LUẬN văn THẠC sĩ xây DỰNG cơ cấu KINH tế mới và VAI TRÒ của nó đối với CỦNG cố QUỐC PHÒNG TRONG THỜI kỳ QUÁ độ lên CHỦ NGHĨA xã hội ở VIỆT NAM - Pdf 39

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thế giới ngày nay một đất nước muốn đạt tới sự phát triển phồn vinh,
tiến bộ và văn minh phải tạo lập được một cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lý, phù
hợp với điều kiện và đặc điểm riêng của mình.
Đối với nước ta trước khi có công cuộc đổi mới, mặc dù đã trải qua một
thời gian khá dài tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa song do những sai
lầm, khuyết điểm trong tư duy công nghiệp hóa, trong bố trí cơ cấu kinh tế và cơ
cấu đầu tư nền kinh tế vẫn trong tình trạng lạc hậu, rời rạc, mất cân đối và trì trệ.
Việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một nội dung quan trọng của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta trong suốt cả thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội. Sự chuyển dịch đó nhằm từng bước xây dựng một cơ cấu kinh tế
theo hướng hiện đại và năng động phù hợp với mục tiêu xã hội chủ nghĩa, với yêu
cầu của cách mạng khoa học - công nghệ và phát triển nền kinh tế hàng hóa vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, với sự tham gia tích cực,
chủ động vào quá trình hợp tác và phân công lao động quốc tế.
Những thành tựu đáng khích lệ và sự phát triển theo khuynh hướng tiến bộ
của các nghành kinh tế nước ta trong công cuộc đổi mới đã chứng minh đúng đắn,
khoa học của chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế trong đường lối của Đảng. Tuy nhiên còn nhiều vấn đề lý luận của quá trình đó
cần được luận giải và tiếp tục làm sáng tỏ. Đặc biệt quá trình xây dựng cơ cấu kinh
tế mới có vai trò rất to lớn trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự
nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, trong đó quân đội nhân dân Việt Nam có vai trò
tích cực và phải đựơc coi là lực lượng quan trọng của quá trình thực hiện sự nghiệp
đó với những ý nghĩa trên tác giả xác định tên gọi của luận án là " Xây dựng cơ cấu
kinh tế mới và vai trò của nó đối với củng cố quốc phòng trong thới kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam".
2. Mục đích và nhiệm vụ của luận án.





khía cạnh khác của vấn đề ở các mức độ khác nhau. Trong đó những công trình liên
quan trực tiếp tới phần lý luận và thực tiễn Việt Nam của đề tài phải kể đến:
a.
"Xây dựng cơ cấu kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta" - tác giả
tập thể, do Viện kinh tế học, ủy ban khoa học xã hội Việt Nam xuất bản 1986.
b.
"Cơ cấu công nông nghiệp hơp lý" - Tác giả tập thể, Nxb Thông tin
lý luận 1986.
c.
"Sự hình thành cơ cấu kinh tế trong chặng đường đầu của thời kỳ quá
độ" - của tác giả Trần Ngọc Hiên, Nxb Sự thật, Hà Nội 1987.
d.
"Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa nền kinh
tế quốc dân- Giáo sư tiến sĩ Ngô Đình Giao chủ biên, Nxb chính trị quốc gia, Hà
Nội 1994.
Những công trình trên chủ yếu nghiên cứu trên lĩnh vực kinh tế-xã hội. Mối
quan hệ giữa xây dựng cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
với quốc phòng, xây dựng quân đội chưa có công trình nghiên cứu, lý giải, thuyết
minh và đề cập đến vấn đề một cách có hệ thống. Bản thân luận án này cũng không
có khả năng đề cập vấn đề một cách toàn diện, tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu cơ
cấu kinh tế công nông nghiệp - dịch vụ trong chặng đường đầu của thời kỳ quá độ ở
Việt Nam. Trên cơ sở tiếp thu, có chọn lọc những thành tựu trên, vận dụng tư duy
kinh tế mới, luận án tiếp tục làm rõ thêm về lý luận và thực tiễn của việc xây dựng
cơ cấu kinh tế mới. Đề cập đến một số vấn đề cơ bản sự tác động của cơ cấu kinh tế
mới đối với quốc phòng, quân đội, đồng thời phân tích vai trò của quân đội đối với
việc xây dựng cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
5. Đóng góp mới của luận án
- Trên cơ sở nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nhân loại,

xuất mở rộng của nền kinh tế. Cờu trúc bên trong của nền kinh tế thường được thể
hiện thông qua các mối quan hệ kinh tế. Quan hệ này không chỉ là quan hệ tỷ lệ
mang tính chất số lượng mà còn mang tính chất chất lượng. Trong khi phân tích
quá trình phân công lao động nói chung Các Mác hiểu cơ cấu ở cả hai mặt chất và
lượng của nó. Theo Mác đó là: "Sự phân chia về chất lượng và một tỷ lệ về số
lượng của những quá trĩnh xã hội"(1). Tính thống nhất giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất trong khái niệm cơ cấu kinh tế cũng được C.Mác chỉ ra một lần
nữa khi Người khẳng định rằng: "Do tổ chức quá trình lao động và phát triển kỹ
thuật một cách mạnh mẽ cho nên làm đảo lộn kết cấu kinh tế của xã hội"(2). Như


vậy, cơ cấu kinh tế hể hiện những mối quan hệ về quan hệ sản xuất và lực lượng
sản xuất của nền kinh tế. Mối quan hệ kinh tế đó không chỉ là những mối quan hệ
riêng lẻ từng bộ phận kinh tế, mà là những mối quan hệ tổng thể của các bộ phận
cấu thành nền kinh tế, bao gồm các lĩnh vực (sản xuất, phân phối, trao đổi,k tiêu
dùng); các ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giao
thông vận tải…); các thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, tư nhân, các vùng
kinh tế).
Các quan hệ kinh tế trên đây không chỉ là quan hệ tỷ lệ về số lượng (như cơ
cấu công nghiệp nặng, cơ cấu công nghiệp nhẹ, cơ cấu diện tích trồng trọt, cơ cấu
lao động…) mà còn là quan hệ về chất (như năng suất, chất lượng sản phẩm, lợi
nhuận…).
Cơ cấu kinh tế bao giờ cũng ở trong những điều kiện không gian và thời gian
nhất định, trong điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội nhất định, thích hợp với điều
kiện mỗi nước, mỗi vùng, mỗi doanh nghiệp.
Cơ cấu kinh tế là một phạm trù lao động, do đó phải có những chuyển dịch
cần thiết, thích hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội. Sự duy trì quá lâu hoặc
thay đổi nhanh chóng cơ cấu kinh tế mà không dựa vào những biến đổi của điều
kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội sẽ gây những thiệt hại về kinh tế. Quá trình biến đổi
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hay chậm không phải là mong muốn chủ

Bảy là, tính hiệu quả kinh tế - chính trị -xã hội. Thể hiện sự tối ưu hóa của cơ
cấu kinh tế.
Cơ cấu kinh tế là một phạm trù có nội dung rất phong phú. Tùy theo cách
tiếp cận khác nhau có thể phân định các loại cơ cấu khác nhau:
Cơ cấu các quan hệ sản xuất trong nền kinh tế, cơ cấu này phản ánh mối
quan hệ kinh tế - xã hội giữa con người với con người trong quá trình sản xuất xã
hội, trong đó nổi bật lên hàng đầu là quan hệ sở hữu đối với các tư liệu sản xuất.
Nói một cách khác đó là cơ cấu của nền kinh tế xét theo các thành phần kinh tế - xã
hội hiện hữu. Nó cho biết số lượng, vai trò, xu hướng vận động của các thành phần
có trong nền kinh tế, qua đó ít nhiều có thể thấy được mức độ thống trị của quan hệ
sản xuất chủ đạo trong mỗi bước tiến của phương thức sản xuất đang được hình
thành và phát triển.


Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, song song với các thành phần
kinh tế xã hội chủ nghĩa mới hình thành và ngày càng phát triển, nền kinh tế còn
tồn tại các thành phần kinh tế khác. Vấn đề là làm sao cho quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa được thiết lập ngày càng phát triển và phát huy được tính ưu việt và thực
sự đóng vai trò chủ đạo trong sự nghiệp phát triển kinh tế và định hướng xã hội chủ
nghĩa với các thành phần kinh tế khác.
Cơ cấu vùng lãnh thổ của nền kinh tế phản ánh sự phân công lao động xã
hội về mặt không gian địa lý, tức là trên các địa bàn khác nhau của đát nước. Phân
công lao động theo lãnh thổ đồng thời có nghĩa là bố trí các ngành sản xuất trên
những vùng lãnh thổ khác nhau, để khai thác mọi ưu thế của từng vùng. Mỗi một
vùng nằm trong hệ thống thống nhất và hoàn chỉnh của toàn nền kinh tế, là một hệ
thống bộ phận của sự phân công lao động chung, có phương hướng chuyên môn
hóa đặc thù để tham gia vào sự phân công đó, song cũng lại có tính đồng bộ và cân
đối riêng của các ngành trong nội bộ vùng nhằm tăng cường tính chủ động và linh
hoạt của các đơn vị sản xuất - kinh doanh, đồng thời tự bảo đảm một số nhu cầu
của bản thân vùng.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: là quá trình làm thay đổi cấu trúc và các mối
quan hệ của một nền kinh tế theo một chủ đích và một phương hướng nhất định.
Hiện nay nước ta đang tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ở các địa phương đang tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, khai thác thế mạnh của địa phương,
từng bước phát triển công nghiệp, khoa học và công nghệ nhằm thu được kết quả
và giá trị kinh tế cao nhất.
Ở nước ta hiện nay, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình biến đổi nền
kinh tế chủ yếu ở chỗ là nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế có công nghiệp, nông
nghiệp và dịch vụ hiện đại. Đó là quá trình tăng tốc độ và tỷ trọng của sản xuất
công nghiệp trong nền kinh tế gắn liền với đổi mới căn bản về công nghệ tạo nền
tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao của toàn bộ nền kinh tế quốc dân và
từng bước phát triển nền kinh tế dịch vụ.


Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ có mối
quan hệ qua lại chặt chẽ. Tiến bộ khoa học công nghệ làm cho cơ cấu kinh tế có sự
thay đổi phù hợp, những thay đổi cơ cấu kinh tế lại có tác dụng mở đường cho việc
thực hiện tiến bộ khoa học công nghệ. Việc phát triển ưu tiên một số ngành trọng
điểm ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ và có vai trò quan trọng với việc
tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật như: điện, năng lượng, cơ khí, hóa chất trong thời kỳ
công nghiệp hóa hiện đại hóa là động năng thúc đẩy nhiều ngành kinh tế khác phát
triển vượt bậc, bởi vì nó đã tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động, đồng thời
tạo ra khả năng đổi mới công nghệ sản xuất trong các ngành kinh tế.
Quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi nước - tuân thủ
những tính quy luật chung. Song do những đặc điểm, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội… của mỗi nước, những xu thế thay đổi cơ cấu chung sẽ đựơc biểu hiện qua
hình thái đặc thù của từng giai đoạn phát triển. Vì vậy nói đến vấn đề vận dụng
những tính quy luật chung vào việc xác định chính sách cơ cấu kinh tế của đất nước
cần phân tích những nhân tố ảnh hưởng đối với quá trình hình thành cơ cấu. Có
nhiều nhân tố quy định cơ cấu kinh tế. Từng nhân tố riêng sẽ ảnh hưởng trự tiếp

đất nước và không lợi dụng được chúng, thì sẽ làm mất đi một cơ sở tự có rất cơ
bản.
Trong số những nhân tố kinh tế - xã hội bên trong đất nước ảnh hưởng tới
cơ cấu kinh tế (trứơc tiên tới cơ cấu sản xuất), nhu cầu nổi lên như một nhân tố
hàng đầu. Với tính cách là động cơ bên trong của sản xuất, nhu cầu của con người
quy định các dạng hoạt động lao động, cơ cấu và kết quả những hoạt động đó.
Nhu cầu là một yếu tố mang tính chất chủ quan, song nó bị yếu tố khách
quan quy định. Tác động của nhiều nhân tố kinh tế - xã hội đối với cơ cấu kinh tế
thể hiện gián tiếp qua nhu cầu. Vì vậy song song với việc tính toán, đánh giá chính
xác tác động trực tiếp của các nhân tố kinh tế - chính trị…, cần lưu ý tới tác động
gián tiếp của chúng đối với cơ cấu kinh tế thể hiện qua nhu cầu.


Trình độ phát triển đã đạt được trong kinh tế là một nhân tố ảnh hưởng
mạnh tới sự hình thành cơ cấu của nền kinh tế, tới những bước đi và độ dài của quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trong số những nhân tố bên ngoài tác động đến cơ cấu kinh tế, cần chú ý
một cách thích đáng đến mối quan hệ quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của quốc tế
hóa đời sống kinh tế và phân công lao động đòi hỏi bất cứ nền kinh tế nào cũng đều
phải có sự hội nhập với nền kinh tế thế giới. Trong đó cần phải tính toán tới sự
thích ứng của cơ cấu nền kinh tế trong nước với nền kinh tế thế giới đang phát triển
theo xu hướng toàn cầu hóa để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Như đã nói ở trên, các nhân tố quy định cơ cấu tạo thành một hệ thống
phức tạp, đòi hỏi phải có quan điểm tổng hợp, đồng bộ khi phân tích.
1.1.2. Tính quy luật của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
1.1.2.1. Tổng quan quá trình có tính quy luật chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trong lịch sử.
Sự hình thành và phát triển của cơ cấu các ngành kinh tế về thực chất là quá
trình phân công lại lao động xã hội trên cơ sở phát triển của lực lượng sản xuất.
Trong chủ nghĩa Tư bản trước đây, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra

ra khỏi nông nghiệp. Sự tách ra này chỉ diễn ra trong phạm vi chức năng lao động,
trong chuyên môn hóa lao động, còn về mặt kinh tế hai ngành này luôn luôn liên hệ
nhau và phụ thuộc lẫn nhau. Chuyên môn hóa trong chức năng lao động càng sâu
thì phạm vi phối hợp và liên kết giữa chúng càng rộng. Lúc đó sự kết hợp giữa hai
ngành này được thực hiện thông qua trao đổi sản phẩm mở rộng thị trường và quan
hệ hàng hóa - tiền tệ. Trong lịch sử, trước chủ nghĩa Tư bản, quá trình tách ra đó
chưa bao giờ diễn ra phổ biến, đều khắp bao trùm toàn xã hội. Mặc dù dưới thời
phong kiến, quá trình xuất hiện các thành thị phong kiến - trung tâm của sản xuất
thủ công nghiệp và thương nghiệp gắn liền với sự tách rời lao động thủ công
nghiệp khỏi nông nghiệp trên quy mô đáng kể, nhưng cũng chưa thể phá vỡ được
tính tự nhiên, tự cấp, tự túc của nền kinh tế. Chỉ đến chủ nghĩa Tư bản, mối quan hệ
giữa công nghiệp và nông nghiệp mới thay đổi tận gốc. Sự phát triển mạnh mẽ của
công nghiệp, biểu hiện tập trung ở sự ra đời đầu tiên của máy công tác, sau đó đến
động cơ hơi nước cải tiến, cuối cùng là hệ thống máy móc, công xưởng đã làm cho


hàng hóa tràn ngập thị trường. Công nghiệp lớn loại trừ thủ công nghiệp cứ mở dần
ra hết mặt hàng này đến mặt hàng khác. Thủ công nghiệp nông thôn trở nên tiêu
điều. Kết quả là "phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã hoàn thành việc cắt đứt
mối liên hệ gia đình lúc ban đầu giữa nông nghiệp và công nghiệp", "nhưng đồng
thời nó lại tạo ra những tiền đề vật chất cho một sự tổng hợp mới cao hơn, nghĩa là
một sự kết hợp giữa nông nghiệp và công nghiệp trên cơ sở những hình thức phát
triển đối lập lẫn nhau của chúng".(1) Từ đây lao động nông nghiệp và công nghiệp
đựơc chuyên môn hóa, tách rời nhau về chức năng phổ biến trên phạm vi toàn xã
hội, vừa đòi hỏi sự kết hợp vơi nhau, làm tiền đề cho nhau phát triển qua quan hệ
thị trường. Nhưng quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp dưới chủ nghĩa tư bản
kéo theo nhiều hậu quả kinh tế - xã hội to lớn trong nông thôn và nông dân, đó là
việc "đồng thời phá hoại các nguồn đẻ ra mọi của cải xã hội: đất đai và người lao
động"(1). Đó còn là tình trạng bị phụ thuộc nặng nề và tương đối lạc hậu của nông
nghiệp và nông thôn đối với công nghiệp và thành thị. Như vậy, dưới chế độ tư bản

vấn… có vai trò ngày càng lớn đối với phát triển kinh tế và đời sống. Chẳng hạn
như thông tin đã trở thành tài sản và nguồn vốn quan trọng hàng đầu trong sự phát
triển của mỗi quốc gia, trở thành một nhân tố quyết định hiệu quả của sản xuất kinh
doanh, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình xã hội hóa và quốc tế hóa đời sống kinh tế của
nhân loại. Cùng với thông tin, hoạt động tư vấn ra đời trên cơ sở phát triển kinh tế
và thông tin. Đây là lĩnh vực hoạt động nhằm sử lý thông tin, chọn các phương án
tối ưu và ra các quyết định xử lý các vấn đề của sản xuất và kinh doanh. Trong
quản lý và kinh doanh ngày nay không một Chính phủ, một tổ chức kinh tế lớn nào
có thể hoạt động có hiệu quả mà lại thiếu những nhà tư vấn tài giỏi.
Tính chất tiến bộ, cách mạng của cơ cấu kinh tế mới còn thể hiện ở tính
năng động và xu hướng tối ưu hóa của nó trong quá trình phát triển của nền kinh tế
thị trường hiện đại. Sự hình thành cơ cấu kinh tế theo hướng tối ưu hóa căn cứ vào
những điều kiện địa lý, tài nguyên, lao động, đặc điểm dân tộc và tận dụng tối đa
lợi thế của mỗi nước nhằm xây dựng một nền kinh tế mở. Còn tính năng động thể


hiện ở khả năng điều chỉnh, biến đổi theo yêu cầu của cách mạng khoa học - công
nghệ hiện đại, quá trình hợp tác và cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường thế giới.
Gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của cơ cấu kinh tế mới là sự
biến đổi sâu sắc trong cơ cấu lao động ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển. Nếu
xét tổng số lao động xã hội ở các nước này thì gần nửa thế kỉ nay số lượng lao động
gần như không tăng lên, song cơ cấu lao động lại có sự thay đổi rất lớn: lao động
trong nông nghiệp giảm mạnh (cẩ tuyệt đối và tương đối). Vào những năm 20 của
thế kỷ, bẩy nước tư bản phát triển có số lao động nông nghiệp gần 70 triệu người
thì nay chỉ còn khoảng 15 triệu. ở nhiều nước lao động nông nghiệp chỉ chiếm từ
1,5% đến 3% dân số. Lao động trong công nghiệp tăng khá nhanh do sự phát triển
mạnh của lĩnh vực này, đặc biệt lao động tăng nhanh hơn cả là khu vực dịch vụ. Ơ
những nước tư bản phát triển nhất như: Mỹ, Nhật, Đức, lao động trong lĩnh vực
dịch vụ chiếm từ 50% đến 70% lao động xã hội và tạo ra từ 40 đến 45% tổng thu
nhập quốc dân. Sự biến đổi của cơ cấu lao động theo xu hướng trên đây là điều hợp

đầu của công nghiệp hóa, các nước đang phát triển có nền công nghiệp nhỏ bé sản
xuất hàng tiêu dùng đơn giản và khai thác các sản phẩm thô từ tài nguyên thiên
nhiên. Trong quá trình công nghiệp hóa, công nghiệp luôn được giành sự ưu tiên
phát triển. Tuy công nghiệp hóa không đồng nhất với phát triển công nghiệp, nhưng
không thể tiến hành công nghiệp hóa nếu không phát triển mạnh công nghiệp. Bởi
vậy, công nghiệp dần dần chiếm lĩnh vị trí hàng đầu trong cơ cấu kinh tế của đất
nước; các hoạt động dịch vụ sản xuất và dịch vụ đời sống phát triển là điều kiện để
phát triển các ngành kinh tế và cải thiện đời sống của nhân dân. Do đó lĩnh vực
dịch vụ, đặc biệt là hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế phải được phát triển thì mới
đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Như vậy, sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của mỗi nước trong quá trình công nghiệp hóa sẽ chuyển dịch từ cơ cấu
nông - công nghiệp - dịch vụ sang cơ cấu công - nông nghiệp - dịch vụ.
1.1.2.2. Bối cảnh thế giới và trong nước có liên quan đến việc xác định
cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta.


Nói chung, các nước trên thế giới cũng như các nước trên vùng Châu á Thái bình dương đều rất quan tâm đến vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Song tính
quy luật đặc thù của sự dịch chuyển mỗi nước, mỗi thời kỳ khác nhau điều đó có
nghĩa nó gắn với bối cảnh nhất định trong và ngoài nước.
Trong điều kiện ngày nay, cách mạng khoa học và công nghệ, mà nội dung
cơ bản là những tiến bộ vượt bậc của công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,
công nghệ vật liệu mới tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, điều đó tạo cơ
may công nghệ thông qua chuyển giao công nghệ, làm cho những nước kém phát
triển có thể tiếp thu công nghệ mới, rút ngắn sự phát triển của mình.
Cùng với sự phát triển của kỹ thuật công nghệ, nền kinh tế thế giới bước
vào giai đoạn phân công lao động, hợp tác kinh tế trên phạm vi toàn thế giới;
thường được gọi là quốc tế hóa kinh tế quốc tê. Thực chất của phân công lao động
là chuyên môn hóa và hợp tác hóa phát triển cao dẫn tới tình trạng thế giới ngày
càng phụ thuộc lấn nhau về tài nguyên, vốn, kỹ thuật, thị trường… chính sự phụ
thuộc đó đã dẫn đến thực tế là: về kinh tế các nước phải hợp tác với nhau lại vừa

các loại sản phẩm và dịch vụ các nhu cầu về nguyên vật liệu thô, các sản phẩm sơ
chế giảm tương đối, còn nhu cầu về kỹ thuật cao, công nghệ mới, dịch vụ chuyển
vốn tăng lên từ đó giá cả các sản phẩm nông nghiệp, khai khoáng sơ chế bị giảm rõ
rệt cả về tuyệt đối lẫn tương đối. Giá so sánh hàng nông nghiệp và hàng công
nghiệp cũng ngày càng bất hợp lý. Đó là biểu hiện của hai cách kéo ngày càng rộng
ra giữa giá cả sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp. Nguyên nhân chủ yếu là do
sự thay đổi cơ cấu tạm thời giá trong một sản phẩm. Một sản phẩm thường có hàm
lượng khoa học, hàm lượng nguyên vật liệu và hàm lượng lao động. Trong đó, xu
hướng là hàm lượng khoa học đựơc tăng lên. sự thay đổi đó còn có nguyên nhân
của quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế quốc tế. Tất cả các nước đều mở rộng
nền kinh tế của mình, tham gia vào thị trường thế giới.
Về đầu tư, trong giai đoạn trước đây, sự kết hợp vốn và công nghệ của các
nước phát triển và nguyên liệu, lao động, thị trường của các nước kém phát triển đã
quy định dòng đầu tư chủ yếu từ nước giàu vào nước nghèo. Nhưng trong giai đoạn


hiện nay, khi nhu cầu lao động giảm đi rõ rệt, những yêu cầu cao về cơ sở hạ tầng
vật chất, về cơ sở nghiên cứu, lao động kỹ thuật tăng lên thì zu hướng chính của
dòng đầu tư tư bản là các nước phát triển đầu tư lẫn nhau. Tất cả những chuyển
biến về cơ cấu sản phẩm và dòng đầu tư trên đây bất lợi đối với các nước kinh tế
kém phát triển. Tuy nhiên cũng cần thấy rõ rằng, nhiều nước đang phát triển do có
chiến lược khoa học - công nghệ đúng đắn, biết sử dụng các loại công nghệ nhiều
tầng, giải quyết đúng đắn quan hệ giữa nhập và nghiên cứu tại chỗ đã từng bước
đưa trình độ kinh tế và công nghệ của đất nước đi lên.
Nói đến kinh tế, thị trường thế giới ngày nay không thể không nói đến vị trí
vai trò kinh tế, kỹ thuật của các công ty xuyên quốc gia. Các công ty này nắm trong
tay tiềm lực kinh tế và công nghệ khổng lồ và đang thực hiện sự bóc lột lũng loạn
của các nứơc đang phát triển. Do đặc điểm cạnh tranh trên thị trường, các công ty
xuyên quốc gia đầu tư cho nghiên cứu triển khai rất lớn, thường là 2-4% tổng thu
nhập, có công ty đến 4%. Do đó có tới 85% kỹ thuật mới, công nghệ hiện đại nằm

kinh tế nhanh, có hiệu quả.
Tình hình thế giới nói trên đòi hỏi chúng ta phải nhận thức rõ để nước ta
không bị lạc hậu, mà cần phải biết lợi dụng những lợi thế của các nước di sau, đồng
thời không để bị biến thành nơi tiếp nhận những công nghệ trình độ thấp, gây ô
nhiễm và bị lệ thuộc và nước xuất khẩu công nghệ.
Nước ta hiện nay vẫn là nước nghèo và kém phát triển, tuy vậy những thành
tựu của công cuộc đổi mới đã tạo ra thế và lực để chúng ta bước vào một thời kỳ
phát triển mới, tiền đề cần thiết cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã được
tạo ra. Khả năng giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập với cộng đồng thế giới được
rộng mở, có môi trường hòa bình để xây dựng đất nước. Đảng và Nhà nước có kinh
nghiệm bước đầu, nhưng rất quan trọng trong xây dựng và phát triển kinh tế.
Cũng cần nói thêm về truyền thống văn hóa là một trong những độc lực
phát triển. Nước ta có truyền thống văn hóa lâu đời, truyền thống trọng tri thức,
nhân văn, tính cộng đồng là những yếu tố quan trọng để tăng trưởng kinh tế. Trong
điều kiện cách mạng công nghệ, nhân tố con người là nhân tố quyết định cho sự
phát triển. Hơn thế nữa, nền văn hóa phương Đông đang được coi là ưu thế cho sự


phát triển đó. Việc duy trì phát triển truyền thống văn hóa dân tộc đồng thời chống
mọi hủ tục lạc hậu, tiếp thu tinh hoa văn hóa của các nước khác vừa là động lực
vừa là mục tiêu phát triển của chúng ta.
Với nhận thức đúng đắn và lợi thế so sánh của đất nước trong quan hệ với
thị trường thế giới là điều kiện để xác định và thực hiện quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của nước ta.
1.1.2.3. Những quá trình có tính quy luật trong chuyển dịch cơ cấu kinh
tế ở nước ta.
Xét về bước đi, mỗi nước có những cách khác nhau, tùy thuộc vào điều
kiện của từng nước, với nước ta tính quy luật của sự hình thành cơ cấu kinh tế mới
được thể hiện ra ở các quá trình:
Một là, phát triển nền nông nghiệp hàng hóa toàn diện theo hướng công

nước. Khi quy mô kinh tế lớn dần lên. Trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, khi nguồn vốn còn rất hạn chế, tới mức mà như thực tiến của
chúng ta đã chỉ rõ, chỉ xây dựng đồng thời một vài công trình lớn cũng đã tạo ra sự
căng thẳng về nhiều mặt trong đời sống kinh tế xã hội của đất nước, thì vấn đề tự
bảo đảm cho mình phần lớn những tư liệu sản xuất quan trọng phải dựa vào hợp tác
với bên ngoài, thông qua trao đổi những sản phẩm mà chúng ta hiện có khả năng
sản xuất ra. Những sản phẩm đó là nông sản, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ
nghệ, sản phẩm của công nghiệp khai thác. Hiện nay, do thành tựu quan trọng đạt
được trong những năm đổi mới kinh tế đã và đang tạo ra những tiền đề đưa đất
nước chuyển dần sang một thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, coi công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm có
tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới không mâu thuẫn với chủ trương đẩy
mạnh phát triển nông nghiệp. Phát triển nông nghiệp là một trong những nội dung
có vai trò quyết định trong việc ổn định tình hình kinh tế xã hội, tạo cơ sở cho sự
phát triển công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, ngày nay nông nghiệp cần hiểu theo
nghĩa rộng, không phải thuần nông, càng không phải nông nghiệp lạc hậu. Nước ta
từ nay đến năm 2000 phải từng bước công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và
kinh tế nông thôn. Do đó cần giải quyết nhiều vấn đề, trước hết từng bước thực


hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, tự động hóa, hóa học hóa các ngành sản xuất nông,
lâm, ngư nghiệp và các công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản. Đẩy mạnh cơ
giới hóa khâu làm đất, sử dụng máy kéo nhỏ ở nơi ít ruộng đất, máy kéo lớn ở
những nơi có nhiều ruộng đất. Cơ giới hóa các phương tiện vận tải đáp ứng các nhu
cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách ở các vùng nông thôn. Tăng nguồn phân
bón trên cơ sở tận dụng phân hữu cơ kết hợp sử dụng phân hóa học và phân vi sinh,
sử dụng các biện pháp hóa chất phòng trừ sâu bệnh từng loại cây trồng để được
năng suất, chất lượng và hiệu quả cao nhất. Phát triển công nghiệp chế biến nông,
lâm, thủy sản trên cơ sở sử dụng rộng rãi các máy móc, thiết bị nhỏ, lẻ ở các thôn
xóm với việc xây dựng nhà máy chế biến quy mô lớn, công nghệ hiện đại ở những

huy động các nguồn vốn Nhà nước, địa phương và của nhân dân cùng hoàn chỉnh
hệ thống thủy lợi nhằm bảo đảm tưới tiêu chủ động, có hiệu quả hơn. Coi trọng đưa
tiến bộ khoa học, công nghệ sinh học vào nông nghiệp. áp dụng rộng rãi cộng nghệ
và các biện pháp sinh học trong các khâu chính của quá trình sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp, ngư nghiệp. Đặc biệt chú trọng công nghẹ sinh học trong giai đoạn sau
thu hoăch nhằm bảo quản, nâng cao giá trị nông sản phẩm tiêu dùng và xuất khẩu.
Xây dựng sớm cơ sở hạ tầng điện, nước và giao thông cho nông thôn. Đây là cơ sở
vật chất - kỹ thuật nền tảng cho mọi hoạt động sản xuất và tổ chức đời sống. Trong
đó giao thông cần được xây dựng trước một bước, bởi vì giao thông đóng vai trò
mở đường đưa nông thôn gắn liền với thành thị đưa các vùng kinh doanh nông
nghiệp tự cấp, tự túc hòa nhập với hoạt động kinh tế của cả nước là mạch máu lưu
thông hàng hóa, mở rộng thị trường, mở rộng quan hệ buôn bán đến các vùng vốn
xa xôi nhưng lại có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển các loại nông sản
hàng hóa có giá trị kinh tế cao. Trong vốn đầu tư dành cho nông thôn, Nhà nước
nên ưu tiên chủ yếu dành cho đầu tư cơ sở hạ tầng, trước hết là cho giao thông.
Việc đầu tư không giàn đều, chắp vá và chất lượng thấp, nên đầu tư đến mức cần
thiết với tiêu chuẩn cần có cả về quy mô và kỹ thuật để phát triển hàng hóa tập
trung của vùng. Vì vốn có hạn, nên cần sắp sếp thứ tự vùng để ưu tiên đầu tư vào


vùng nào có thể chuyển sang sản xuất hàng hóa sớm và thu hồi vốn nhanh thì được
ưu tiên đầu tư xây dựng trước.
Hai là, phát triển mạnh công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.
Công nghiệp hàng tiêu dùng phát triển sẽ đáp ứng trực tiếp nhu cầu đa dạng, phong
phú và ngày càng tăng của nhân dân. Phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng sẽ thúc
đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác, nhất là nông, lâm, ngư nghiệp, thông
qua chế biến, gia công của công nghiệp hàng tiêu dùng làm cho những sản phẩm
trung gian của các ngành cũng trở thành sản phẩm hàng hóa, thu nhập của dân cư
tăng lên, làm sức mua của nhân dân trên thị trường sản phẩm tiêu dùng được mở
rộng. Công nghiệp hàng tiêu dùng phát triển sẽ góp phần nâng cao tỷ trọng xuất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status