PHÂN PHỐI THU NHẬP TRONG THỜI kỳ QUÁ độ lên CHỦ NGHĨA xã hội ở VIỆT NAM - Pdf 32

BÀI SOẠN GIẢNG:
PHÂN PHỐI THU NHẬP TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
A. MỤC ĐÍCH - YÊU CẦU

Qua nghiên cứu bài này cần nắm vững các nội dung sau:
1. Hiểu và phân tích được vị trí, tính chất của quan hệ phân phối cũng
như các hình thức phân phối thu nhập trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam.
2. Nắm được các hình thức thu nhập, nhất là tiền lương ở nước ta hiện
nay
Từ đó, lý giải vì sao trong TKQĐ lên CNXH ở nước ta hiện nay lại
tồn tại nhiều hình thức phân phối.
-> Các hình thức phân phối ở nước ta có phù hợp không? Có tạo ra
được động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế không?.
3. Nhận thức đúng những giải pháp cơ bản để từng bước thực hiện
công bằng trong phân phối.
-> Nhận thức rõ vấn đề lương thưởng
-> Trong điều kiện hiện nay chúng ta phải làm gì và làm như thế nào
để tiến tới công bằng xã hội.
B. BỐ CỤC VÀ PHÂN PHỐI THỜI GIAN

I. Vị trí phân phối: 1 tiết
II. Các hình thức phân phối thu nhập quốc dân trong TKQĐ lên
CNXH ở Việt Nam: 2 tiết
III. Từng bước thực hiện công bằng trong phân phối thu nhập: 1 tiết
C. TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Giáo trình trung cấp lý luận chính trị - T1 (Nxb Lý luận chính trị)
2. Giáo trình kinh tế - chính trị học Mác - Lênin (Hội đồng TW biên soạn)
3. Giáo trình Kinh tế - Chính trị Mác - Lênin trong TKQĐ lên CNXH

- Loài người đã trải qua các
phương thức sản xuất và mỗi phương
thức sản xuất có một hình thức phân
phối tương ứng với nó.
Theo nghĩa chung nhất, phân phối
được hiểu như sau:
* Khái niệm phân phối:
Phân phối là sự phân chia tổng sản
phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
3


thành những phần khác nhau phục vụ
cho mục đích sản xuất xã hội bao
gồm: phân phối tư liệu sản xuất, phân
phối cho tích luỹ và phân phối cho
tiêu dùng.
- Tổng SPXH = TLSX + TLTD
(c+v+m) (giá trị được tạo ra trước đó
và giá trị đang được tạo ra).
- Thu nhập quốc dân = v + m (giá
trị mới được tạo ra trong năm đó).
Biểu hiện:
+) Bằng thu nhập tiền lương
+) Tuỳ theo hình thái nhà tư bản:
lợi nhuận, lợi tức hay địa tô.
- Mục đích của nền sản xuất xã
hội: bất kỳ một phương thức sản xuất
nào cũng có một quy luật kinh tế cơ
bản chi phối mục đích của nền sản

chứng mật thiết, tác động qua lại
nhau, cụ thể:
+) Sản xuất là khâu giữ vai trò
quyết định số lượng và chất lượng
sản phẩm.
Sản xuất quyết định quy mô, trình
độ tiêu dùng vì chúng ta chỉ có thể
tiêu dùng cái chúng ta có.
Vậy chỉ có một cách để cải thiện
đời sống vật chất, tinh thần của nhân
dân là phát triển sản xuất tạo ra ngày
càng nhiều sản phẩm có chủng loại
phong phú, chất lượng cao.
+) Trước đây, chúng ta thiếu từ
cây kim, sợi chỉ...
5


+) Từ khi đổi mới, do sản xuất
phát triển nền kinh tế mở cửa, bây
giờ cái gì cũng có, đời sống nhân
dân được nâng lên rõ rệt
+ Phân phối do sản xuất định, song
phân phối không chỉ đơn thuần là kết
quả thụ động của sản xuất và trao đổi
mà như Ănghen nói “nó cũng tác
động trở lại đến sản xuất và trao
đổi”.
Sự tác động trở lại của phân phối
đối với sản xuất và trao đổi thể hiện

xuất thì

giai cấp đó nắm quyền

phân phối, phân phối phục vụ cho
lợi ích của giai cấp cấp.
Mỗi phương thức có hình thức
phân phối tương ứng với nó, quan hệ
phân phối phản ánh bản chất của
quan hệ sản xuất, khi phương thức
sản xuất thay đổi thì QHSX thay đổi
và vì thế QHSX phải thay đổi.
- PTSX Cộng sản nguyên thuỷ ->
QHPP Cộng sản nguyên thuỷ - tất cả
là của chung (bình quân), tối thiểu vì
lực lượng sản xuất chưa phát triển.
- PTSX chiếm hữu nô lệ -> QHPP
chiếm hữu nô lệ phục vụ cho chủ nô,
vì lợi ích của chủ nô.
PTSX phong kiến -> QHPP phong
kiến vì lợi ích của địa chủ, qúy tộc.
- PTSX TBCN -> QHPP TBCN vì
lợi nhuận của nhà tư bản.
- PTSX CSCN -> qua 2 giai đoạn:
7


+ Thấp: CNXH đa dạng các hình
thức phân phối
+ Cao: CN cộng sản: phân phối

sản.
+ CSCN: Phấn đấu phân phối theo
nhu cầu.
II. CÁC HÌNH THỨC PHÂN PHỐI
THU NHẬP QUỐC DÂN TRONG
TKQĐ LÊN CNXH Ở VIỆT NAM

* Tính tất yếu khách quan
Trong TKQĐ lên CNXH bỏ qua
chế độ TBCN ở nước ta hiện nay còn
tồn tại nhiều hình thức phân phối,
việc tồn tại nhiều hình thức phân
phối là một tất yếu khách quan vì bốn
lý do sau:
- Nước ta còn tồn tại nhiều hình
thức sở hữu về TLSX và các thành
phần kinh tế, ứng với mỗi TPKT là
những hình thức sở hữu khác nhau
cho nên, ứng với mỗi TPKT là một
hình thức phân phối thu nhập cá
nhân. Chừng nào còn tồn tại nhiều
hình thức sở hữu khác nhau thì sự
phân phối thu nhập chưa thực hiện
theo một hình thức thống nhất được.
- Nền kinh tế nước ta còn tồn tại
nhiều phương thức kinh doanh, mỗi
thành phần kinh tế lại có một phương
thức kinh doanh riêng.

9

phần tạo ra nhiều hình thức thu nhập.
- Do xuất phát từ bản chất của chế
độ XHCN. Nền kinh tế nước ta là
nền kinh tế thị trường định hướng

10


XHCN phải vừa tuân thủ đặc trưng
của nền kinh tế thị trường, phải vừa
tuân thủ theo những nguyên tắc cơ
bản của CNXH. Do đó, tồn tại nhiều
hình thức phân phối thu nhập nhằm
phát triển kinh tế - xã hội và thực
hiện công bằng xã hội.
Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng
định: “thực hiện nhiều hình thức
phân phối theo kết quả kinh tế là chủ
yếu, đồng thời dựa trên mức đóng
góp nguồn lực khác vào kết quả kinh
doanh và phân phối qua phúc lợi xã
hội”.
Dựa trên tinh thần đó và qua giáo
trình trung cấp, các nhà biên soạn đã
chia ra làm 6 hình thức phân phối:
1. Phân phối theo lao động
2. Phân phối theo lao động với
phân phối theo quyền sở hữu ở
những đơn vị kinh tế bậc thấp.
3. Phân phối trong TPKT cá thể,

Tiêu dùng xã hội phụ thuộc
vào mức thu nhập có thể sử dụng
được của xã hội. Các khoản tiêu dùng
cho:
Chi phí cho an ninh, quốc phòng.
Quỹ mở rộng phúc lợi công cộng
Quỹ bảo hiểm xã hội
Phân phối theo lao động: thoả
mãn tiêu dùng cho cá nhân người lao
động.

12


Sơ đồ trên vừa khách quan, vừa
khoa học, nó vừa đảm bảo tái sản
xuất xã hội xã hội, vừa đảm bảo tái
sản xuất sức lao động.
Vậy phân phối theo lao động có
thể hiểu như sau:
a. Khái niệm:
Phân phối theo lao động là sự phân
phối cho tiêu dùng cá nhân căn cứ
vào số lượng và chất lượng lao động
của từng người đã đóng góp tạo nên
sản phẩm xã hội.
- Số lượng: làm nhiều hưởng ít
- Chất lượng: căn cứ vào trình độ
lao động và mức độ khó khăn phức
tạp của lao động.

LLSX và trạng thái văn minh hiện
có”.
- Sự khác biệt về tính chất và trình
độ lao động.
Nước ta hiện nay có nhiều loại lao
động: lao động chân tay, lao động trí
óc, lao động giản đơn, lao động phức
tạp, lao động trong điều kiện bình
thường, lao động trong điều kiện
khắc nghiệt... Chính sự khác biệt đó
dẫn đến mỗi người có một sự cống
hiến khác nhau. Do đó, phải căn cứ
vào mức độ cống hiến cho xã hội để
phân phối tức phải phân phối theo lao
động. Nếu làm như vậy sẽ không rơi
vào chủ nghĩa bình quân, tạo ra động
lực kích thích sản xuất phát triển,
người lao động không cảm thấy bị
thiệt thòi.
14


- Lao động còn là phương tiện để
kiếm sống
Ở nước ta hiện nay:
+) Lao động chưa trở thành một
nhu cầu của cuộc sống mà là một
phương tiện để kiếm sống.
+ Còn tư tưởng coi khinh lao động,
muốn làm ít hưởng nhiều, so bì nghĩa

phối ngày càng nhiều.
- Chất lượng lao động thể hiện:
+) Trình độ lao động
+) Chất lượng sản phẩm làm ra
Như Mác nói: “Trong cùng một
khoảng thời gian thì lao động phức
tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn lao
động giản đơn, lao động phức tạp là
bội số của lao động giản đơn”.
Để kích thích người lao động nâng
cao trình độ tay nghề phải trả lương
cao hơn cho những lao động làm việc
ở các lĩnh vực có trình độ cao.
- Điều kiện và môi trường lao
động: lao động nặng nhọc, lao động
trong hầm mỏ, độc hại...
Những lao động trong môi trường
nguy hiểm, độc hại, khó khăn hay
vùng sâu xa thì mức phân phối phải
cao hơn so với những người lao động
trong điều kiện bình thường thông
qua các khoản phụ cấp rủi ro, những
ưu đãi khác như: nhà ở, vay tiền...
- Tính chất của lao động: mức độ
khẩn trương hay bình thường của lao
động.
- Ngoài ra, đối với các ngành nghề
16



17


triển toàn diện,
=> Đây là hình thức phân phối tiến
bộ nhất trong lịch sử.
* Hạn chế: 3 hạn chế
- Bình đẳng trong khuôn khổ pháp
quyền tư sản nghĩa là vẫn còn bao
hàm sự bất bình đẳng. Vì người lao
động

có tay nghề khác nhau, có

cường độ lao động khác nhau, có thái
độ lao động khác nhau, có hoàn cảnh
khác nhau... nên dẫn đến thu nhập
khác nhau và do đó người này vẫn
giàu hơn người kia.
- Xác định kết quả lao động là vấn
đề khó (đặc biệt là làm việc hành
chính).
- Không xuất phát từ giá cả sức lao
động nên còn mang ý nghĩa bình
quân.
Phân phối theo lao động còn có
những hạn chế nhưng đó là những
hạn chế không thể tránh khỏi trong
giai đoạn của XHCSCN.
Chỉ khi nào của cải tuôn ra dồi dào

lao động, người lao động trực tiếp kết
hợp sức lao động với tư liệu sản xuất
nên họ làm chủ kết quả sản xuất.
* Phân phối phụ thuộc vào:
+) Sở hữu tư liệu sản xuất
+) Vấn đề đầu tư sản xuất
+) Khả năng sản xuất kinh doanh
của người lao động
Chú ý: ở các trang trại, tiểu chủ có
thuê lao động nhưng chỉ mang tính
19


mùa vụ khi có nhu cầu mới thuê,
không mang tính bóc lột đối kháng
như trong TPKT tư bản tư nhân.
* Ưu điểm và hạn chế của hình
thức phân phối này:
- Ưu điểm: Kết hợp chặt chẽ hiệu
quả sản xuất với sự cống hiến của
người lao động.
Nên khắc phục chủ nghĩa bình
quân, kích thích tính chủ động, sáng
tạo của người lao động.
- Nhược điểm: không tránh khỏi
sự phân hoá giàu nghèo. Nhưng nó
cũng chính là động lực để phát triển
sản xuất, chứ không thể sợ phân hoá
mà trở lại chủ nghĩa bình quân.
TPKT này đóng góp lớn vào sự

lột”.??
- Số lợi nhuận này của nhà tư bản
nhiều hay ít là phụ thuộc vào số
lượng m do công nhân tạo ra và do
sự cạnh tranh trên thị trường.
Nước ta thừa nhận sự tồn tại của
TPKT này tức là thừa nhận quan hệ
bóc lọt lao động là thuê nhưng phải
trong khuôn khổ pháp lý.
Do đó, Nhà nước bên cạnh việc
tạo ra những yếu tố khuyến khích nó
thì cần ban hành luật để bảo vệ người
lao động.
5. Phân phối trong TPKT tư bản
Nhà nước
Đây là hình thức liên doanh giữa
kinh tế Nhà nước với kinh tế tư bản
tư nhân trong nước và ngoài nước.
21


Việc phân phối ở đây dựa trên cơ
sở vấn đề cổ phần.
- Sản phẩm làm ra được chia như
sau:
+) Bù đắp TLSX đã hao phí
+) Trả công nhân
+) Nộp thuế
+ Số còn lại được phân chia theo
tỷ lệ góp vốn giữa tư bản với Nhà

lão...
Rất cần cho những gia đình có thu
nhập thấp và bảo đảm mọi thành viên
có mức sống tối thiểu.
- Khắc phục hạn chế của phân phối
theo lao động, vốn và tài sản; đồng
thời phản ánh tính ưu việt của chế độ
XHCN.
Thực tế hầu như tất cả các nước
đều có hình thức này vì ở đâu cũng
có người nghèo, có hoàn cảnh khó
khăn. Vấn đề chỉ nằm ở mức độ thực
hiện nó mà thôi.
b. Các hình thức phân phối qua
quỹ phúc lợi:
- Quỹ phúc lợi tập thể phục vụ cho
các hoạt động chung như: tham quan,
nghỉ mát, trợ cấp khó khăn...
- Quỹ phúc lợi xã hội: bảo hiểm xã
hội, cứu tế, chăm sóc người già...
c. Căn cứ hình thành quỹ phúc
lợi:
- Ngân sách Nhà nước
- Doanh nghiệp
- Tổ chức xã hội trong và ngoài
nước
23


- Các cá nhân trong và ngoài nước

HIỆN

CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG PHÂN
PHỐI THU NHẬP

- Hiện nay, đất nước ta đang trong
TKQĐ lên CNXH, Đảng và Nhà
nước chủ trương thực hiện nhất quán
24


và lâu dài chính sách phát triển nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Do đó, việc tồn tại bất bình đẳng
trong phân phối thu nhập là một tất
yếu.
- Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội đòi hỏi phải tạo ra những tiền đề,
biện pháp để từng bước thu hẹp và
xoá bỏ sự bất bình đẳng, tiến tới mục
tiêu công bằng trong phân phối thu
nhập xã hội như Bác Hồ đã nói:
“Không có chế độ người bóc lột
người, một xã hội bình đẳng, nghĩa là
ai cũng phải lao động và có quyền
lao động, làm nhiều thì hưởng nhiều,
ai làm ít thì hưởng nhiều, ai làm ít thì
hưởng ít, không làm không hưởng”.
Từ thực tiễn của đất nước, để đạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status