Triết học chính trị của machiavelli trong lịch sử tư tưởng chính trị phương tây cận đại - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------

VÕ CHÂU THỊNH

TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ CỦA
MACHIAVELLI TRONG LỊCH SỬ
TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ
PHƯƠNG TÂY CẬN ĐẠI

Chuyên ngành: LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Mã số: 62.22.80.01

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2016


Luận án được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. ĐINH NGỌC THẠCH
2. PGS. TS. NGUYỄN XUÂN TẾ

Phản biện độc lập:
1. …………………………………………………….
2. …………………………………………………….

Phản biện:
1. …………………………………………………….

triển bền vững kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay” Tạp chí Triết
học, số 1 (272) 2014, tr.3-8.
5. Thành viên (2013), Một số vấn đề về dân chủ cơ sở ở nông thôn Nam

Bộ trong sự phát triển bền vững 2011 – 2020, Đề tài nghiên cứu cấp
Bộ (CT11.22.02), Chủ nhiệm: TS. Đỗ Hương Giang, Viện KHXH
Vùng Nam Bộ, Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam.
6. Võ Châu Thịnh (2002), “Mấy suy nghĩ về vấn đề bảo tồn và phát huy

bản sắc văn hóa dân tộc trong hoạt động của thanh niên hiện nay”,
Tạp chí Khoa học Xã hội, số 2 (54) 2002, tr.78-81.

*****


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong lịch sử triết học chính trị thế giới, Niccolò Machiavelli là ngƣời
đã mở ra một chặng đƣờng mới cho lịch sử triết học chính trị. Kể từ
Machiavelli, lịch sử triết học chính trị phƣơng Tây bắt đầu bƣớc vào thời kỳ
hiện đại. Nghiên cứu “Triết học chính trị của Machiavelli trong lịch sử tư
tưởng chính trị phương Tây cận đại” không chỉ cho chúng ta hiểu rõ tƣ tƣởng
triết học chính trị của ngƣời mở đƣờng cho nền triết học chính trị phƣơng Tây
hiện đại mà còn giúp soi sáng những luận điểm triết học chính trị quan trọng
trong các học thuyết triết học chính trị nổi tiếng khác ở phƣơng Tây từ
Machiavelli trở về sau.
Machiavelli đã thoát khỏi bóng đêm tƣ tƣởng của thời Trung cổ, trở về
khôi phục tinh hoa tƣ tƣởng của các triết gia Hy Lạp, La Mã cổ đại, làm nền

chƣa bao giờ mất đi tính thời sự cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Vì thế những
công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề
tài của luận án là rất phong phú. Tuy nhiên, không có công trình nghiên cứu
nào hoàn toàn trùng lắp với đề tài nghiên cứu của luận án. Nhìn chung, có thể
khái quát những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án thành 3
nhóm nhƣ sau: thứ nhất là những công trình nghiên cứu giúp chúng ta hiểu
đƣợc những điều kiện và tiền đề hình thành triết học chính trị Machiavelli; thứ
hai là những công trình nghiên cứu về nội dung triết học chính trị Machiavelli;
và thứ ba là những công trình nghiên cứu cho thấy sự kế thừa và phát triển
triết học chính trị Machiavelli của các triết gia sau ông. Thật ra, đây là một sự
phân chia có tính tƣơng đối bởi có những công trình nghiên cứu vừa đề cập
đến nội dung vừa bàn đến sự kế thừa và phát triển triết học chính trị
Machiavelli, thậm chí có công trình nghiên cứu bao trùm cả ba nhóm chủ đề
trên với mức độ nông sâu khác nhau.


3

Những công trình nghiên cứu mà qua đó chúng ta có thể tìm ra những
điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội hình thành triết học chính trị
Machiavelli phải kể đến trƣớc tiên là những công trình nghiên cứu lịch sử.
Đáng chú ý nhất là bộ Encyclopedia of World History gồm 7 tập, do tập thể
tác giả Marsha E. Ackermann, Michael J. Schroeder, Janice J. Terry, Jiu-Hwa
Lo Upshur, và Mark F. Whitters đồng chủ biên, đƣợc Facts On File Inc. xuất
bản năm 2008 tại New York. Kế tiếp, những công trình nghiên cứu lịch sử
triết học và lịch sử tƣ tƣởng chính trị sẽ cung cấp cho chúng ta những hiểu biết
về những tiền đề tƣ tƣởng hình thành triết học chính trị Machiavelli. Trong đó,
đáng chú ý là: A history of philosophy của Frederick Copleston, gồm 9 tập,
đƣợc Doubleday xuất bản trong 2 năm 1993 và 1994 tại New York; A New
History of Western Philosophy gồm 4 tập của giáo sƣ triết học Đại học Oxford

Principe của Machiavelli đƣợc dịch sang tiếng Việt. Một số tác phẩm tiếng
Việt có đề cập đến triết học chính trị Machiavelli gồm: Triết học Trung cổ Tây
Âu do PGS, TS. Trịnh Doãn Chính và PGS, TS. Đinh Ngọc Thạch chủ biên,
đƣợc Nxb. Chính trị quốc gia ấn hành năm 2008; Triết học Tây phương từ
khởi thủy đến đương đại đƣợc Phan Quang Định biên dịch, Nxb. Văn hóa
thông tin phát hành năm 2010 tại Hà Nội; Những luận thuyết nổi tiếng thế giới
do Vũ Đình Phòng và Lê Huy Hòa biên soạn đƣợc Nxb. Văn hóa Thông tin
phát hành năm 2003; bài viết “Triết học chính trị của N.Makiaveli” đăng trên
Tạp chí Triết học số 10, tháng 10 – 2004 của tác giả Vũ Mạnh Toàn; Lịch sử
các học thuyết chính trị thế giới do các học giả Liên bang Nga viết, Lƣu Kiếm
Thanh và Phạm Hồng Thái dịch, Nxb. Văn hóa Thông tin phát hành năm
2001; Lịch sử triết học phương Tây, Tập 1: Triết học cổ đại, triết học trung
cổ, triết học phục hưng của PGS. TS. Đỗ Minh Hợp do Nxb. Chính trị Quốc
gia phát hành năm 2014 tại Hà Nội.
Những công trình nghiên cứu cho thấy sự kế thừa và phát triển triết học
chính trị Machiavelli của các triết gia cận đại phƣơng Tây tiêu biểu phải kể


5

đến trƣớc tiên là những tác phẩm triết học chính trị của chính các triết gia cận
đại này. Chẳng hạn, Leviathan, or the Matter, Form and Power of a
Commonwealth Ecclesiastical and Civil của Thomas Hobbes; Second Treatise
of Government của John Locke; De l’esprit des lois của Montesquieu; Du
Contrat social của Jean Jacque Rousseau. Bên cạnh đó, có thể tham khảo
thêm: Machiavelli, Hobbes, and the Formation of a Liberal Republicanism in
England của giáo sƣ Vickie B. Sullivan đƣợc Nxb. Đại học Cambridge phát
hành năm 2004 tại New York; “Một số tƣ tƣởng triết học chính trị của J.
Locke: thực chất và ý nghĩa lịch sử” của PGS. TS. Đinh Ngọc Thạch công bố
trên Tạp chí Triết học số 1/2007; “John Locke – Nhà tƣ tƣởng lớn của phong

của luận án đƣợc nghiên cứu dƣới góc nhìn lịch sử triết học.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Thế giới quan duy vật biện chứng đƣợc xác định là cơ sở lý luận để
nghiên cứu đề tài; phƣơng pháp luận biện chứng duy vật sẽ là phƣơng pháp
nghiên cứu chủ yếu để tiến hành mô tả, giải thích, phân tích, nhận định, đánh
giá các tƣ tƣởng hay các sự kiện, hiện tƣợng có liên quan. Ngoài ra, các
phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành khoa học xã hội và các phƣơng pháp
nghiên cứu cụ thể khác nhƣ: phƣơng pháp so sánh – đối chiếu, phƣơng pháp
quy nạp – diễn dịch, phƣơng pháp phân tích khái niệm, phƣơng pháp phân tích
nội dung, và phƣơng pháp lịch sử-logic cũng đƣợc sử dụng.
6. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa khoa học, luận án giúp hạn chế những đánh giá, nhận định võ
đoán, phiến diện về triết học chính trị Machiavelli; làm rõ một số nội dung
triết học chính trị Machiavelli mà lâu nay chƣa đƣợc biết đến một cách rộng
rãi. Về ý nghĩa thực tiễn, luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho những
ngƣời nghiên cứu và giảng dạy triết học phƣơng Tây giai đoạn Phục hƣng và
cận đại. Ngoài ra, những ngƣời đang hoạt động trong các lĩnh vực chính trị và


7

quản lý hành chính nhà nƣớc cũng có thể tìm thấy ở luận án này những điều
bổ ích khi tiếp cận vấn đề quyền lực chính trị và nhà nƣớc pháp quyền.
7. Cái mới của luận án
Thứ nhất, làm rõ nội dung triết học chính trị Machiavelli, khám phá
những thông điệp tƣ tƣởng đƣợc ông khéo léo che đậy cũng nhƣ những toan
tính chiến lƣợc cho việc xây dựng một nền cộng hòa bền vững trên cơ sở phân
tích nhiều tác phẩm khác nhau, kể cả những bức thƣ riêng, đồng thời liên hệ
chặt chẽ với những diễn biến cụ thể trong cuộc đời và sự nghiệp của ông.
Thứ nhì, luận án xem xét triết học chính trị Machiavelli trong dòng chảy

trị, Machiavelli đã xây dựng thành công lực lƣợng dân quân Florence dẫn đến
thắng lợi trong cuộc chiến chiếm thành phố Pisa. Ông cũng đàm phán với
những nhân vật quyền lực nhất ở châu Âu và tích lũy nhiều hiểu biết chính trị
quý báu. Đến năm 5012, chính quyền cộng hòa Florence rơi vào tay gia đình
Medici. Machiavelli bị tƣớc hết quyền lực chính trị, phải về ngoại ô nghiên
cứu và sáng tác đến hết cuộc đời.
1.1.2. Sự nghiệp nghiên cứu, sáng tác của Machiavelli
Machiavelli đã để lại những tác phẩm triết học chính trị, lịch sử, tiểu sử,
kịch, và những bức thƣ có giá trị nhƣ: La Mandragola, Dell'arte della Guerra,
Il Principe, Discorsi sopra la prima Deca di Tito Livio, Storia di Firenze, La
vita di Castruccio Castracani da Lucca, Belfagor arcidiavol, Clizia, ... Trong
đó, đáng kể nhất là tuyệt tác Il Principe bàn về chính quyền quân chủ chuyên
chế và tác phẩm Discorsi thể hiện rõ tƣ tƣởng cộng hòa.
1.2. NHỮNG ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TRIẾT HỌC
CHÍNH TRỊ MACHIAVELLI
1.2.1. Những điều kiện hình thành triết học chính trị Machiavelli
Với tƣ cách là một bộ phận của hình thái ý thức – xã hội, triết học chính
trị Machiavelli bị chi phối và phản ánh sâu sắc điều kiện lịch sử, kinh tế, chính
trị – xã hội Italia từ cuối thời kỳ Trung cổ cho đến giai đoạn đỉnh cao của thời
kỳ Phục hƣng. Thời đại Phục hƣng ở Tây Âu là thời kỳ chuyển tiếp từ phƣơng
1

Quentin Skinner (2000), Machiavelli – a very short introduction, Oxford University Press, Oxford, p.7.


9

thức sản xuất phong kiến sang phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa. Chủ
nghĩa tƣ bản đã ra đời sớm nhất ở Italia, nơi có các hoạt động thƣơng mại,
dịch vụ sôi động nhất và có trình độ đô thị hóa cao nhất châu Âu thời trung kỳ

University of Chicago Press, Chicago and London, p.xvii.


10

ảnh hƣởng của những tiền đề tƣ tƣởng, văn hóa chung của thời đại. Đó là
những di sản cổ đại Hy Lạp, La Mã, là chủ nghĩa nhân văn chống tôn giáo và
thần quyền. Cụ thể, Machiavelli đã kế thừa tƣ tƣởng về nhà nƣớc và pháp luật
của Plato, Aristotle, Cicero, Tito Livio, …; kế thừa tƣ tƣởng nhân văn, thế tục,
phi tôn giáo của Protagoras, Dante, Petrarca, Boccaccio, Salutati, Bruni, Valla,
Donatello, Michelangelo, ...
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Nảy sinh trong thời kỳ Phục hƣng ở thành quốc Florence, Italia, triết học
chính trị Machiavelli hình thành trên cơ sở thừa hƣởng những điều kiện đặc
biệt, có một không hai ở Tây Âu. Đó là kết quả của sự cộng hƣởng nhiều làn
sóng sự kiện lịch sử, kinh tế, chính trị xã hội, văn hóa nghệ thuật và tƣ tƣởng,
cùng trỗi dậy để tạo nên những kỳ tích vĩ đại. Machiavelli có nhiều điều kiện
thuận lợi để tiếp cận tƣ tƣởng triết học chính trị cổ đại và đƣơng thời, vận
dụng, kiểm nghiệm chúng trong thực tiễn hoạt động chính trị của mình. Tuy
nhiên, thời cuộc chính trị nghiệt ngã ở Italia và Florence lúc bấy giờ cũng đẩy
Machiavelli vào hoàn cảnh trớ trêu và dƣ thừa khó khăn, thách thức ông tìm ra
tƣ tƣởng triết học chính trị mới có khả năng giải quyết đƣợc thực tiễn chính trị
nhiều gai gốc với đầy rẫy cạm bẫy, sự lừa dối và những thủ đoạn chính trị tinh
vi, bẩn thỉu nhất.
Chƣơng 2
NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ, VÀ HẠN CHẾ CỦA
TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ MACHIAVELLI
2.1. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ MACHIAVELLI
2.1.1. Tƣ tƣởng quân chủ chuyên chế trong triết học chính trị Machiavelli
Il Principe – tác phẩm duy nhất đƣợc Machiavelli dành riêng để bàn sâu


5

Niccolò Machiavelli (1979), The Portable Machiavelli, edited and translated by Peter Bondanella and Mark Musa,
Penguin Books, USA, p.124.
6
Niccolò Machiavelli (1979), loc. cit., p.127.
7
Niccolò Machiavelli (1979), loc. cit., p.129.


12

đó”8. Quân vƣơng không phải lo lắng gì khi bị chỉ trích là tàn bạo nếu sự tàn
bạo đó làm cho thần dân của ông đoàn kết và trung thành; bởi vì tàn bạo với
vài ngƣời còn nhân đạo hơn nhân từ quá mức để hỗn loạn tiếp diễn, dẫn đến
thảm sát, cƣớp bóc; vì sự hỗn loạn này thƣờng gây phƣơng hại lớn cho cả
cộng đồng, trong khi những vụ hành hình do vua ban ra chỉ làm tổn hại một
vài cá nhân cụ thể. Theo Machiavelli, đƣợc sợ thì an toàn hơn nhiều so với
đƣợc thƣơng nếu phải chọn một trong hai điều đó.9 Bởi vì con ngƣời ít do dự
về việc hại ngƣời họ thƣơng hơn là hại ngƣời họ sợ bởi vì tình thƣơng đƣợc
ràng buộc bằng một chuỗi nghĩa vụ mà nó có thể bị phá vở mỗi khi đụng
chạm đến lợi ích; trong khi nỗi sợ bị ràng buộc bởi sự trừng phạt kinh hãi
không lúc nào buông tha họ.
Machiavelli dƣờng nhƣ đã loại bỏ hoàn toàn yếu tố đạo đức trong hoạt
động chính trị của quân vƣơng khi thẳng thắn khuyên: “xem xét kỹ mọi việc,
quân vƣơng sẽ phát hiện ra rằng nếu theo đuổi điều có vẻ hợp với đạo đức thì
sẽ dẫn đến sự diệt vong của ngài; trong khi việc khác có vẻ vô đạo đức nhƣng
nếu đƣợc theo đuổi sẽ đem đến kết quả là sự an toàn và thịnh vƣợng cho
ngài”10. Nói chính xác hơn, chừng nào hoàn cảnh còn cho phép vua làm ngƣời

2.1.2. Tƣ tƣởng cộng hòa trong triết học chính trị Machiavelli
Giáo sƣ Vickie B. Sullivan cho rằng: “Đặc điểm chủ nghĩa cộng hòa của
Machiavelli hiện ra ánh sáng một cách đầy đủ nhất trong tác phẩm Luận bàn
về mười quyển sách đầu của Tito Livio của ông”16. Trong tác phẩm này,
Machiavelli đã kế thừa quan điểm của Plato, Aristotle, và Cicero về các mô
hình chính quyền nhà nƣớc và sự chu chuyển của chúng. Tuy nhiên, theo
Machiavelli, trong sáu mô hình chính quyền đã đƣợc các nhà tƣ tƣởng Hy
Lạp, La Mã cổ đại phân tích, “ba mô hình tốt thì tồn tại ngắn ngủi còn ba mô
hình xấu thì độc ác”17. Cho nên chính quyền cộng hòa hỗn hợp dựa trên sự kết
hợp một chút yếu tố quân chủ với một chút đặc điểm của chế độ quý tộc và
chính quyền nhân dân sẽ tạo nên một chính quyền vững mạnh vì các thành
phần này sẽ kiểm soát lẫn nhau18.
Machiavelli đã nhấn mạnh lập trƣờng cộng hòa của mình khi khẳng
định: “nhân dân ít phạm sai lầm hơn vua, và do đó có thể đáng đƣợc tin cậy
hơn vua”19. Machiavelli cũng không ngần ngại nhìn nhận sự thật rằng trong
13

Niccolò Machiavelli (1979), loc. cit., p.153.
Niccolò Machiavelli (1979), loc. cit., p.153.
15
Niccolò Machiavelli (1979), loc. cit., p.151.
16
Vickie B. Sullivan (2004), Machiavelli, Hobbes, and the Formation of a Liberal Republicanism in England,
Cambridge University Press, New York, p.31.
17
Niccolò Machiavelli (1996), loc. cit., p.13
18
Niccolò Machiavelli (1996), loc. cit., p.13.
19
Niccolò Machiavelli (1996), loc. cit., p.121.

20

Niccolò Machiavelli (1996), loc. cit., p.91.
Niccolò Machiavelli (1996), loc. cit., p.44.
22
Niccolò Machiavelli (1996), loc. cit., p.29.
21


15

The Prince cùng với tác phẩm Discourses. Bởi vì những điều đƣợc
Machiavelli trình bày cặn kẽ trong Discourses sẽ soi sáng những quan điểm
đƣợc viết ngắn gọn và che đậy khéo léo trong tác phẩm The Prince. 23
Đề cao pháp luật, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc nhà nƣớc pháp
quyền là đặc điểm nổi bật của tƣ tƣởng triết học chính trị theo đƣờng hƣớng
cộng hòa của Machiavelli. Machiavelli không đồng ý để bất kỳ ai ỷ lại vào
công trạng của họ mà coi thƣờng các quy tắc và chuẩn mực xã hội đã đƣợc
mọi ngƣời đồng thuận. Tình trạng công thần, địa vị dẫn đến xem thƣờng pháp
luật, lộng hành làm điều sai trái của bất kỳ ai trong xã hội, nếu không đƣợc
ngăn chặn, sẽ nhanh chóng đƣa một nhà nƣớc cộng hòa đến chỗ bị hủy diệt.24
Quan điểm của Machiavelli về mô hình chính quyền cộng hòa tuân thủ
nghiêm túc nguyên tắc pháp quyền đƣợc xây dựng dựa trên cơ sở quan niệm
của ông về bản chất con ngƣời, đó là sự phát triển đỉnh cao của chủ nghĩa
nhân văn công dân.
2.2. ĐẶC ĐIỂM, GIÁ TRỊ, VÀ HẠN CHẾ CỦA TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ
MACHIAVELLI
Đặc điểm của triết học chính trị Machiavelli
Triết học chính trị Machiavelli thể hiện rõ tính kế thừa. Hầu hết những
gì Machiavelli viết đều dựa trên sự nghiên cứu nghiêm túc lịch sử và tƣ tƣởng

lý luận về việc xây dựng nhà nước pháp quyền. Triết học chính trị Machiavelli
đã góp phần vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm trong triết học. Có
thể gọi học thuyết triết học chính trị của Machiavelli là một học thuyết duy vật
vì Machiavelli giải thích các sự kiện chính trị từ những tác nhân hiện thực
khách quan hay từ những yếu tố có tính vật chất.
Hạn chế thứ nhất của triết học chính trị Machiavelli là việc ủng hộ sự
tập trung toàn bộ quyền lực nhà nước vào tay một người duy nhất và cho phép
người đó sử dụng tối đa các biện pháp bạo lực để thiết lập trật tự xã hội
khiếng cho những kẻ có tham vọng thống trị xã hội vì lợi ích cá nhân có cơ
hội lộng hành. Hạn chế thứ hai của triết học chính trị Machiavelli là việc nêu
ra những phương thức tranh giành quyền lực chính trị một cách quỷ quyệt và
độc ác khiến cho nhiều ngƣời dựa vào đó biến chính trị thành một trò chơi
quyền lực bẩn thỉu với đầy rẫy những thủ đoạn hèn hạ, sự xảo trá và dối lừa.
25

Các học giả Liên bang Nga (2001), Lịch sử các học thuyết chính trị thế giới, Nxb. Đại học Matxcova, Lƣu Kiếm
Thanh và Phạm Hồng Thái dịch, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr.210.


17

KẾT LUẬN CHƢƠNG 2
Tóm lại, tƣ tƣởng triết học chính trị của Machiavelli dù đƣợc thể hiện về
mặt hình thức là hai hệ thống quan điểm đối lập nhau nhƣng thực chất
Machiavelli chỉ ủng hộ mô hình chính trị cộng hòa. Ngoài những hạn chế nhất
định, triết học chính trị của Machiavelli có giá trị lớn đối với sự phát triển của
triết học chính trị cận đại.
Chƣơng 3
TRIẾT HỌC CHÍNH TRỊ MACHIAVELLI TRONG
LỊCH SỬ TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ PHƢƠNG TÂY CẬN ĐẠI

của mình trừ phi có một quyền lực chung đủ mạnh làm cho mọi ngƣời kính
sợ. Bởi thế, trong điều kiện tự nhiên thuần túy, tức không có nhà nƣớc, thì mỗi
ngƣời là kẻ thù của nhau, con ngƣời phải sống trong tình trạng chiến tranh
chống lại nhau “của mỗi ngƣời chống lại mỗi ngƣời.”29
3.1.2. Vấn đề tự do, công bằng, bình đẳng của con ngƣời qua tƣ tƣởng của
một số triết gia tiêu biểu phƣơng Tây cận đại
Hobbes không cổ vũ sự tự do của dân chúng theo kiểu để cho ngƣời dân
thoải mái yêu cầu thủ lĩnh chính trị của họ phải nghiêm túc thực hiện tất cả
những điều dân muốn. Ngƣợc lại, ngƣời dân phải phục tùng nhà lãnh đạo
chính trị của họ, bởi vì chính sự phục tùng ấy triệt tiêu mọi sự hỗn loạn, đồng
thời tạo nên sự ổn định chính trị-xã hội. Kết quả là dân chúng có một xã hội
bình yên, thuận hòa, thịnh trị để làm giàu và thụ hƣởng sự sung túc của họ. Và
nhƣ thế là dân có tự do.
Cả Machiavelli và Locke đều cho rằng sự tự do tốt nhất của con ngƣời
là sự tự do trong khuôn khổ pháp luật mà chính các cá nhân với tƣ cách là
thành viên của xã hội đã làm ra. Montesquieu cũng viết: “Trong một nƣớc có
luật pháp, tự do chỉ có thể là đƣợc làm những cái nên làm và không bị ép buộc
làm điều không nên làm”

30

. Jean Jacques Rousseau cũng khẳng định: “Nếu

tìm xem điều tốt nhất cho tất cả mọi ngƣời, và đỉnh cao nhất của các hệ thống
lập pháp là cái gì, ta sẽ thấy điều đó qui gọn vào hai mục tiêu: Tự do và Bình
đẳng”31. Theo Rousseau, “mọi ngƣời sinh ra tự do và làm chủ lấy mình,

28

Vickie B. Sullivan (2004), loc. cit., p.82.

quyền quân chủ chuyên chế
Triết gia cận đại phƣơng Tây kế thừa và phát triển học thuyết triết học
chính trị của Machiavelli theo hƣớng ủng hộ nhà nƣớc quân chủ chuyên chế rõ
ràng nhất là Thomas Hobbes. Ủng hộ chế độ quân chủ chuyên chế, nhƣng
Hobbes không đồng nhất ý chí của vua với luật pháp. Theo Hobbes, mọi hoạt
32

Jean Jacques Rousseau (1992), sđd, tr.155.
Thomas Hobbes (1651), loc. cit., p.111.
34
Thomas Hobbes (1651), loc. cit., p.113.
35
Montesquieu (2010), sđd, tr.141.
36
Jean-Jacques Rousseau (2014), loc. cit.
33


20

động của con ngƣời (kể cả vua) và xã hội phải tuân theo luật của tự nhiên và
lý tính. Triết học chính trị của Hobbes hƣớng tới lợi ích chung chứ không vì
lợi ích của thiểu số hoặc cá nhân ngƣời đứng đầu nhà nƣớc. John Locke cũng
đƣợc xem là ngƣời tiếp nối tinh thần của Machiavelli nhƣng không phải với
những ý tƣởng ủng hộ sự tập trung quyền lực tuyệt đối vào tay một ngƣời mà
là sự phản kháng quyết liệt chế độ quân chủ chuyên chế và cổ vũ cho sự bình
đẳng, tự do của mọi ngƣời. Locke khẳng định: “Quyền lực độc đoán chuyên
chế, hoặc việc cai trị mà không có luật ổn định, cả hai điều này đều không phù
hợp với mục đích của xã hội và chính quyền”37. Ông còn chứng minh rằng chế
độ chuyên chế và mọi hình thức cai trị chuyên quyền độc đoán đều không phải

những tài năng nhỏ mọn, một khi giành đƣợc địa vị chúng sẽ bộc lộ những
điều xuẩn ngốc. Khuyết điểm này làm cho chế độ quân chủ thua hẳn chế độ
dân chủ”40.
3.2.2. Sự ủng hộ chế độ cộng hòa và tƣ tƣởng về xây dựng nhà nƣớc pháp
quyền qua tƣ tƣởng một số triết gia tiêu biểu phƣơng Tây cận đại
Các nhà triết học chính trị phƣơng Tây cận đại ủng hộ mô hình chính
quyền dân chủ cộng hòa không còn tỏ ra dè dặt nhƣ Machiavelli. Baruch
Spinoza “coi hình thức nhà nƣớc tốt nhất là nền dân chủ”41. Spinoza còn cho
rằng nhà nƣớc dân chủ “tự nhiên hơn cả, gần với tự do hơn cả, điều mà tự
nhiên ban cho mỗi ngƣời” 42. Hơn nữa, “trong nhà nƣớc dân chủ - Spinoza viết
- ít phải lo sợ những điều ngu xuẩn, bởi vì hầu nhƣ không thể có chuyện đa số
trong hội đồng, nếu nhƣ nó to lớn thực sự, lại nhất trí một điều ngu xuẩn”43.
Xuất phát từ nhận thức về bản chất con ngƣời và trạng thái chiến tranh
của mỗi ngƣời chống lại mỗi ngƣời trong một xã hội hoàn toàn tự nhiên chƣa
đƣợc tổ chức thành nhà nƣớc, Hobbes chỉ ra con đƣờng tất yếu để bảo tồn con
ngƣời và xã hội loài ngƣời là phải thành lập nhà nƣớc pháp quyền phù hợp với
luật tự nhiên phổ quát. Hobbes giải thích rằng trong trạng thái tự nhiên, ai
cũng có quyền tuyệt đối với mọi hành động của mình nên không ai có sự an
toàn thật sự. Lý trí con ngƣời mách bảo và thôi thúc họ đi đến thỏa thuận với
nhau để tạo ra một quyền lực chung. Quyền lực chung hợp pháp ấy sẽ điều
chỉnh hành vi của mọi ngƣời bằng pháp luật. Tƣơng tự, John Locke viết: “Vì
mục đích của xã hội dân sự là tránh và khắc phục những phiền phức của trạng
40

Jean Jacques Rousseau (1992), sđd, tr.112.
Các học giả Liên bang Nga (2001), sđd, tr.251.
42
Các học giả Liên bang Nga (2001), sđd, tr.251.
43
Các học giả Liên bang Nga (2001), sđd, tr.252.

44

John Locke (1982), loc. cit., p.53-54.
Jean Jacques Rousseau (1992), sđd, tr.69.
46
Jean Jacques Rousseau (1992), sđd, tr.141.
45



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status