ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
………………………………… VŨ THỊ THƠ
ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG NHO GIÁO
VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TRỜI VÀ NGƯỜI
TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM
(QUA “ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ”)
Luận văn Thạc sĩ
HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
…………………………………
VŨ THỊ THƠ
ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG NHO GIÁO
VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TRỜI VÀ NGƯỜI
TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM
(QUA “ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ”)
2.2. Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về mối quan hệ giữa trời và người
trong Đại Việt sử ký toàn thư 80
KẾT LUẬN 118
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nho giáo là một học thuyết triết học, học thuyết đạo đức, chính trị - xã
hội do Khổng Tử sáng lập ở Trung Hoa cuối thời Xuân Thu đã trải qua quá
trình phát triển với nhiều biến cố, thăng trầm. Từ thời Xuân Thu - Chiến
Quốc, qua các triều đại phong kiến đến phong trào Ngũ Tứ 1919, do phù
hợp với nhu cầu cai trị của giai cấp phong kiến Trung Quốc, Nho giáo được
xếp hàng đầu trong “cửu lưu thập gia” thời tiên Tần và là dòng chính của
văn hóa Trung Quốc. Sở dĩ, Nho giáo có thể đóng vai trò là hệ tư tưởng
chính thống của chế độ phong kiến tập quyền Trung Hoa bởi những tư
tưởng chính trị - đạo đức của nó, vốn được xây dựng trên một cơ sở triết
học vững chắc, đã phục vụ rất đắc lực cho mục đích cai trị của giới cầm
quyền phong kiến. Vì vậy, việc khái quát tư tưởng triết học Nho giáo nói
chung, tư tưởng Nho giáo về trời, về người và mối quan hệ giữa trời và
người nói riêng là việc làm khá hữu ích để hiểu, lý giải những triết lý cai trị
và quan niệm đạo đức của các triều đại phong kiến Trung Quốc.
Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc thuộc. Trong suốt thời
gian đầu, Nho giáo bị chống đối bởi phần lớn người Việt Nam, nhưng sau
đó, Nho giáo đã được các triều đại phong kiến Việt Nam: Lý, Trần, Lê,
Nguyễn tiếp nhận và sử dụng nhằm xây dựng quốc gia phong kiến Việt
Nam độc lập, tự chủ. Quá trình đó đã tạo điều kiện để Nho giáo trở thành
một bộ phận quan trọng của kiến trúc thượng tầng xã hội, là ý thức hệ của
các triều đại phong kiến Việt Nam. Không ai có thể phủ nhận rằng, tư tưởng
Nho giáo nói chung, tư tưởng Nho giáo về mối quan hệ giữa trời và người
ảnh hưởng đậm nét và sâu sắc trong tư tưởng của người Việt Nam, chi phối
của tư tưởng Nho giáo về mối quan hệ giữa trời và người trong lịch sử tư
tưởng Việt Nam (qua Đại Việt sử ký toàn thư)” để nghiên cứu trong luận
văn Thạc sỹ triết học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Ở Việt Nam, liên quan đến đề tài từ trước đến nay, đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu. Trước hết phải kể đến các công trình nghiên cứu về
Nho giáo và ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam:
Ở lĩnh vực này, lại có hai hướng: hướng thứ nhất, nghiên cứu về Nho
giáo thông qua các tác phẩm kinh điển, sách vở của các nhà Nho; hướng thứ
hai, nghiên cứu về sự thể hiện của Nho giáo trong đời sống tư tưởng và xã
hội, con người Việt Nam kể từ khi Nho giáo du nhập vào Việt Nam.
Tiêu biểu cho những nghiên cứu về Nho giáo thông qua các tác phẩm
kinh điển, sách vở của các nhà Nho là các công trình nghiên cứu của Phan
Bội Châu, Trần Trọng Kim, Quang Đạm.
Trong cuốn Khổng học đăng của Phan Bội Châu và Nho giáo của Trần
Trọng Kim, các tác giả đã thông qua việc trình bày, phân tích một số phạm
trù, nguyên lý cơ bản của Nho giáo trong quá trình hình thành, phát triển
của nó để khẳng định, Nho giáo là một học thuyết triết học, học thuyết
chính trị - xã hội, học thuyết đạo đức. Cả hai ông đều đặc biệt đề cao những
yếu tố, nhân tố tích cực của Nho giáo, coi đạo đức Nho giáo có vai trò to
lớn trong việc giáo dục, hoàn thiện đạo đức con người và ổn định trật tự, kỷ
cương xã hội. Qua những nghiên cứu này, chúng ta cũng có thể thấy, thế
giới quan Nho giáo nói chung, tư tưởng Nho giáo về trời, về người, về mối
quan hệ giữa trời và người nói riêng được các tác giả trình bày rải rác thông
qua việc tìm hiểu, đánh giá tư tưởng của các nhà Nho tiêu biểu của Trung
Quốc. Đồng thời, chúng ta cũng có thể thấy, tư tưởng về mối quan hệ giữa
trời và người của Nho giáo ảnh hưởng thế nào tới tư tưởng chính trị, tư
tưởng đạo đức của các nhà Nho.
Khác với hai công trình trên của Phan Bội Châu và Trần Trọng Kim -
thiên về ca ngợi và mong muốn giữ lại nhiều giá trị của Nho giáo, nhất là
Trong cuốn Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1, do Giáo sư Nguyễn Tài
Thư chủ biên đã trình bày khái quát ảnh hưởng của cả ba hệ tư tưởng Nho,
Phật, Lão từ khi du nhập vào Việt Nam cho tới thế kỉ XIX, trong đó, những
ảnh hưởng của quan niệm về trời, mệnh trời của Nho giáo cũng được tác giả
phân tích và minh chứng bằng nhiều ví dụ cụ thể.
Trong cuốn Bản sắc văn hóa Việt Nam, Giáo sư Phan Ngọc đã phân
tích cho thấy, những phạm trù cơ bản của Nho giáo như trung, hiếu, nhân,
nghĩa… khi vào Việt Nam cũng đã bị khúc xạ, đã được người Việt Nam
tiếp biến. Do vậy, những phạm trù này ở các nhà Nho Việt Nam có nội hàm
rộng hơn, phong phú hơn, mang nhiều yếu tố, tính chất nhân văn, nhân bản
hơn. Và theo ông, chỉ như vậy, Nho giáo mới đóng một vai trò quan trọng
đối với lịch sử của dân tộc và ảnh hưởng nhất định đến nhiều mặt của văn
hóa Việt Nam.
Hướng nghiên cứu thứ hai này cũng được thể hiện ở một số công trình
tiêu biểu trong mỗi giai đoạn phát triển của xã hội phong kiến Việt Nam.
Điển hình nhất là những nghiên cứu của Giáo sư Nguyễn Duy Hinh, như:
thời Lý, ông có nghiên cứu Hệ tư tưởng Lý; thời Trần, ông viết Hệ tư tưởng
Trần; thời Lê, ông viết Hệ tư tưởng Lê.
Ngoài ra, liên quan tới hướng nghiên cứu về Nho giáo và ảnh hưởng của
Nho giáo ở Việt Nam còn có rất nhiều những luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và
những bài viết được đăng ở các tạp chí Triết học, Nghiên cứu lịch sử, Văn học…
Liên quan tới đề tài trong luận văn này, chúng ta còn phải kể đến các
công trình nghiên cứu về bộ Đại Việt sử ký toàn thư.
Các nghiên cứu từ trước tới nay về bộ sử này thường đi theo hai
khuynh hướng chính: tìm hiểu về các tác giả đã tham gia soạn thảo, biên
chép Đại Việt sử ký toàn thư và nghiên cứu những nội dung tư tưởng được
phản ánh qua bộ sử.
Nghiên cứu về các tác giả đã tham gia soạn thảo, biên chép bộ Đại Việt
sử ký toàn thư có thể kể đến các công trình, bài viết sau: Bài viết của Trần
Văn Giáp: “Lược khảo về bộ Đại Việt sử ký toàn thư cùng tác giả của nó”,
nhận xét: “Có thể nói, khái niệm dân sinh lần đầu tiên đã được sử dụng
trong Đại Việt sử ký toàn thư theo đúng nghĩa của từ này” [57,tr 18] và
“Nhà nước phong kiến nào trong lịch sử cũng đều giương cao ngọn cờ nhân
nghĩa an dân, lấy đó làm thước đo sự thịnh trị của đất nước và tính đúng đắn
trong đường lối trị nước của triều đại mình” [57,tr 15].
Nhìn chung, những nghiên cứu nêu trên đều đã có những trình bày,
phân tích ít nhiều về tư tưởng Nho giáo về mối quan hệ giữa trời và người
và ảnh hưởng của tư tưởng này ở Việt Nam qua bộ Đại Việt sử ký toàn thư.
Tuy nhiên, cho đến nay, một công trình nghiên cứu có hệ thống, mang tính
chất tổng hợp, có sự so sánh cụ thể giữa các thời kì về vấn đề này là chưa
có. Do vậy, trên cơ sở kế thừa những công trình đi trước, những nghiên cứu
trong luận văn này hướng tới sự phân tích, tổng hợp, so sánh tư tưởng Nho
giáo về mối quan hệ giữa trời và người và ảnh hưởng của nó trong tư tưởng
Việt Nam qua Đại Việt sử ký toàn thư.
3. Mục đích và nhiệm vụ
a. Mục đích: Tìm hiểu những giá trị và hạn chế chủ yếu trong tư tưởng
của Nho giáo về mối quan hệ giữa trời và người và phạm vi ảnh hưởng của
nó trong tư tưởng chính trị, tư tưởng đạo đức ở Việt Nam thể hiện trong bộ
Đại Việt sử ký toàn thư.
b. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung làm rõ những nội dung
chủ yếu sau đây:
- Trình bày một cách có hệ thống tư tưởng Nho giáo về trời, về người,
về mối quan hệ giữa trời và người.
- Trình bày bối cảnh ra đời, về các tác giả và quá trình biên soạn và giá
trị của bộ Đại Việt sử ký toàn thư.
- Trình bày ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về mối quan hệ giữa trời
và người trên lĩnh vực chính trị và đạo đức trong Đại Việt sử ký toàn thư.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là nội dung tư tưởng Nho giáo về mối quan hệ
Chương 2. Tư tưởng Việt Nam ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho giáo về
mối quan hệ giữa trời và người qua bộ Đại Việt sử ký toàn thư, với 2 tiết.
CHƢƠNG 1
TƢ TƢỞNG CỦA NHO GIÁO
VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TRỜI VÀ NGƢỜI
Trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc, có một truyền thống là các nhà tư
tưởng thường xuất phát từ quá khứ, lựa chọn lấy cái “sở đắc” rồi từ đó vận
dụng cho phù hợp với thời đại của mình. Quá trình ra đời, tồn tại và phát
triển của Nho giáo cũng theo truyền thống đó. Nho giáo do Khổng Tử (551
- 479 Tr.CN) sáng lập ở Trung Quốc cuối thời Xuân Thu thực chất cũng là
kết quả của một sự kế thừa. Trên cơ sở kho tàng văn hóa truyền thống
Trung Quốc có từ thời Hạ - Ân -Thương - Chu, Khổng Tử đã tổng kết, “san
định” những kinh sách đầu tiên của Nho giáo (Thi, Thư, Lễ, Dịch), với
phương châm “thuật nhi bất tác” cái đạo lớn của thánh hiền. Khi Khổng Tử
mất, học trò của ông mỗi người lĩnh hội một phần đạo lý đó, bổ sung, phát
triển thêm lên cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế, dẫn tới tình trạng Nho
giáo từ sau Khổng Tử mất chia làm nhiều phái: Mạnh Tử, Tuân Tử; Đổng
Trọng Thư (Hán Nho); Chu Đôn Di, Trương Tái, Trình Hạo, Trình Di, Chu
Hy (Tống Nho)…
Với tư cách là một học thuyết triết học, Nho giáo cũng đưa ra hệ thống tư
tưởng về trời, về người, về mối quan hệ giữa trời và người. Những quan
niệm đó thể hiện rất phong phú trong thế giới quan của các nhà Nho tiêu
biểu từ Nho giáo tiên Tần đến Hán Nho, Tống Nho sau này, từ đó cho thấy
những mạch tư duy chuyển tiếp liên tục một cách lôgíc. Tuy nhiên, cùng
một vấn đề nhưng mỗi nhà Nho trong những thời kỳ khác nhau lại có cách
lý giải theo lập trường duy vật, duy tâm, nhất nguyên, nhị nguyên khác
nhau. Ngay trong mỗi thời đại, quan niệm của các nhà tư tưởng cũng đã có
sự khác nhau ít nhiều. Sự phong phú trong tư tưởng của các nhà Nho là kết
được xem là vị thần tối cao có nhân cách. Qua những dẫn chứng có thể
thấy, trời sinh ra vũ trụ, con người, chi phối cuộc sống của con người. Đây
là những quan niệm hoàn toàn mang tính chất duy tâm thần bí.
Khổng Tử - người sáng lập ra đạo Nho, ông ít khi nói về trời và mệnh
trời. Như trong sách Luận ngữ có ghi lời Tử Cống nói rằng: “Phu Tử nói về
văn chương chúng ta thường được nghe, Phu Tử nói về bản tính và đạo trời,
chúng ta không thường được nghe” [23,tr 298]. Tuy nhiên, quan niệm về trời
và mệnh trời vẫn giữ vai trò quan trọng trong học thuyết của ông.
Nhiều đoạn trong Luận ngữ thể hiện rõ Khổng Tử cũng coi trời là
một đấng chúa tể của vũ trụ. Ông từng nói rằng: “Hồi mười năm tuổi ta đã
để tâm trí vào việc học, ba mươi tuổi trí đã kiên định, bốn mươi tuổi không
còn ngờ vực, năm mươi tuổi biết mệnh trời” [23,tr 216]. Hay “Trời sinh ra
ta có đức” [23,tr 360], rồi “mắc tội với trời, trốn đâu cho khỏi” [23,tr 250].
Có lúc, Khổng Tử lại coi mệnh trời có ý nghĩa quyết định đối với thân phận,
số phận của con người: “Sống chết có mệnh, giàu sang do trời” [23,tr 476]
và đến mọi việc của con người: “Đạo có ta có được thi hành hay không là
do mệnh trời, phải phế bỏ cũng do mệnh trời” [23,tr 553]. Nhưng mặt khác,
cũng trong Luận ngữ, trời còn được Khổng Tử lý giải như quy luật tự nhiên:
“Trời có nói gì chăng? Bốn mùa cứ vận hành, các loài vật sinh sôi, nẩy nở”
[23,tr 630].
Như vậy, với quan niệm về trời và mệnh trời như trên, rõ ràng tư
tưởng của Khổng Tử đã thể hiện lập trường duy vật, duy tâm lẫn lộn. Tuy
nhiên, xét đến cùng, quan niệm của Khổng Tử về trời về cơ bản là duy tâm.
Sau này, quan niệm duy tâm đó của ông được nhiều nhà Nho tiếp tục và
phát triển.
Đến Mạnh Tử (372 - 289 Tr.CN) - nhà Nho tiêu biểu thời Chiến
Quốc, quan niệm duy tâm về trời và mệnh trời của Khổng Tử không chỉ
được ông tiếp tục, cụ thể hóa mà còn được ông bổ sung, phát triển.
Trong sách Mạnh tử, đúng là có lúc ông thể hiện quan điểm duy vật
khi coi trời là giới tự nhiên, là tổng thể vũ trụ: “Trời cao lồng lộng, các ngôi
đạo trời.
Đổng Trọng Thư (170 - 104 Tr.CN) là một nhà Nho được ví như
“ông Khổng thời Hán”. Ông có nhiều công lao trong việc đưa Nho học lên
địa vị độc tôn. Đổng Trọng Thư đã kết hợp quan niệm duy tâm của Nho
giáo Khổng - Mạnh với học thuyết Âm dương, ngũ hành để sáng tạo ra một
vị thần có nhân cách đứng trên cả vũ trụ - có ý thức, có đạo đức - đó là trời.
Theo Đổng Trọng Thư, trời là vị chúa tể tối cao chi phối tự nhiên và
xã hội, là ông tổ của vạn vật. Vai trò to lớn đó của trời được ông khẳng định
qua những câu nói như: “Trời là tổ của vạn vật, bao trùm khắp cả mà không
riêng tư” [Dẫn theo 59,tr 372], trời đặt ra mặt trời, mặt trăng, mưa gió để
điều hòa mọi vật, có âm dương, nóng lạnh để dựng ra mọi vật. Cho nên, nhà
vua, bậc thánh nhân bắt chước theo trời mà đặt ra đạo, cũng yêu thương
khắp cả mà không riêng tư. Ban bố thi hành nhân đức để làm cho đạo ấy
đầy đủ, đặt ra lễ nghĩa để dạy cái đạo ấy. Mùa xuân là cái trời dùng để sinh
ra mọi vật. Đạo người là cái nhà vua dùng để yêu thương. Mùa hạ là cái trời
dùng để làm cho mọi vật lớn lên, đức là cái nhà vua dùng để nuôi dưỡng.
Hình phạt là cái nhà vua dùng để trừng phạt [Dẫn theo 59,tr 374].
Tính chất duy tâm thần bí của Đổng Trọng Thư còn biểu hiện khi ông
cho rằng, trời có vai trò, uy quyền to lớn như vậy, cho nên, mọi sự vật, hiện
tượng cũng như mọi quá trình biến hóa của tự nhiên, sự biến đổi, hưng vong
của xã hội đều là sự an bài, có mục đích của trời. Hoàng đế là con của trời
nên được gọi là “thiên tử”. Âm dương, ngũ hành đều là thể hiện của mệnh
trời. Trời lấy dương làm mặt chủ đạo, lấy âm làm mặt phụ thuộc, dương
quý mà âm tiện. Như Đổng Trọng Thư nói: “Lẽ thường của trời đất là một
Âm một Dương. Dương là đức của trời, Âm là hình phạt của trời”… , “Đạo
trời lấy ba mùa: xuân, hạ, thu sinh thành và lấy một mùa đông gây chết
chóc” [Dẫn theo 27,tr 203]. Nhưng với ông, “Trời tín nhiệm Dương chứ
không tín nhiệm Âm, hiếu đức chứ không thích trừng phạt”.
Có thể thấy, trong hệ thống triết học của Đổng Trọng Thư nói chung,
quan niệm về trời của Đổng Trọng Thư nói riêng về căn bản dựa vào quan
tưởng chính thống. Đó chính là mảnh đất tốt để Nho giáo phát triển hưng
thịnh. Nếu như Hán Nho cho thấy tư tưởng duy tâm của Khổng Tử và Mạnh
Tử được kết hợp với thuyết Âm dương, ngũ hành, thì Nho giáo đời Tống
được bổ sung bằng các tư tưởng của Phật, Đạo, và do đó, đã sáng tạo nên
một hình thức mới của Nho học là Lý học. Điều này khiến cho “Tống nho
có hệ thống lý luận tinh vi, chặt chẽ và sâu sắc hơn nhiều so với Nho giáo
truyền thống” [4,tr 515].
Trong hệ thống triết học của Tống Nho chủ yếu tập trung lý giải các
cặp phạm trù triết học cơ bản “lý - khí” (đạo - khí), “tâm” - “vật” (tri -
hành). Qua đó, tư tưởng về trời - người, mối quan hệ giữ trời và người được
bộc lộ rõ rệt.
Về trời, trong quan niệm của Chu Đôn Di (1017 - 1073) - triết gia mở
đường cho lý học đời Tống - Minh cho rằng, “thái cực” bao hàm trong nó
hai thể động và tĩnh, tự vận động, biến hóa mà sinh ra Âm - Dương. Âm,
dương là hai mặt đối lập nhưng liên hệ, tương tác nhau mà sinh ra năm yếu
tố vật chất: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Sự tương tác của âm và dương, theo
ông cũng chính là nguồn gốc sinh ra con người, vạn vật và làm lên sự biến
đổi trong thế giới. Ông nói: “Vô cực rồi thái cực. Thái cực động rồi sinh ra
khí dương, động đến cùng cực rồi lại tĩnh, tĩnh rồi sinh ra khi âm, tĩnh đến
cùng cực rồi trở lại về động … Rồi khí dương cứ biến động, khí âm cứ hợp
theo, mà sinh ra kim, mộc, thủy, hỏa và thổ. Năm chất khí cứ thuận theo thế
mà lan tràn ra và bốn mùa theo đó mà xoay vần. Đạo kiền thành ra nam, đạo
khôn thành ra nữ … Khí giao cảm với nhau mà hóa sinh muôn vật, biến hóa
vô cùng” [Dẫn theo 59,tr 517].
Theo Chu Đôn Di, sự biến hóa của vạn vật bắt nguồn từ sự tương tác
giữa Âm - Dương chính là sự thể hiện của đức lớn của trời đất. Ông viết
trong sách Thông thư như sau: “Giời lấy khi dương sinh ra muôn vật, lấy
khí âm để hoàn thành muôn vật. Sinh ra đó là nhân, hoàn thành đó là nghĩa.
Cho nên, bậc thánh nhân ở bên trên lấy nhân mà tạo ra muôn vật, lấy nghĩa
mà uốn nắn muôn vật. Đạo giời được thực hành cho nên muôn vật đã thuận
cô độc mà phải có đôi, đều là tự nhiên thế”. “Muôn vật không có cái nào
không có đôi, một âm - một dương. Dương lớn lên thì âm tiêu đi. Lý ấy suy
ra rộng lắm thay, người ta chỉ cần biết lý ấy mà thôi”. Trình Di: “Dùi cây
lấy lửa, người ta bảo lửa sinh ra từ gỗ, không đúng. Hai vật cọ sát vào nhau
dùng nhiều sức thì khi dương sinh. Nay lấy đá sát vào nhau thì cũng ra lửa,
không phải chỉ riêng gì gỗ, bởi vì trong trời đất không có một vật nào không
có âm - dương” [Dẫn theo 59,tr 571].
Ở đây, chúng ta thấy Trình Hạo, Trình Di, khi lý giải về mối quan hệ
lý - khí và vai trò của lý và khí trong việc sinh thành ra vạn vật, con người
đã thể hiện quan điểm biện chứng. Nhưng không dừng lại ở đó, Nhị Trình
còn đồng nhất lý với trời. Như họ nói: “trên trời chỉ có một lý”, “về lý mà
nói tức là trời” [Dẫn theo 59,tr 572], rồi “vạn vật đều cùng một thiên lý”.
Với Nhị Trình, lý là cái tuyệt đối, vĩnh cửu, không thể thêm, bớt, không thể
sờ thấy, không thể nghe thấy, nhưng nó vẫn tồn tại: “Lý như là hư không,
chẳng có gì mà lại đủ cả, cái ấy làm sao nói được còn mất, thêm bớt”. Khi
đồng nhất lý với trời, về thực chất trong quan niệm của Nhị Trình, lý chẳng
qua chỉ là tên gọi khác của trời mà thôi.
Mặc dù Trình Hạo và Trình Di đều khẳng định “trên trời chỉ có một
lý”, “vạn vật đều cùng một thiên lý”, nhưng quan điểm về lý - trời của Trình
Hạo và Trình Di cũng có điểm khác nhau. Nếu Trình Hạo gọi “Thiên Lý tức
lý tức tâm”, thì Trình Di lại cho rằng: “lý tức là từ trời, gọi là thiên lý”,
nhưng nó có ở tâm con người, “Ở trời là mệnh, ở nghĩa là lý, ở người là
tích, chủ của nó là tâm” [Dẫn theo 4,tr 532].
Sự khác biệt trong tư tưởng về lý - trời này ở Trình Hạo, Trình Di thì
khó có thể phân định rạch ròi. Tuy nhiên, nó chính là nguồn gốc để có
người cho rằng: “Trình Di là người sáng lập ra phái Lý học của Nho gia,
sau này được Chu Hy hoàn thiện, còn gọi là phái Trình Chu. Trình Hạo
sáng lập ra một phái khác được kế tục bởi Lục Cửu Uyên và được phát triển
đến đỉnh cao bởi Vương Thủ Nhân đời Minh. Phái này gọi là Tâm học, hay
phái Lục Vương” [4,tr 526].
59,tr 596]. Có người hỏi ông, phải có cái lý ấy rồi sau mới có cái khí ấy,
vậy thì thế nào? Ông trả lời: “cái đó vốn không thể nói được cái nào có
trước, cái nào có sau nhưng muốn thu tới nguồn gốc của nó, thì phải nó
rằng trước là có cái lý ấy”. Nhưng “lý” không phải là một vật gì khác, mà
vẫn tồn tại trong cái khí ấy, không có cái khí ấy thì cái lý ấy sẽ không có
chỗ “treo mắc”. Khí tức là kim, mộc, thủy, hỏa; lý tức là nhân, lễ, nghĩa, trí
[Dẫn theo 59,tr 596].
Ở đây, Chu Hy bộc lộ quan điểm duy tâm khách quan khá rõ trong
việc lý giải mối quan hệ giữa lý và khí. Ông không thừa nhận tinh thần (lý)
được sinh ra từ vật chất (khí), ngược lại, ông đã đem tinh thần đối lập với
vật chất, coi cái vật chất chỉ là biểu hiện của cái tinh thần.
Cũng qua quan điểm của Chu Hy về lý - khí, chúng ta thấy, nếu như
trước đây, Hán Nho coi trời là thực thể cao nhất, quyết định sự sinh hóa của
muôn vật, con người, nhân luân của con người, nhưng trong tư tưởng của
Chu Hy, sự tương tác, hòa hợp giữa lý - khí mới là nguồn gốc của con
người, vạn vật trong vũ trụ; trời, đất thậm chí chỉ là sản phẩm của sự tương
tác ấy. Ông viết: “Hỏi: thời gọi là trước khi có giời đất, thì chung quy trước
đó có “lý” không? Đáp: trước khi chưa có trời đất thì chung quy cũng có
“lý”. Có cái “lý” ấy thì mới có trời đất ấy, nếu không có cái lý ấy thì cũng
không có trời đất, không có con người, không có muôn vật, và tất cả đều
không có. Có “lý” mới có khí lưu hành và sinh ra muôn vật” [Dẫn theo 59,tr
599]. Có thể thấy, trong quan niệm của Chu Hy, lý là cái bản nguyên, cái có
trước. Trời đất, vạn vật và cũng là kết quả của sự vận động, tương tác giữa
lý - khí mà thôi.
Rõ ràng, mối quan hệ giữa lý - khí được Chu Hy nhìn nhận theo quan
điểm duy tâm khách quan. Ông đã sử dụng nó làm cơ sở để giải thích các
mối quan hệ trong xã hội. Theo ông, lễ, nghĩa, trí, tín là đạo lý. Hợp năm
yếu tố đó lại tạo thành cái thiên lý - là cái trọn vẹn duy nhất. Nhân, lễ,
nghĩa, trí, tín là các quy phạm đạo đức, nhưng vì nó là lý nên nó không có
hình dạng. Vì vậy, nó cần phải có ngũ luân (năm mối quan hệ của con