hình thức
văn bản. Vì vậy, các quy phạm pháp luật cấu tạo nên ngành luật
hiến pháp được biểu hiện thông qua rất nhiều văn bản quy
phạm pháp luật khác nhau. Trong số các văn bản ấy, Hiến pháp
là một văn bản quan trọng, thể hiện tập trung những quy phạm
cơ bản nhất của ngành luật hiến pháp.
II. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HIẾN PHÁP
1. Khái niệm Hiến pháp
Theo quan niệm hiện đại, Hiến pháp là một đạo luật cơ
bản, quan trọng của mỗi quốc gia, có nội dung xác định chế độ
xã hội, xác định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân,
cách mạng tư sản ở nước Anh (1640-1654) là đạo luật năm
1653 về "Hình thức cai quản Nhà nước Anh, Xcốtlen, Ailen và
những địa phận thuộc chúng" . Tuy nhiên, phải sau khi có Hiến
pháp Hoa Kỳ năm 1787 và Hoa Kỳ trở thành một nước siêu
cường, phong trào lập Hiến lan rộng, nhiều nước tìm cách xây
dựng cho mình một bản Hiến pháp. Hiện nay, trên thế giới có
khoảng 190 nước có Hiến pháp và sự hiện diện của Hiến pháp
3
được xem là dấu hiệu pháp lý không thể thiếu của một Nhà
nước dân chủ hiện đại.
3. Bản chất của Hiến pháp
Hiến pháp, với tư cách là một đạo luật cơ bản, luật gốc
của Nhà nước, vì vậy nó mang đầy đủ bản chất của pháp luật
nói chung, đó là bản chất giai cấp và bản chất xã hội. Bản chất
giai cấp được thể hiện: Hiến pháp là sự thể hiện ý chí của giai
cấp thống trị, là công cụ để bảo vệ địa vị và quyền lợi của giai
cấp thống trị. Bản chất xã hội của Hiến pháp được thể hiện:
Hiến pháp là tổng hợp của các quy tắc xử sự cơ bản nhất, quan
trọng nhất góp phần bảo vệ những lợi ích chung của cả quốc
gia, dân tộc và toàn xã hội, là công cụ để duy trì và thiết lập trật
tự, ổn định của xã hội. Tính giai cấp và tính xã hội của Hiến
pháp được thể hiện khác nhau đối với từng quốc gia, từng giai
đoạn lịch sử.
Hiến pháp còn thể hiện là đạo luật cơ bản, luật gốc của
Nhà nước. Các quy định của Hiến pháp trở thành những
nguyên tắc tối cao trong hệ thống pháp luật quốc gia. Xuất phát
từ những nguyên tắc cơ bản trong Hiến pháp, nhiều văn bản
chống lại quyền lực vô hạn của vua, chúa phong kiến. Ở những
nơi cuộc cách mạng tư sản hoàn toàn thắng lợi, Hiến pháp được
ban hành để xóa bỏ quyền lực của nhà vua, thiết lập một chính
thể cộng hòa. Ở những nơi cuộc cách mạng tư sản không hoàn
toàn thắng lợi, Hiến pháp ra đời là cơ sở để hạn chế quyền lực
của nhà vua, thiết lập chính thể quân chủ lập hiến.
Hiến pháp tư sản trong thời kỳ đầu mang giá trị tích
cực. Ngoài việc bảo vệ quyền lợi cho giai cấp tư sản, các tầng
lớp, giai cấp khác cũng được hưởng quyền lợi tốt hơn so với
thời kỳ phong kiến trước đây.
Khi giai cấp công nhân trong xã hội đã phát triển cả về
chất và lượng, trở thành giai cấp đối trọng với giai cấp tư sản.
Khi ấy, Hiến pháp là sản phẩm của nhà nước tư sản lại được sử
5
dụng để chống lại giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Hiến pháp trong giai đoạn này, tuy có quy định các quyền công
dân nhưng mang tính chất hình thức và phản dân chủ. Bản chất
của Hiến pháp chỉ bảo vệ quyền lợi cho giai cấp tư sản - lực
lượng chiếm thiểu số trong xã hội, Hiến pháp không đứng về số
đông dân chúng.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, với thắng lợi của
Xôviết, các nhà nước XHCN được hình thành và trở thành một
hệ thống đối trọng với các nước TBCN. Trước sự đấu tranh
mạnh mẽ của giai cấp công nhân và dân chúng lao động, cùng
với sự nhận thức của dân chúng được tăng cường. Để tập hợp
lực lượng và để nhận được sự ủng hộ của dân chúng, giai cấp tư
sản cũng đã phải ghi nhận và thực hiện đầy đủ hơn các quyền
thay đổi, trở thành các bản Hiến pháp tư sản. Hiến pháp XHCN
hiện chỉ còn áp dụng tại một số rất ít quốc gia, trong đó có Việt
Nam. Các nước XHCH để tồn tại phải có những điều chỉnh rất
nhiều về nội dung của Hiến pháp.
5. Phân loại Hiến pháp
5.1. Theo hình thức biểu hiện
Hiến pháp thành văn là Hiến pháp được biểu hiện dưới
hình thức văn bản. Thông thường là một văn bản, trong trường
hợp đặc biệt, Hiến pháp được thể hiện dưới hình thức nhiều văn
bản. Ví dụ như Hiến pháp Thụy Điển được biểu hiện thông qua
các đạo luật: Luật về chính thể (1809), Luật về kế vị ngôi vua
(1810), Luật về nghị viện (1810), Luật về tự do báo chí (1812).
Hiến pháp thành văn là một đạo luật cơ bản, quan trọng nhất
của quốc gia, hiện nay đa số các quốc gia sử dụng Hiến pháp
thành văn.
Hiến pháp không thành văn là Hiến pháp không được
thể hiện dưới hình thức văn bản cụ thể. Hiến pháp không thành
văn được thể hiện thông qua các quy phạm pháp luật, các quy
tắc trong phong tục, tập quán, truyền thống, án lệ. Hiện nay chỉ
có một số ít quốc gia sử dụng Hiến pháp không thành văn, như:
7
Anh, Niudilan, Isaren, Libia. Hiến pháp không thành văn không
mang tính long trọng như Hiến pháp thành văn, tuy vậy lại
thuận tiện trong thủ tục thông qua và sửa đổi.
5.2. Phân loại Hiến pháp theo nội dung
Hiến pháp cổ điển là Hiến pháp có nội dung chủ yếu
quy định về tổ chức quyền lực nhà nước, ít có những quy định
số đặc trưng: (1) Về chế độ xã hội: không có quy định rõ về
tính giai cấp, bảo vệ chế độ tư hữu; (2) Về quyền và nghĩa vụ
của công dân: Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, các quyền tự
do, dân chủ đã được ghi nhận nhiều hơn; (3) Về tổ chức quyền
lực nhà nước: áp dụng thuyết phân quyền.
Hiến pháp XHCN là Hiến pháp được ban hành trong
nhà nước XHCN, với bản chất là ý chí của nhân dân lao động,
bảo vệ các quyền, lợi ích của nhân dân lao động. Hiến pháp
XHCN có một số đặc trưng sau: (1) Về chế độ xã hội: quy định
rõ tính giai cấp, ghi nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản,
bảo vệ cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa;(2) Về quyền và nghĩa vụ
của công dân: quy định nhiều quyền tự do, dân chủ và các
quyền công dân khác; (3) Về tổ chức quyền lực nhà nước: áp
dụng nguyên tắc tập quyền ở những mức độ khác nhau.
II. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HIẾN PHÁP VIỆT NAM
1. Hiến pháp Việt Nam
Hiến pháp Việt Nam là văn bản có giá trị pháp lý cao
nhất do Quốc hội ban hành, có nội dung điều chỉnh những quan
hệ xã hội cơ bản nhất, quan trọng nhất của xã hội. Đó là các
quan hệ xã hội mang nội dung xác định chế độ xã hội, quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức bộ máy nhà nước.
Hiến pháp Việt Nam theo bản chất là Hiến pháp xã hội
chủ nghĩa, theo hình thức là Hiến pháp thành văn, theo nội
dung là Hiến pháp có nội dung hiện đại, theo thủ tục xây dựng
và thông qua là Hiến pháp cương tính.
2. Lịch sử phát triển của Hiến pháp Việt Nam
9
10
giành lại chủ quyền ở miền Bắc, miền Nam tiếp tục cuộc kháng
chiến chống Mỹ. Miền Bắc sau khi chúng ta tiếp quản, việc xây
dựng đất nước hoàn toàn do chúng ta tự quyết. Bởi lẽ, lực
lượng cách mạng đã mạnh, các Đảng phái khác không còn tồn
tại, các thế lực thù địch hoạt động lén lút không đáng kể. Chính
vì điều đó, chúng ta đã lựa chọn xây dựng nhà nước XHCN
theo mô hình của Xô Viết, mô hình tiêu biểu của hệ thống
XHCN lúc bấy giờ.. Tuy Hiến pháp 1959 đã mang nhiều nội
dung áp dụng theo mô hình của Xô Viết, nhưng chưa áp dụng
triệt dập khuôn máy móc như Hiến pháp 1980 sau này.
Hiến pháp 1980 là bản Hiến pháp thứ ba của Nhà nước
ta. Hiến pháp 1980 được xây dựng trong bối cảnh trên thế giới
hệ thống các nước XHCN đang phát triển rực rỡ. Chiến thắng
mùa xuân năm 1975 ở nước ta là chiến thắng chung của hệ
thống các nước XHCN trước hệ thống các nước tư sản. Chiến
thắng làm xuất hiện tư tưởng chủ quan, ngộ nhận về khả năng
của những người cách mạng Việt Nam. Cho rằng đánh thắng
được Mỹ thì việc gì cũng có thể làm được. Cho rằng, việc xây
dựng CHXN cũng nhanh chóng đạt được, nếu làm đúng cách.
Chính vì vậy, Hiến pháp 1980 đã đề ra quan điểm thực hiện
cuộc cách mạng triệt để, áp dụng rập khuôn, máy móc theo mô
hình XHCN ở Xô Viết.
Hiến pháp 1992 là bản Hiến pháp thứ tư của Nhà nước
ta, được ban hành trong bối cảnh trên thế giới nhà nước CHXN
ở Xô viết và đông Âu sụp đổ và quay lại áp dụng kiểu nhà nước
tư sản. Sau thời gian dài áp dụng mô hình kinh tế bao cấp, rập
1. Chế độ chính trị theo Hiến pháp 1946
Hiến pháp 1946 khẳng định Nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hoà là nhà nước do nhân dân lập ra. Hình thức chính
thể cộng hoà, hình thức cấu trúc là nhà nước đơn nhất. Tất cả
quyền bính trong nước thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện
quyền quyết định những việc quan trọng nhất của đất nước,
những công việc khác được trao cho Nghị viện nhân dân và Hội
12
đồng nhân dân là cơ quan đại diện của nhân dân quyết định.
Hiến pháp chưa quy định việc áp dụng một Đảng duy nhất
trong hệ thống chính trị.
2. Chế độ chính trị theo Hiến pháp 1959
Hiến pháp 1959 khẳng định Nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa là nhà nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, áp dụng
hình thức chính thể cộng hòa, hình thức cấu trúc nhà nước là
đơn nhất. Nhà nước do nhân dân lập ra. Nhân dân sử dụng
quyền lực thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp.
Tuy nhiên, từ thời kỳ này Quốc hội có quyền lập Hiến và tự
quyết định những công việc quan trọng nhất của đất nước. Hiến
pháp khẳng định trong lời nói đầu: "nhà nước ta là nhà nước
do giai cấp công nhân lãnh đạo".
3. Chế độ chính trị theo Hiến pháp 1980
Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định nhà nước
Cộng hoà XHCN Việt Nam do nhân dân lập ra, hình thức chính
thể là cộng hoà XHCN, hình thức cấu trúc là nhà nước đơn
nhất, khẳng định nhà nước ta là nhà nước chuyên chính vô sản.
Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân sử dụng
nước thành lập đến nay.
5. Chế độ chính trị theo Hiến pháp 2013
Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định Nhà nước Cộng
hòa XHCN Việt Nam áp dụng hình thức chính thể cộng hòa,
hình thức cấu trúc đơn nhất. Hiến pháp 2013 nhấn mạnh vai trò
là chủ đất nước của Nhân dân. Nhà nước Cộng hòa XHCN là
nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nhà nước
do Nhân dân lập ra, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân
dân. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng hình
thức trực tiếp và gián tiếp thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân
dân và các cơ quan khác của nhà nước. Các cơ quan nhà nước,
cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy
phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý
kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân. Các Đại biểu Quốc hội,
14
Đại biểu Hội đồng nhân dân có thể bị bãi nhiệm khi không còn
sự tín nhiệm của Nhân dân.
Hiến pháp 2013 quy định rõ về hệ thống chính trị và các
bộ phận cấu thành. Trong hệ thống chính trị của nước ta: Đảng
Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo; Nhà nước Cộng hoà
xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là trung tâm thực hiện quyền lực;
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội
thành viên đóng vai trò hỗ trợ, phối hợp với các cơ quan nhà
nước khi thực hiện quyền lực.
IV. CHẾ ĐỘ KINH TẾ
Chế độ kinh tế, với tư cách là một chế định của ngành
luật Hiến pháp, là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh
Mục đích của phát triển kinh tế là không ngừng phát
triển sức sản xuất nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hoá
của nhân dân. Để đạt được mục đích đó, Hiến pháp 1959 xác
định phương hướng phát triển kinh tế là tiến dần từ chế độ dân
chủ nhân dân lên CNXH bằng cách phát triển và cải tạo nền
kinh tế quốc dân theo CNXH, biến nền kinh tế lạc hậu thành
một nền kinh tế XHCN với công nghiệp và nông nghiệp hiện
đại, khoa học kỹ thuật tiên tiến.
Về các hình thức sở hữu đối với tư liệu sản xuất, Hiến
pháp 1959 ghi nhận các hình thức sở hữu của nhà nước, tức là
sở hữu toàn dân; sở hữu của hợp tác xã, tức là sở hữu tập thể
của nhân dân lao động; sở hữu của người lao động riêng lẻ; và
sở hữu của nhà tư sản dân tộc.
Trên cơ sở ghi nhận các hình thức sở hữu khác nhau đối
với tư liệu sản xuất nêu trên, các thành phần kinh tế chủ yếu
được xác định là: thành phần kinh tế quốc doanh và thành phần
kinh tế hợp tác xã. Trong đó, thành phần kinh tế quốc doanh
giữ vai trò lãnh đạo trong nền kinh tế quốc dân và được nhà
nước bảo đảm phát triển ưu tiên.
Ngoài hai thành phần cơ bản nói trên, còn có những
người lao động riêng lẻ và các nhà tư sản dân tộc cũng tham gia
16
hoạt động kinh tế. Trong đó, nhà nước khuyến khích và hướng
dẫn các nhà tư sản dân tộc đi theo con đường cải tạo XHCN
bằng hình thức công tư hợp doanh; nhà nước ra sức hướng dẫn
và giúp đỡ những người lao động làm nghề thủ công và những
người lao động triêng lẻ khác cải tiến cách làm ăn và khuyến
quốc dân và được phát triển ưu tiên. Nhà nước khuyến khích,
hướng dẫn và giúp đỡ nông dân cá thể, người làm nghề thủ
công và những người lao dộng riêng lẻ khác tiến lên con đường
làm ăn tập thể, tổ chức hợp tác xã sản xuất và các hình thức
hợp tác, tương trợ khác theo nguyên tắc tự nguyện. Những
người buôn bán nhỏ được hướng dẫn và giúp đỡ chuyển dần
sang sản xuất hoặc những nghề thích hợp khác. Những cơ sở
kinh tế của địa chủ phong kiến và tư sản mại bản đều bị quốc
hữu hoá không bồi thường.
Phương pháp quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế,
Hiến pháp 1980 xác định nhà nước quản lý nền kinh tế quốc
dân theo kế hoạch thống nhất, nhà nước giữ độc quyền về ngoại
thương và mọi quan hệ kinh tế khác đối với nước ngoài.
4. Chế độ kinh tế theo Hiến pháp 1992
Mục đích phát triển kinh tế là làm cho dân giàu, nước
mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần
của nhân dân. Phương hướng phát triển kinh tế là phát triển nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hiến pháp 1992 xác định chế độ sở hữu toàn dân, sở
hữu tập thể, sở hữu tư nhân. Các thành phần kinh tế được ghi
nhận gồm có: thành phần kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể,
kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước,
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, thành phần kinh tế
quốc doanh được củng cố và phát triển, nhất là trong những
ngành, lĩnh vực then chốt, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
quốc dân. Cơ sở kinh tế quốc doanh được quyền tự chủ trong
sản xuất, kinh doanh, bảo đảm sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
18
quy luật thị trường; thực hiện phân công, phân cấp, phân quyền
19
trong quản lý nhà nước; thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, bảo đảm
tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân.
V. CHẾ ĐỘ VĂN HÓA, GIÁO DỤC, KHOA HỌC, CÔNG
NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG
Chế độ văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ với tư
cách là một chế định của ngành luật Hiến pháp, là tổng thể các
quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ cơ bản nhất,
quan trọng nhất về văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ.
Những quan hệ cơ bản nhất, quan trọng nhất này mang các nội
dung như: xác định mục đích, chính sách phát triển về văn hoá,
giáo dục, khoa học, công nghệ của quốc gia; nguyên tắc quản lý
của nhà nước về văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ.
1. Chế độ văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ theo
Hiến pháp 1946
Hiến pháp năm 1946 do điều kiện lịch sử nên chưa có
những quy định riêng và cụ thể về chế độ kinh tế cũng như chế
độ văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ. Trong Hiến pháp
năm 1946 chỉ có đề cập đến việc nền sơ học cưỡng bách và
không học phí. Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu
số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được
Chính phủ giúp. Trường tư được mở tự do và phải dạy theo
chương trình nhà nước. Như vậy, Hiến pháp năm 1946 đã cho
thấy, nhà nước thực hiện việc phổ cập giáo dục ở cấp cơ sở, sự
thống nhất quản lý của nhà nước vê giáo dục, cho phép phát
triển các trường tư thục, có chính sách hỗ trợ đối với giáo dục
dục, khoa học, kỹ thuật thành một chương riêng. Trong đó đã
xác định rõ mục đích, chính sách phát triển cũng như những
nguyên tắc quản lý nhà nước về văn hoá, giáo dục, khoa học,
kỹ thuật.
Mục đích phát triển văn hoá được xác định là đẩy mạnh
cách mạng tư tưởng và văn hoá, xây dựng nền văn hoá mới có
nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc, có tính đảng và
21
tính nhân dân; xây dựng con người có ý thức làm chủ tập thể,
yêu lao động, quý trọng của công, có văn hoá, có kiến thức
khoa học, kỹ thuật, có sức khoẻ, yêu nước và có tinh thần quốc
tế vô sản.
Mục đích phát triển giáo dục được xác định là nhằm đào
tạo có chất lượng những người lao động xã hội chủ nghĩa và
bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. Để thực hiện được
mục đích đó, nền giáo dục phải không ngừng phát triển và cải
tiến theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với
lao dộng sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội. Sự nghiệp
giáo dục do nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước chăm lo
phát triển cân đối hệ thống giáo dục, hoàn thành thanh toán nạn
mù chữ, tăng cường công tác bổ túc văn hoá, không ngừng
nâng cao trình độ văn hoá và nghề nghiệp của toàn dân.
Mục đích phát triển khoa học, kỹ thuật nhằm phát triển
lực lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy sự nghiệp
công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, nâng cao đời sống nhân dân
và củng cố quốc phòng, xây dựng nền khoa học, kỹ thuật tiến
tiến. Để thực hiện mục đích nêu trên, nhà nước chăm lo việc
mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn
giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng. Nhà nước xác
định việc ưu tiên đầu tư cho giáo dục, ưu tiên phát triển giáo
dục ở miền núi, các vùng dân tộc thiểu số và các vùng đặc biệt
khó khăn.
Khoa học và công nghệ được xác định đóng vai trò then
chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Mục đích phát triển khoa học, công nghệ nhằm phát triển lực
lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý, bảo đảm chất lượng
và tốc độ phát triển của nền kinh tế; góp phần bảo đảm quốc
phòng, an ninh quốc gia. Nhà nước có những chính sách đầu tư
và khuyến khích tài để phát triển khoa học, công nghệ.
5. Chế độ văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, xã hội và
môi trường theo Hiến pháp 2013
23
Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu
tinh hoa văn hóa nhân loại. Nhà nước, xã hội phát triển văn
học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và
lành mạnh của Nhân dân; phát triển các phương tiện thông tin
đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của Nhân dân, phục
vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhà nước, xã hội
tạo môi trường xây dựng gia đình Việt Nam ấm no, tiến bộ,
hạnh phúc; xây dựng con người Việt Nam có sức khỏe, văn
hóa, giàu lòng yêu nước, có tinh thần đoàn kết, ý thức làm chủ,
trách nhiệm công dân.
Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng
chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc
thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nhà nước, xã hội và gia đình
có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em,
thực hiện kế hoạch hóa gia đình; (3) Nhà nước, xã hội tôn vinh,
khen thưởng, thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công
với nước. Nhà nước tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ
hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội, có
chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật, người
nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác. Nhà nước có
chính sách phát triển nhà ở, tạo điều kiện để mọi người có chỗ
ở.
Về môi trường, đây là quy định mới trong Hiến pháp
2013. Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử
dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo
tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên
tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nhà nước khuyến khích mọi
hoạt động bảo vệ môi trường, phát triển, sử dụng năng lượng
mới, năng lượng tái tạo. Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi
trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa
25