TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
CHUYÊN ĐỀ TRIẾT HỌC
“TRIẾT HỌC NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TRONG LỊCH
SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM”
Người hướng dẫn: Gv. Nguyễn Đình Tư
Học viên: Nguyễn Quang Vĩnh
Lớp: Cao học k18A – Nghành QLBVTNR
Khoá học:
Hà Nội, tháng 09 năm 2010
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Triết học Nho giáo của Khổng tử, là một trong những trường phái triết học
chính trị xã hội, tôn giáo lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc được ra đời từ
thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc, nó đã mở đường cho thời kỳ cổ đại, một
thời kỳ có nhiều biến động lớn, toàn diện kéo dài từ thế kỷ thứ VIII tới thế
kỷ thứ III trước Công nguyên (tr. CN) của xã hội Trung Quốc. Học thuyết
Nho giáo do Khổng Tử sáng lập là một kho tàng tri thức về triết học, sử học,
văn học cũng như về phong tục tập quán, nếp sống của đất nước Trung quốc
cổ đại. Khổng Tử đã sưu tập, bảo lưu và nâng cao những giá trị văn hóa của
đất nước Trung hoa cổ đại trong các tác phẩm của mình. Đặc biệt như kinh
thi, kinh thư, kinh lễ. Đồng thời ông đã truyền đạt các tri thức đó cho các thế
hệ học trò của mình. Với tư cách là học thuyết triết học về xã hội và nhân
sinh mà trước hết là một học thuyết chính trị và đạo đức, Nho giáo đã có tác
động mạnh mẽ đến sự phát triển của xã hội Trung Quốc và một số nước
phương Đông trong đó có Việt Nam trên nhiều phương diện, đặc biệt là trên
phương diện tư tưởng văn hoá và phương diện chính trị.
Việt Nam là một nước đã trải qua nhiều thế kỷ, chịu sự đô hộ của các
vương triều phong kiến phương Bắc, hệ tưởng Nho giáo đã có ảnh hưởng
lớn đến đời sống chính trị - xã hội. Trong lịch sử đã có thời kỳ giai cấp
Chiến Quốc, thời kỳ nhà Chu bị suy yếu và có cuộc chiến tranh giữa các
nước chư hầu, thời kỳ biến đổi xã hội, và được phản ánh trường phái triết
học Nho gia (Nho giáo).
Trung quốc là một quốc gia được hình thành từ lâu đời, song phải đến
khoảng thế kỷ thứ XII tr. CN xã hội Trung quốc mới phân chia giai cấp, còn
trước đó là xã hội nguyên thuỷ. Trung Quốc cổ đại trải qua một chế độ xã
hội quá độ lên chế độ phong kiến, xã hội chiếm hữu nô lệ kiểu gia trưởng,
với hình thức xã hội công xã nông thôn. Từ thế kỷ thức VIII đến thế kỷ thứ
III tr. CN là thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ, chế độ tông pháp
của nhà Chu, chuyển sang chế độ phong kiến. Trong đó, nhà nước thống
nhất cai trị nhưng chia thành các khu vực (nước), giao cho các quí tộc thân
thích cai trị. Đứng đầu là nước Tông chủ mệnh danh là Thiên tử. Đứng đầu
các nước nhỏ là Chư hầu, chức cao nhất đó là hầu công. Chư hầu không
được xưng vương và có nghĩa vụ phải phục tùng Tông Chủ.
3
Từ thế kỷ VIII tr.CN xã hội Tông chủ có nhiều biến động lớn lao,
khủng hoảng kéo dài nhất trong lịch sử trung quốc cổ đại. Các nước chư hầu
nhà Chu phân tranh, thôn tính lẫn nhau, khiến cho xã hội đại loạn hàng trăm
năm. Lịch sử gọi đây là thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc. Đó là bước chuyển
tất yếu của lịch sử.
Về mặt lực lượng sản xuất, thời kỳ này đồ sắt xuất hiện thay cho đồ
đồng, đã đem lại sự phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất nông nghiệp và thủ
công nghiệp. Vào thế kỷ VI-V tr. CN đã xuất hiện những thành thị thương
nghiệp buôn bán xuất, nhập nhộn nhịp ở nước Hán, Tề, Tần, Sở. Sự phát
triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất thúc đẩy kinh tế phát triển đã tác động
đến hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai tầng của xã hội. Nhà Chu bị
mất đất, mất dân, địa vị kinh tế ngày càng sa sút và vai trò chính trị ngôi
Thiên tử của nhà Chu chỉ còn là hình thức. Sự phân biệt sang hèn dựa trên
tiêu chuẩn huyết thống của chế độ thị tộc tỏ ra không còn phù hợp nữa mà
đòi hỏi phải dựa trên cơ sở tài sản. Các nước chư hầu nhà Chu không chịu
“Bách gia minh tranh”. Chính trong quá trình đó đã sản sinh ra các nhà tư
tưởng vĩ đại trong đó Khổng Tử là một nhân vật kiệt xuất đã để lại dấu ấn
đậm nét trong lịch sử Trung Quốc và của nhiều nước Á Đông trong suốt hai
ngàn năm trăm năm qua.
1.2. Một số nội dung cơ bản của học thuyết Nho giáo của Khổng Tử
Khổng Tử (551- 479 tr. CN) tên là Khâu, hiệu là Trọng Ni, sinh ra ở
ấp Trâu nước Lỗ, trong một gia đình quý tộc nhỏ bị sa sút. Người kế tục nổi
tiếng của Khổng tử là Mạnh Tử (372-289 tr. CN) và Tuân Tử (313-238 tr.
CN). Thời kỳ này trật tự lễ pháp cũ của nhà Chu đang bị đảo lộn. Đứng trên
lập trường của bộ phận cấp tiến trong giai cấp quý tộc nhà Chu, ông đã chủ
trương lập lại pháp chế kỷ cương bảo vệ địa vị chính trị cho giai cấp mình và
không tiến hành cách mạng, Khổng Tử hệ thống hoá những tri thức, tư
tưởng đời trước và quan điểm của ông thành học thuyết đạo đức - chính trị
nổi tiếng gọi là Nho giáo. Những nội dung tư tưởng cơ bản của triết học Nho
giáo được thể hiện như sau:
- Về thế giới quan: Nho giáo ít bàn đến vấn đề bản thể luận, ít bàn đến
chuyện quỷ thần, song quan niệm về vũ trụ, nhân sinh là nền tảng của học
thuyết chính trị- đạo đức của họ. Xuất phát từ sự kế thừa, phát triển tư tưởng
kinh dịch của Trung Quốc, ông cho rằng mọi sự vật và hiện tượng biến đổi
không ngừng và biến đổi theo đạo (đường) của nó.
Nho gia thừa nhận có trời hay thượng đế, coi trời đất là gốc của thiên
hạ, nhờ có nó mà mọi vật sinh thành biến hoá quan điểm duy vật. Mặt khác
Khổng Tử lại cho đạo là thiên lý, là huyền bí là định phép sống cho mọi vật
và con người, ông coi đó là thiên mệnh mà con người không thể chống lại
5
được. Trời theo quan điểm của Nho gia là cái lý vô hình linh diệu cương
kiện không thể nào cưỡng lại được. Trời là chúa tể của cả vũ trụ. Nguyên lý
vận hành của trời là: Dịch (biến) - Trung - Hoà - Sinh. Trời có ý chí rất
mạnh, khiến cho mọi sự biến hoá trong thế gian đều hợp lẽ điều hoà sinh
biến. Cái ý chí ấy gọi là thiên mệnh. Theo Khổng tử mọi việc trên đời là do
hiện đậm nét ở bộ ba phạm trù Nhân - Lễ - Chính danh, đó là những phạm
trù trung tâm của toàn bộ học thuyết Nho giáo. Học thuyết về nhân sinh
quan của Nho giáo tập trung giải quyết mối quan hệ giữa người với người.
Họ chú trọng nhiều vấn đề chính trị, đạo đức. Chính trị dựa trên nền tảng
đạo đức. Nho gia đặt đạo đức lên vị trí cao nhất, cao hơn cả tiền tài, địa vị,
cả trí tuệ, đó là điều ít thấy ở phương Tây.
- Phạm trù nhân: Nhân là phạm trù giữ vai trò quan trọng. Con người
là kết quả của sự trung hoà âm dương, nên con người phải “trung dung,
trung thứ” nghĩa là sống đúng với mình và sống phải với người. Theo quan
điểm của Khổng tử phạm trù nhân còn hiểu là yêu người, thương người, là
một phạm trù đạo đức của con người. Quan điểm về nhân là vấn đề cốt lõi
của chủ nghĩa nhân đạo Trung Quốc truyền thống. Tinh thần bác ái, yêu
người và coi con người là trung tâm, lấy dân làm gốc, xã hội là cơ sở. Trước
thực tiễn xã hội nhà Chu đang có sự đảo lộn và cần có sự ổn định và cải tạo
nó, song ông không muốn cải tạo xã hội bằng cách mạng, Khổng Tử chủ
trương “Đức trị” cai trị bằng đạo đức tăng cường giáo dục đạo đức nhân
nghĩa cho con người là điều kiện quan trọng nhất và ông chủ trương “Hữu
giáo vô loại” ông không chỉ là nhà lý luận mà còn là nhà giáo dục lớn. Cho
nên trong học thuyết của mình, về chính trị-xã hội, Khổng Tử chủ trương lấy
Lễ- Nhạc để khiến cho mọi người đạt đến bậc nhân.
“Nhân” còn gồm nhiều tiêu chuẩn đạo đức khác nhau nữa như: trung hiếu
cung kính, khoan hoà, cần mẫn, chính đáng, thật thà, khiêm tốn, dũng cảm,
học gắn với hành, tự trách mình hơn là trách người; thận trọng, biết yêu
người đáng yêu, biết ghét kẻ đáng ghét (giết một người cứu muôn người là
nhân),… Như vậy, đức “nhân” trong Nho giáo không chỉ là thương người
mà thực chất là đạo làm người. “Nhân” bao quát nhiều tiêu chuẩn đạo đức
như vậy nên một người chỉ có một số tiêu chuẩn thì chưa có thể được coi là
người có nhân.
Nho giáo gọi người có nhân là người quân tử để đối lập với kẻ tiểu nhân.
Khổng Tử có nói: “Người quân tử có khi phạm điều bất nhân, chứ chưa thấy
có, nghĩa là những điều kiện hợp với “vương đạo”, hành động theo vương
đạo thì ông vua vừa hợp với danh và vừa hợp với thực đó mới là ông vua.
Trong xã hội mỗi cái danh đều bao hàm một số trách nhiệm và bổn
phận mà những cá nhân mang danh ấy phải có những trách nhiệm và bổn
phận phù hợp với danh ấy, đây là ý nghĩa của thuyết chính danh của Khổng
Tử.
Cho nên nguyên tắc của xã hội có lễ là: Chính danh, định phận vĩ hoà vi quí.
Tư tưởng chính danh cho thấy, Nho giáo chủ trương củng cố sự phân chia
đẳng cấp, thần thánh hoá tầng lớp trên: Quân tử, quân vương biến mọi lời
8
khen thưởng thành ân huệ, trừng phạt thành quyền uy của các tầng lớp cai
trị.
Thuyết chính danh: “Quân - quân; Thần - thần; Phụ - phụ; Tử - tử”
Từ học thuyết chính danh, Khổng Tử chia xã hội thành các mối quan hệ, mỗi
quan hệ gọi là 1 luân, có 5 luân quan trọng thể hiện: “Vua - tôi; Vợ - chồng;
Cha - con; Anh - em; Bạn - hữu”. Ba mối quan hệ đầu quan trọng nhất, gọi
là tam cương (kỷ cương quan trọng). Từ “ngũ luân” Khổng Tử nêu lên 11
đức lớn: Vua nhân, tôi trung, cha từ, con hiếu, anh lành, em đễ, chồng có
nghĩa, vợ vâng lời, trưởng có ân, ấu ngoan ngoãn, với bạn hữu phải có đức
tín.
Con người sống phải theo cái ngũ thường (5 điều thường ngày con người
thực hiện) đó là: “Nhân, nghĩa, trí, tín, dũng”.
- Quân (vua) không thực hiện cha truyền con nối, chọn người tài làm vua,
vua gưỡng mẫu, liêm chính, biết chăm dắt dân, có lòng tin đối với với dân.
- Tôi (thần) trung với vua hiếu với nước “Trung quân ái quốc”
- Cha (Phụ) lấy lòng nhân ái làm trọng, thương yêu con cháu.
- Con (Tử) lấy chữ hiếu làm đầu, thành kính bố mẹ, chăm sóc bố mẹ
già.
- Vợ chồng có nghĩa, đối với phụ nữ: nữ nhi nam hoá, phụ nữ tam
tòng: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”; tứ đức “Công,
một lẽ mà suốt thông tất cả… chỉ gom vào hai đức trung và thứ mà thôi”.
“Trung” là cái gốc của đạo làm người: “kỷ dục lập nhi lập nhân”, “kỷ dục
đạt nhi đạt nhân” - nghĩa là không chỉ yêu thương người ái nhân mà còn phải
giúp đỡ, tạo lập cho người thành đạt. “Thứ” là suy mình ra người, là “kỷ sở
bất dục, vật thi ư nhân”- nghĩa là, cái gì mình ghét đừng trao cho người.
“Nhân” còn bao gồm các đức là “lễ”, “nghĩa”, “trí”, “tín”. “Lễ” vừa là cách
thức thờ cúng (lễ bái), vừa là những qui định có tính luật pháp; vừa là những
phong tục tập quán, vừa là một kỷ luật tinh thần - “tự khắc kỷ phục lễ”. Suy
cho cùng, “lễ” chỉ là sự bổ sung và cụ thể hoá của “chính danh” nhằm thiết
lập trật tự xã hội phong kiến. “Nghĩa” là những việc nên làm nhằm duy trì
đạo lý, như ta thường nói “hành hiệp trượng nghĩa”. “Trí” là tri thức, phải có
tri thức mới thành “nhân” được. Vậy, phải “tu thân” để tề gia trị quốc bình
thiên hạ. “Tín” là lời nói và việc làm phải thống nhất với nhau, lời nói phải
đi đôi với việc làm. Có “tín” mới có “tin”, “Một sự bất tín là vạn sự bất
tin”.
Vua (Nhà nước) phải biết dưỡng dân, giáo dân và chính hình. Đây là phương
diện khác của đức trị. Chính hình là hình phạt phải chính đáng. Sở dĩ phải
chính hình, vì theo Nho giáo, trong xã hội còn có tầng lớp “hạ ngu” không
giáo hoá được bằng đạo đức. Dưỡng dân là lo cho dân có cuộc sống no đủ.
Mạnh Tử còn tiến bộ hơn ở tư tưởng “dân vi quý, quân vi khinh, xã tắc thứ
10
thi”. Ông chủ trương chia ruộng cho dân theo chế độ tỉnh điền. Giáo dân là
giáo dục cho dân đạo lý làm người, thể hiện tư tưởng giáo dục của Nho giáo.
Tư tưởng “trăm năm trồng người” của Khổng tử là nhằm đào tạo người quân
tử lấy đức làm chính - “Tiên học lễ hậu học văn” và phải học đi đôi với
hành. Trong giáo dục, Khổng Tử rất coi trọng sự nêu gương của tầng lớp
vua quan và mở trường học cho dân. “Hữu giáo vô loại” - phải dạy học cho
mọi người không phân biệt đẳng cấp - đây là tư tưởng tiến bộ của Khổng Tử.
Chính ông là người đầu tiên thực hiện tư tưởng này.
Ngoài ra, Nho giáo còn có nhiều tư tưởng về kinh tế, quân sự, ngoại giao,…
kiêu kỳ; (v) Uy nghiêm mà không mang tiếng là hung dữ.
Còn 4 điều xấu mà không làm đó là: (i) Không chịu tiến hành giáo dục mà
tiến hành giết chóc gọi là ngược; (ii) Không căn dặn răn bảo mà muốn có
ngay kết quả gọi là bạo; (iii) Lúc đầu trể nải, sau hộc tốc định kỳ hạn gọi là
cướp; (iv) Khi cho ai cái gì so đo biển lận gọi là tiểu khí của viên chức mọn.
Đây cũng là những vấn đề mà cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.
- Khổng tử cho rằng thực hành chính trị nhất định phải giữ chính danh. Có
nghĩa làm vua cho ra vua, làm tôi phải ra làm tôi; làm cha phải ra làm cha và
làm con cũng phải xứng với đạo làm con.
- Quan lại triều đình khi thi hành chính trị phải công bằng, ông cho rằng:
“Bất hoạn bần, nhi loạn bất quan”, có nghĩa là không sợ nghèo, chỉ sợ
không công bằng, mà không công bằng thì xã hội loạn lạc, xã hội không phát
triển được.
- Còn đối với kẻ cai trị nước là người quân tử, cho nên tu dưỡng phẩm chất
của người quân tử là vấn đề rất lớn của học thuyết Nho giáo. Quân tử là
người có đầy đủ Nhân - Nghĩa - Lễ - Tín. Quân tử phải là người có đức hiếu
nhân. Người quân tử là người mà kẻ tốt ưa, còn kẻ xấu thì ghét. Đừng nghe
một lời nói hay cho là giỏi và cũng đừng vì người ta nói dở một lần mà
người ta nói điều gì hay mình cũng không nghe.
Để có phẩm chất của người quân tử. Nho giáo yêu cầu người quân tử phải ra
sức tu thân. Tu thân là bồi dưỡng phẩm chất đạo đức mà tiêu chuẩn đầu tiên
là người quân tử phải thương người, yêu dân để có trách nhiệm với dân với
nước.
- Quan điểm của Nho giáo về giáo dục: trước hết là học đạo làm
người, sau đó mới dạy chữ. Tiên học lễ hậu học văn. Khổng Tử là người đầu
tiên trong lịch sử Trung Quốc mở trường tư thục đào tạo nhân tài và các tầng
lớp cai trị cho xã hội.
Như vậy những nội dung cơ bản của học thuyết Nho giáo về vũ trụ
quan, nhân sinh quan và về chính trị xã hội giáo dục tuy có những tiêu cực
hạn chế về lập trường duy tâm khách quan thần bí trong vấn đề bản thể luận,
của Tuân Tử, tuy còn nhiều yếu tố duy tâm khi lý giải về vấn đề xã hội,
thiếu khách quan khoa học vì liên hệ với lợi ích của giai cấp địa chủ và cung
cấp cho giai cấp này căn cứ lý luận để xây dựng nền trật tự thống trị xã hội.
2. Sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo đối với tư tưởng Việt Nam
2.1. Con đường hình thành Nho giáo ở Việt Nam
Việt Nam là một nước đã trải qua gần một ngàn năm dưới sự đô hộ
của các triều đại phong kiến Trung Quốc. Do vậy, học thuyết Nho giáo có
13
điều kiện thuận lợi để xâm nhập và phát triển ở nước ta. Khi vào Việt Nam,
Nho giáo đã tác động vào sự phát triển của xã hội Việt Nam từ những hoạt
động tư tưởng văn hoá tinh thần và hoạt động chính trị của chính quyền đô
hộ. Sự có mặt của Nho giáo ở Việt Nam vừa là sự áp đặt về tư tưởng và văn
hoá để phục vụ cho lợi ích của chính quyền đô hộ, vừa là một hiện tượng
phù hợp với quy luật giao lưu văn hoá giữa 2 nước láng giềng. Lúc đầu là
những tên cai trị người Hán đến nước ta mở trường học Nho học và cải đổi
phong tục nếp sống của người Việt, bắt người Việt phục vụ cho chính quyền
đô hộ theo nghĩa lễ của Nho giáo. Đồng thời Nho giáo cũng được những tên
quan cai trị người Hán coi là nguyên tắc để cai trị dân và quản lý xã hội,
cũng như để xác định mối quan hệ giữa họ và Hoàng đế Trung Hoa. Trong
suốt thời kỳ Bắc thuộc, Nho giáo là công cụ thống trị của chính quyền đô hộ
và phục vụ cho chính quyền đô hộ, có thể nói sự tác động của Nho giáo đối
với sự phát triển của xã hội nước ta lúc đương thời nói chung là có tính tiêu
cực, đi ngược lại xu thế đấu tranh giành giải phóng của dân tộc Việt Nam.
Nhưng trong tính tiêu cực đó cũng có tính tích cực. Vì sự truyền bá Nho giáo
thường gắn liền với chữ Hán và gắn với sự truyền bá tri thức cả về xã hội lẫn
tự nhiên và những tinh hoa văn hoá nhất là văn học và sử học của Trung
Quốc. Trong hoàn cảnh nước ta chưa có văn tự riêng thì sự du nhập chữ Hán
và những kiến thức đó cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển về tư tưởng văn
hoá tinh thần của nước ta lúc đương thời tiến lên một bước.
Đến thời kỳ độc lập tự chủ của dân tộc ta, thì Nho giáo tồn tại và phát
triều đại phong kiến. Nó còn ảnh hưởng đối với nhiều ngành nghệ thuật như
tuồng, chèo, nghệ thuật múa hát cung đình, nghệ thuật kiến trúc ở kinh đô và
các tỉnh lỵ. Nho giáo còn tác động và làm thay đổi những phong tục tập quán
từ thành thị cho đến nơi thôn dã. Nho giáo đã đưa ra một hệ thống những qui
định nghiêm khắc và chặt chẽ để định hướng cho việc tổ chức hôn lễ và tang
lễ, uốn ắn sự giao tiếp ứng xử phù hợp với thân phận của từng hạng người
trong xã hội.
Mặt khác ở Việt Nam, Nho giáo không chỉ thông qua những hoạt
động văn hoá mà tác động vào đời sống xã hội, Nho giáo còn tác động trực
tiếp vào những hoạt động chính trị của nhà nước phong kiến với tư cách là
vũ khí tư tưởng chỉ đạo thực tiễn chính trị. Trước hết, Nho giáo xác định
quyền lực và vị trí tối cao của nhà vua và quan hệ vua tôi một cách nghiêm
ngặt. Trên cơ sở đó, Nho giáo đã đề ra những nguyên lý về tổ chức chính
quyền và quản lý xã hội theo khuôn khổ của chế độ phong kiến. Nho giáo đã
cung cấp những cơ sở lý luận cho việc hoạch định đường lối chính sách của
nhà nước phong kiến.
Như vậy, trong công cuộc dựng nước và giữ nước cũng như sự phát triển
toàn diện của xã hội Việt Nam dưới chế độ phong kiến trung ương tập quyền
15
suốt từ thế kỷ XI cho đến thế kỷ XV đã khẳng định vai trò của Nho giáo
trong xã hội Việt Nam. Nho giáo đã thúc đẩy sự phát triển của xã hội thông
qua hoạt động tư tưởng văn hoá và chính sự du nhập đó đã tác động vào sinh
hoạt văn hoá truyền thống của dân tộc, làm cho văn hoá dân tộc được nâng
cao trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những giá trị văn hoá của nước Trung
Hoa cổ đại. Hơn nữa, nó góp phần củng cố và kiện toàn về mặt tổ chức và cơ
chế vận hành của nhà nước phong kiến tập quyền và xúc tiến hình thành
những quan hệ xã hội phù hợp với sự quản lý của loại hình nhà nước đó.
- Mặt tiêu cực: Ngoài những ưu điểm trên Nho giáo góp phần không
nhỏ trong việc duy trì quá lâu chế độ phong kiến, kìm hãm quan hệ kinh tế
tư bản phát triển ở nước ta. Dưới ảnh hưởng của Nho giáo, truyền thống tập
sự phát triển của xã hội Việt Nam không những trên phương diện chính trị
văn hoá mà cả trên phương diện kinh tế xã hội.
Sau khi thực dân pháp xâm lược thì xã hội Việt Nam trở thành xã hội
thuộc địa nửa phong kiến. Do đó văn hoá phương Tây và hệ tư tưởng tư sản
tràn ngập vào nước ta. Giờ đây Nho giáo suy sụp và đổ vỡ căn bản hơn trước
vì nhà nước phong kiến tự chủ chỗ dựa của Nho giáo không còn và chế độ
khoa cử nhằm tái sản xuất ra tầng lớp Nho sỹ đã chấm dứt. Tuy nhiên, thực
dân pháp vẫn muốn duy trì ở nước ta những quan hệ phong kiến và những
yếu tố của hệ tư tưởng phong kiến để củng cố chế độ thuộc địa vì thế mà
thực dân Pháp đã sử dụng Nho giáo vào việc cai trị dân bản xứ.
Nhìn chung dưới thời Pháp thuộc, Nho giáo cuối cùng vẫn để lại những ảnh
hưởng tiêu cực của nó trong sinh hoạt văn hoá và trong lĩnh vực chính trị xã
hội. Đạo trị nước và đạo làm người không giúp được cho quá trình chuẩn bị
tổ chức thực hiện một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo
của Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công lập nên Nhà nước
Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhà nước công nông đầu tiên ở Đông nam châu
á đã làm cho Nho giáo ở nước ta suy sụp hoàn toàn cùng với sự suy sụp của
chế độ thuộc địa. Nhưng tàn dư và âm hồn của Nho giáo vẫn còn sống một
cách dai dẳng trong các quan hệ xã hội, trong ứng xử giữa người với người,
trong phong tục tập quán và cả trong nghi thức thờ cúng, tín ngưỡng cổ
truyền của dân tộc. Những tàn dư đó đã tác động vào đời sống xã hội theo
hai hướng tích cực và tiêu cực. Sở dĩ Nho giáo có sự tác động tích cực vào
đời sống xã hội là vì Nho giáo đã tồn tại ở Việt Nam, đã được Việt Nam hoá
và hoà đồng với nền văn hoá Việt Nam để tạo nên những truyền thống tốt
đẹp về mặt tư tưởng, đạo đức, nếp sống mà cho đến nay chúng ta vẫn kế
thừa.
Ngày nay trong thời kỳ cả nước tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá hiện
đại hoá đất nước với mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ
17
phát triển của xã hội thông qua hoạt động chính trị của nhà nước phong kiến
và sự tác động đó càng mạnh khi mà Nho giáo được tôn thờ là hệ tư tưởng
thống trị xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình du nhập và tồn tại ở Việt Nam thì sự tác
động của Nho giáo vào sự phát triển của xã hội Việt Nam có giai đoạn mang
tính tích cực, có lúc thì những tác động đó mang tính tiêu cực, kìm hãm sự
phát triển của xã hội. Sự tác động tích cực hay tiêu cực của Nho giáo trong
lịch sử là phụ thuộc vào bản thân của chế độ phong kiến. Khi xã hội Việt
Nam xác lập chế độ phong kiến tập quyền, phù hợp với yêu cầu xây dựng
nền văn minh Đại Việt, thì Nho giáo có sự tác động tích cực. Trái lại khi chế
độ phong kiến ở Việt Nam suy sụp và không còn vai trò lịch sử nữa thì tác
động của Nho giáo mang tính tiêu cực, trở thành lực cản đối với sự phát
triển văn hoá-xã hội Việt Nam.
Ngày nay, Nho giáo không tồn tại với bộ mặt đích thực và những cơ
chế hoạt động của nó nữa. Bởi vì chỗ dựa của Nho giáo là Nhà nước phong
kiến không còn. Tuy nhiên, tàn dư của Nho giáo vẫn còn tồn tại trong sinh
19
hoạt văn hoá tư tưởng và trong các quan hệ xã hội nước ta. Vì vậy, chúng ta
cần tiếp thu có chọn lọc, thông qua sự phê phán và cải tạo trên lập trường tư
tưởng Mác xít chân chính để có gạt bỏ những yếu tố tiêu cực và sử dụng
những yếu tố tích cực của Nho giáo nhằm phục vụ cho việc xây dựng một xã
hội có kỷ cương trật tự, giữ gìn và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc đẩy lùi hiện tượng tiêu cực là động lực nền tảng cho
sự phát triển phồn thịnh của đất nước.
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Triết học - Tập 1. Dùng cho nghiên cứu sinh và học viên cao
học không thuộc chuyên ngành triết học. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
1995.
2. Giáo trình Triết học Mác - Lê nin. Dùng trong các Trường Đại học và Cao