MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI VÀ XUẤT NHẬP KHẨU - Pdf 68

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI VÀ XUẤT
NHẬP KHẨU
I. Đầu tư trực tiếp nước ngoài
1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Khái niệm đầu tư quốc tế:
Đầu tư quốc tế là một hình thức của quan hệ kinh tế quốc tế trong đó nhà đầu tư
di chuyển các phương tiện đầu tư ra nước ngoài nhằm mục đích kinh doanh thu lợi
hoặc đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội khác.
Về bản chất, đầu tư quốc tế là hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn
của xuất khẩu hàng hóa. Đây là hai hình thức xuất khẩu luôn bổ sung và hỗ trợ nhau
trong chiến lược thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường của các công ty, tập đoàn nước
ngoài hiện nay. Trong nhiều trường hợp việc buôn bán hàng hóa ở nước sở tại là đi tìm
kiếm thị trường, tìm hiểu luật lệ để đi đến quyết định đầu tư. Ngược lại, việc thành lập
các doanh nghiệp đầu tư ở nước nhận đầu tư là điều kiện để xuất khẩu máy móc, vật tư,
nguyên vật liệu và khai thác tài nguyên của nước này. Cùng với hoạt động thương mại
quốc tế, hoạt động đầu tư quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, hợp thành những dòng
chính trong trào lưu có tính qui luật trong liên kết hợp tác kinh tế quốc tế hiện nay.
Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign direct investment - FDI):
FDI là hình thức đầu tư rất phổ biến của đầu tư quốc tế, vì vậy có rất nhiều cách
định nghĩa FDI của các tổ chức khác nhau:
Theo định nghĩa của IMF (International Monetary Fund) trong Balance of
payments manual, Fifth edition, 1993: đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình đầu tư
quốc tế mà nhà đầu tư nước này đặt lợi ích dài hạn trong các công việc đầu tư và kinh
doanh ở doanh nghiệp tại một nước khác. Mục tiêu của nhà đầu tư là giành được một
mức độ ảnh hưởng hiệu quả trong quản lý.
Theo định nghĩa của OECD trong The Detailed Benchmark Definition of
Foreign Investment, Third edition, 1996: đầu tư trực tiếp nước ngoài thể hiện mục tiêu
đạt được lợi ích dài hạn của một nhà đầu tư vào một nền kinh tế. Lợi ích dài hạn nghĩa
là sẽ tồn tại một mối quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp; và nhà
đầu tư sẽ có một mức độ ảnh hưởng đáng kể trong quản lý doanh nghiệp.

i) Các chủ đẩu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu tùy theo quy
định của luật đầu tư từng nước. Tùy thuộc vào tình hình kinh tế, mục tiêu thu hút vốn
và nhu cầu quản lý, các nước quy định các tỷ lệ góp vốn tối thiểu khác nhau. IMF đưa
ra một ngưỡng góp vốn tối thiểu là 10% tổng vốn đầu tư.
ii) Quyền điều hành doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn của chủ đầu tư
trong vốn pháp định. Mức độ góp vốn càng cao thì mức độ ảnh hưởng của nhà đầu tư
càng lớn. Nếu góp 100% vốn pháp định thì nhà đầu tư toàn quyền quyết định hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Việc nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào quá trình điều
hành quản lý doanh nghiệp giúp đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
iii) Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động
kinh doanh và được chia theo tỷ lệ góp vốn trên vốn pháp định sau khi đã nộp thuế cho
nước sở tại và trả cổ tức nếu có. Với FDI, các nhà đầu tư tự mình hạch toán lợi nhuận
và chịu trách nhiệm về việc kinh doanh của mình do đó không để lại gánh nặng nợ nần
cho nền kinh tế.
iv) FDI thường đi kèm với chuyển giao công nghệ. Dù có hay không có chủ ý thì
trong quá trình chuyển vốn vào một nước nhà đầu tư cũng đem lại kèm theo dòng vốn
đó máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất…. Hơn nữa, để hoạt động có hiệu quả nhà
đầu tư cũng sẽ áp dụng những kinh nghiệm quản lý mới và tăng cường đào tạo nhân
lực. Chính vì đặc điểm này mà các nước, đặc biệt là các nước đang phát triến luôn chú
trọng thu hút FDI để nhanh chóng hiện đại hóa nền kinh tế.
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến FDI
2.1. Các nhân tố liên quan đến nước chủ đầu tư
Các biện pháp liên quan trực tiếp đến đầu tư ra nước ngoài và một số biện pháp
khác có liên quan gián tiếp đến đầu tư ra nước ngoài các của các nước có ảnh hưởng rất
lớn đến việc định hướng và đến lượng vốn của nước đó chảy ra nước ngoài. Các nước
có thể có các biện pháp khuyến khích, hỗ trợ cho các chủ đầu tư nước mình tiến hành
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và trong những trường hợp cần thiết, cũng có thể áp dụng
các biện pháp để hạn chế, hoặc cấm đầu tư ra nước ngoài.
Các biện pháp khuyến khích đầu tư trực tiếp ra nước ngoài bao gồm: Tham gia
ký kết các hiệp định song phương và đa phương về đầu tư hoặc có liên quan đến đầu tư;

trường; khả năng tiếp cận thị trường khu vực và thế giới; các sở thích đặc biệt của
người tiêu dùng ở nước nhận đầu tư và cơ cấu thị trường.
Các chủ đầu tư tìm kiếm nguồn nguyên liệu và tài sản sẽ quan tâm đến tài
nguyên thiên nhiên; lao động chưa qua đào tạo với giá rẻ; lao động có tay nghề; công
nghệ, phát minh, sáng chế và các tài sản do doanh nghiệp sáng tạo ra (thương hiệu, ...);
cơ sở hạ tầng phần cứng (cảng, đường bộ, hệ thống cung cấp năng lượng, mạng lưới
viễn thông).
Các chủ đầu tư tìm kiếm hiệu quả sẽ chú trọng đến chi phí mua sắm các nguồn
tài nguyên và tài sản được đề cập ở phần trên, có cân đối với năng suất lao động; các
chi phí đầu vào khác như chi phí vận chuyển và thông tin liên lạc đi/ đến hoặc trong
nước nhận đầu tư; chi phí mua bán thành phẩm; tham gia các hiệp định hội nhập khu
vực tạo thuận lợi cho việc thành lập mạng lưới các doanh nghiệp toàn khu vực.
Thứ ba là các yếu tố tạo thuận lợi trong kinh doanh, bao gồm chính sách xúc
tiến đầu tư; các biện pháp ưu đãi, khuyến khích đầu tư; giảm các tiêu cực phí bằng cách
giải quyết nạn tham nhũng, cải cách thủ tục hành chính để nâng cao hiệu quả hoạt động
của bộ máy quản lý Nhà nước; nâng cao chất lượng các dịch vụ tiện ích xã hội để đảm
bảo chất lượng cuộc sống cho các chủ đầu tư nước ngoài (các trường song ngữ, chất
lượng cuộc sống, ...); các dịch vụ hậu đầu tư. Từ lâu các nước nhận đầu tư đã ý thức
được tầm quan trọng của các yếu tố này, vì vậy các nước thường tìm cách cải tiến các
yếu tố này nhằm tạo thuận lợi nhiều hơn cho các chủ đầu tư.
2.3. Các nhân tố của môi trường quốc tế
Đó là các yếu tố thuộc môi trường kinh tế, chính trị, xã hội toàn cầu có ổn định
hay không, có thuận lợi hay không thuận lợi cho nước chủ đầu tư và nước nhận đầu tư
cũng như cho chính chủ đầu tư khi tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Tình hình
cạnh tranh giữa các nước trong thu hút FDI ảnh hưởng nhiều đến dòng chảy FDI. Để
nâng cao năng lực cạnh tranh trong thu hút FDI các nước sẽ phải cải tiến môi trường
đầu tư, tạo thuận lợi và đưa ra những ưu đãi cho FDI. Nước nào xây dựng được môi
trường đầu tư có sức hấp dẫn cao hơn thì nước đó sẽ có khả năng thu hút được nhiều
FDI hơn. Cùng với môi trường đầu tư ngày càng được cải tiến và càng có độ mở cao,
dòng vốn FDI trên toàn thế giới sẽ dễ dàng lưu chuyển hơn và nhờ vậy lượng vốn FDI

nhà cung cấp chính và phương thức thanh toán cũng phải phù hợp với yêu cầu của
khách hàng nước ngoài và tập quán quốc tế.
2. Các nhân tố tác động đến thương mại quốc tế
2.1. Toàn cầu hóa và khu vực hóa
Quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra trên thế giới hiện nay là sự gia tăng các mối
quan hệ gắn kết, phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới. Toàn
cầu hóa là một xu hướng bao gồm nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội, quân sự, môi trường sinh thái… Trong các mặt đó thì toàn cầu hóa kinh tế vừa là
trung tâm, vừa là cơ sở và cũng là động lực thúc đẩy các lĩnh vực khác của xu thế toàn
cầu hóa. Toàn cầu hóa kinh tế là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt
qua mọi biên giới quốc gia, khu vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế
trong sự vận động phát triển hướng tới một nền kinh tế thế giới hội nhập và thống nhất.
Sự gia tăng của xu thế này được thể hiện ở sự mở rộng mức độ và quy mô thương mại
toàn cầu, sự lưu chuyển của các dòng vốn và lao động trên phạm vi toàn cầu. Toàn cầu
hóa kinh tế được thể hiện chủ yếu ở hai bình diện: mở rộng thị trường tiêu thụ và mở
rộng địa bàn sản xuất. Liên quan tới hai bình diện nói trên là các quá trình tự do hóa
hoạt động kinh tế mà ở đó nổi bật lên ba quá trình chính là tự do hóa thương mại, tự do
hóa tài chính và tự do hóa đầu tư.
Bên cạnh xu thế toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu, ngày
nay xu hướng hình thành và phát triển các liên kết khu vực cũng ngày càng gia tăng.
Liên kết kinh tế khu vực là liên kết giữa hai hay nhiều nước trong phạm vi địa lý nhất
định, đảm bảo mối quan hệ giữ các thành viên trong khu vực và quan hệ với nền kinh tế
thế giới.
Tính ưu việt của các tổ chức kinh tế khu vực là: thực hiện chính sách ưu đãi
trong nội bộ các thành viên về đầu tư tài chính, phát triển kĩ thuật, trao đổi hàng hóa…
Tổ chức kinh tế khu vực còn thực hiện chế độ mậu dịch tự do giữa các nước hoặc giảm
thuế đối với các lĩnh vực sản xuất mũi nhọn, tạo điều kiện phát triển cho mọi thành viên
và sự vững mạnh của cộng đồng. Từ các mối liên minh liên kết khu vực sẽ tạo ra điều
kiện cho các nước hình thành các thị trường thương mại, đầu tư, các trung tâm công
nghiệp khu vực, từ đó sẽ làm hàng rào thuế quan và phi thuế quan bị triệt tiêu, hàng hóa

Bốn là, sự xuất hiện của các các công ty xuyên quốc gia (TNC), một loại cơ cấu
tổ chức kinh doanh quốc tế dựa trên quá trình sản xuất qui mô lớn của nhiều thực thể
kinh doanh quốc tế và quá trình phân phối khai thác thị trường quốc tế nhằm đạt hiệu
quả tối ưu. Song hành với việc thúc đẩy tự do hóa đầu tư, sự phát triển mạnh mẽ của
TNCs còn tạo ra mạng lưới sản xuất toàn cầu, đẩy mạnh liên kết sản xuất và phân công
lao động quốc tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status