Tư tưởng nhân văn của Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong tư tưởng Nguyễn Trãi - Pdf 13

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Triệu Quang Minh
TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA NHO GIÁO
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TRONG TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 62.22.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SỸ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS Lê Thị Lan
2. GS. TS Nguyễn Tài Thư
HÀ NỘI – 2014
1
MỤC LỤC
TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA NHO GIÁO 1
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TRONG TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI 1
MỤC LỤC 2
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1.Tính cấp thiết của đề tài 4
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 6
2.1. Mục đích 6
2.2. Nhiệm vụ 6
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 6
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
5. Những đóng góp mới của luận án 7
6. Ý nghĩa của luận án 7
7. Kết cấu của luận án 8
Chương 1 8
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 8
1.1. Các công trình nghiên cứu về tư tưởng nhân văn của Nho giáo 8

4.2. Gắn liền giải phóng dân tộc với giải phóng con người 132
4.3. Củng cố niềm tin, xây dựng lý tưởng, cổ vũ tinh thần gìn giữ và phát huy văn hóa dân tộc 137
4.4. Định hướng tư duy và bồi dưỡng tư tưởng cộng đồng 142
Tiểu kết chương 4 147
KẾT LUẬN CHUNG 148
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong khi giới trí thức, khoa học và những người quan tâm đến vấn đề
học thuật còn đang tiếp tục bàn cãi về tính chất của nền văn minh đương đại thì
có một thực tế không thể chối cãi được là: tiếng chuông cảnh tỉnh về sự sa sút
đạo đức, về sự sòng phẳng đến mất nhân tính trong mối quan hệ giữa người với
người, về sự rạn nứt và thay thế của các hệ chuẩn giá trị đang gióng lên ở hầu
khắp các quốc gia. Cùng với đó, nhân loại đang tiếp tục đối mặt với một sự bất
ổn toàn diện về cả kinh tế, chính trị và văn hóa. Để khắc phục và giải quyết các
vấn đề mang tính toàn cầu liên quan đến loài người như chiến tranh, dịch bệnh,
đói nghèo, ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, phai nhạt lý tưởng sống…
các tổ chức quốc tế đều khuyến nghị các quốc gia, dân tộc và mỗi cá nhân tham
gia vào việc thúc đẩy phát triển và phổ biến rộng khắp một nền văn hóa hòa
bình, dân chủ, tự do, đoàn kết cùng tiến bộ dựa trên cơ sở nhân văn.
Trong bối cảnh thế giới khẳng định và đề cao tư tưởng nhân văn, coi đó
như chất keo kết dính, liên kết con người lại gần nhau hơn để cùng giải quyết các
xung đột, Nho giáo đang được khai thác, vận dụng đang tiếp tục nhận được khai
thác và vận dụng không chỉ ở các nước phương Đông – những nước chịu ảnh
hưởng trực tiếp của văn hóa Nho giáo trong lịch sử, mà còn ở nhiều nước
phương Tây. Chính những hành công của một số nước trong việc vận dụng Nho
giáo để ổn định và phát triển xã hội đã đưa tới kỳ vọng có thể khai thác Nho giáo
4
với tư cách là một trong những cơ sở, tiền đề tư tưởng để giải quyết những vấn

2.1. Mục đích
Làm rõ tư tưởng nhân văn trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong tư
tưởng Nguyễn Trãi, từ đó nêu lên ý nghĩa của tư tưởng nhân văn Nguyễn Trãi
đối với việc tiếp thu và phát triển tư tưởng nhân văn ở Việt Nam.
2.2. Nhiệm vụ
Một là, phân tích cơ sở hình thành, bối cảnh xã hội tác động đến việc hình
thành các tư tưởng nhân văn của Nho giáo.
Hai là, dựa trên các tài liệu kinh điển Nho giáo để minh chứng và khái
quát những nội dung cơ bản của tư tưởng nhân văn của Nho giáo,
Ba là, phân tích làm rõ ảnh hưởng tư tưởng nhân văn của Nho giáo trong
tư tưởng Nguyễn Trãi và chỉ ra những điểm tiếp thu có chọn lọc, phát triển và
sáng tạo của ông.
Bốn là, khái quát và làm rõ và những ý nghĩa cơ bản của tư tưởng nhân văn
của Nguyễn Trãi đối với việc tiếp thu và phát triển tư tưởng nhân văn ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu của luận án là tư tưởng nhân văn của Nho giáo và
ảnh hưởng của nó trong tư tưởng Nguyễn Trãi.
- Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu trong chuyên ngành Lịch sử triết
học bằng cách khảo cứu tưởng nhân văn của Nho giáo (những tư tưởng chính, cơ
bản thông qua tư tưởng của các đại biểu tiêu biểu của Nho giáo, nhất là Nho giáo
Tiên Tần) trong các kinh điển Nho giáo, tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi (thể
hiện rõ sự tiếp thu, phát triển tư tưởng nhân văn của Nho giáo) được thể hiện
trong các trước tác của ông.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
6
- Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện
chứng, những nguyên lý, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin trong nghiên cứu
lịch sử triết học.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng các phương pháp: phân tích,
tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, thống nhất giữa logic và lịch sử. Luận án cũng

khi du nhập vào Việt Nam, một mặt nó nhận được sự quan tâm rộng khắp vì đã
tồn tại và từng trở thành học thuyết cai trị của bộ máy cầm quyền. Mặt khác, luân
lý đạo đức Nho giáo đã được người dân đón nhận trong ứng xử gia đình và xã hội
nhờ thế nó tham gia vào nội dung đạo lý của người Việt Nam. Điều quan trọng
hơn, Nho giáo trở thành nền tảng kinh điển để con người học tập, thi cử trước,
trong, sau khi đỗ đạt. Nó lại tiếp tục là luận thuyết được những người chưa thành
danh hoặc những người cáo quan về quê mở trường, lớp dạy học…Vì thế, có thể
nói hệ thống sách vở viết về Nho giáo và các vấn đề liên quan là một công trình
vô cùng đồ sộ. Với giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi chú trọng
vào những khuynh hướng nghiên cứu chủ yếu về Nho giáo có liên quan trực tiếp
đến nội dung luận án. Qua khảo cứu, chúng tôi nhận thấy có một số khuynh hướng
nghiên cứu sau:
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về tư tưởng nhân văn của Nho giáo từ
hướng tiếp cận thuật ngữ “nhân văn”
8
Nho giáo ra đời là sản phẩm phản ánh thực tiễn lịch sử xã hội cổ đại Trung
Hoa thời Xuân Thu – Chiến Quốc. Trong phạm vi nhận thức thời kỳ đó, tất nhiên
bản thân vấn đề tư tưởng nhân văn sẽ không thể tìm thấy và lấy thuật ngữ “nhân
văn” làm xuất phát điểm bởi lẽ đây là vấn đề của thời kỳ Phục hưng ở Châu Âu.
Song, với nội hàm khái niệm được định vị, một số học giả đã đặt vấn đề trong hệ
trục so sánh để có thể tìm thấy các nội dung mang tính nhân văn phổ quát trong tư
tưởng của Nho giáo.
PGS. Hà Thúc Minh trong bài viết “Chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa
nhân đạo”, in trên Tạp chí Khoa học xã hội số 7/2006, “Chủ nghĩa nhân văn thế
kỷ XXI”, số 9+10/2007, đã đề cập tới nhân văn phương Đông và cho rằng: “Thay
vì gọi là “chủ nghĩa nhân văn” thì nên gọi là “chủ nghĩa nhân đạo” có lẽ thích
hợp hơn đối với Nho giáo Phương Đông, dựa vào “nhân ái” (đạo đức) để quản lý
xã hội. Có lẽ nên xem “chủ nghĩa nhân văn” chỉ là một biểu hiện của chủ nghĩa
nhân đạo hoặc ít ra cũng không thể đồng nhất với “chủ nghĩa nhân đạo” được”
[94, tr.7].

nghĩa nhân văn là cả một vấn đề lớn, chưa kể giữa chúng có những sự giao thoa
không thể tách biệt tuyệt đối được. Trong khi đó, bản thân Hà Thúc Minh cũng
đã khẳng định thuật ngữ “nhân văn” cũng đã xuất hiện ở Phương Đông từ trước
công nguyên và nó có điểm tương đồng, khác biệt với thuật ngữ này ở Phương
Tây. Tính không đồng nhất trong việc sử dụng thuật ngữ cũng như khoanh vùng
nội hàm thuật ngữ có thể khiến cho vấn đề trở nên phức tạp. Đương nhiên,
không thể khoác cho Nho giáo thuật ngữ “chủ nghĩa nhân văn” song có thể thấy
suy cho cùng chủ nghĩa nhân văn hay chủ nghĩa nhân đạo cũng đều giải quyết
các vấn đề của con người, liên quan đến con người. Cho nên, cách tiếp cận của
Hà Thúc Minh là một gợi ý khoa học để triển khai luận án trên cơ sở bám sát nội
dung khái niệm chứ không phải truy tìm khái niệm một cách siêu hình, cứng nhắc.
Bên cạnh đó, tuy có đề cập song chưa thấy tác giả đi sâu vào phân tích cơ sở tồn
10
tại xã hội, nền tảng mà trên đó Nho giáo nảy sinh. Đây là vấn đề có tính nguyên
tắc trong nghiên cứu triết học. Vì thế việc trở lại phân tích mối quan hệ biện chứng
giữa thực tiễn lịch sử và những gì Nho giáo Tiên Tần phản ánh là rất cần thiết.
Cùng với đó cần trở lại để cụ thể hóa (một cách tương đối) nội hàm khái niệm
thuật ngữ “nhân văn” cũng như phân tách nó với các thuật ngữ khác và với bản
thân nó trong từng tầng bậc khác nhau.
Cũng với lối tiếp cận hiện đại, có chiều sâu về mặt học thuật, GS. Đỗ Duy
Minh. ĐH Harvard gọi Nho giáo cổ điển là học thuyết nhân văn. Ông cho rằng:
“Sự khó khăn trong việc đạt đến một hiểu biết mang tính chất phân tích về chủ
nghĩa nhân văn Nho giáo – một trong những truyền thống phức tạp nhất và có
ảnh hưởng lớn nhất vẫn tiếp tục tồn tại tại Đông Á – chủ yếu là do lãnh vực quan
tâm căn bản của Khổng Tử (551 - 479 TCN) – người đã có những tri kiến độc
đáo về thân phận con người – có mức độ thống nhất rất cao…Gạt ra ngoài các
vấn đề khởi nguyên và ranh giới, sự xuất hiện của hiện tượng Nho giáo như một
sự đáp ứng đầy ý thức đối với sự suy tàn và sụp đổ của văn minh nhà Chu đã
nhằm minh giải cho những vấn nạn (Problematiken) cụ thể mà sau đó chính
những vấn nạn này lại trở thành những nét đặc trưng tiêu biểu cho chủ nghĩa

chính là các vai trò khác nhau của con người trong cuộc sống, trong xã hội và
trong lịch sử. Đây là cách tiếp cận mang tính phối hợp đem lại sự tương khớp
giữa một học thuyết của thời kỳ cổ đại với học chủ nghĩa Mác (Trong tính hiện
thực của mình, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội). Tuy
nhiên, khuôn khổ bài viết hạn hẹp, số lượng thuật ngữ mới nhiều, vấn đề được đề
cập đòi hỏi sự phân tích sâu rộng và đầu tư công phu…có thể là những nguyên
nhân căn bản khiến sự tập trung của tác giả không nhằm vào việc chứng minh
tính nhân văn của học thuyết Nho giáo cổ điển. Tính nhân văn của học thuyết
Nho giáo cổ điển gần như được coi là sự mặc định dùng để chỉ ra mối quan hệ
12
thống nhất giữa đạo học và chính trị. Sự mặc định này cần được minh chứng một
cách rõ ràng, thuyết phục hơn.
Thấy được vai trò quan trọng của môi trường thực tiễn và coi đó như là một
trong những nguyên nhân khiến cho tư tưởng nhân văn của Nho giáo về sau
không thể phát triển, Vi Chính Thông trong “Nho gia với Trung Quốc ngày nay”
đã khẳng định: “Sự tự giác về tự do trong ý chí đạo đức của Nho gia thời Tiên Tần
là bước ngoặt quan trọng trong quá trình đưa cuộc sống của con người từ đần độn
đến sáng sủa. Sự tu dưỡng của con người, sự phấn đấu trở thành thánh hiền cũng
bắt đầu từ đấy. Phát hiện đó chứng tỏ văn hóa Trung Quốc đã từng có sự tự giác
về lý tính. Đáng tiếc là về sau, do không có sự phối hợp của các điều kiện văn hóa
xã hội nên phát hiện vĩ đại đó dừng lại ở hình thái biểu hiện tiêu cực và ngày càng
co lại, xơ cứng…Nho gia Tiên Tần có lý tưởng tốt, nhưng điều kiện văn hóa xã
hội để thực hiện lý tưởng đó lại là chế độ phong kiến tông pháp ngặt nghèo, do
vậy lý tưởng của Nho gia đã trở thành “hoa trong kính, trăng dưới nước” [115,
tr.164]. Theo Vi Chính Thông, “tư tưởng nhân văn Trung Quốc quá nhấn mạnh
phương pháp tu dưỡng nội tâm, tương phản với quan điểm nhận thức khoa học là
phải nghiên cứu nhân tố khách quan. Phương pháp tu dưỡng nội tâm tất yếu dẫn
tới xa rời kinh nghiệm, coi thường tri thức. Ngay thời kỳ đầu của tư tưởng nhân
văn Nho gia Tiên Tần đã thể hiện xu hướng đó” [115, tr.237].
Tuy nói về hạn chế và một số nguyên nhân khiến cho tư tưởng nhân văn

tính hợp lý đã được Tào Thượng Bân khi khai triển để chứng minh tính nhân bản
của học thuyết Nho gia. Tào Thượng Bân đã khẳng định Nho học lấy nhân bản
làm tôn chỉ và minh chứng bằng việc chỉ ra sự tỏa sáng của nhân học Khổng Tử.
Thông qua sự chuyển hóa tư tưởng nhân bản học trong học thống nhân văn của
Nho giáo Tiên Tần (từ Khổng Tử đến Mạnh Tử, Tuân Tử), Tào Thượng Bân còn
chỉ ra phương thức thực hành các quy phạm giáo dục mang tính nhân bản của
Nho học Tiên Tần: thi hành giáo dục đạo nhân và thực tiễn chính trị nhân bản.
14
Theo sự phân tích của ông, “Tư tưởng Nho học thời Tiên Tần – tức học thuyết
của Khổng Tử, từ đầu đến cuối, luôn lấy con người làm đối tượng và mục đích
cuối cùng, cao cả nhất và trực tiếp nhất. Nói cách khác, muốn phát triển nhân
tính, phát huy nhân lực, ủng hộ nhân quyền, bồi dưỡng nhân cách, phải từ trong
cuộc sống nhân sinh thể hiện ra chân lý, nên gọi là chủ nghĩa nhân văn. Ý nghĩa
tinh túy của triết học Nho gia là đem niềm hy vọng của nền văn minh xây dựng
trên sự hoàn thiện cá nhân. Về phương diện này chủ nghĩa nhân văn của triết học
Nho gia và phương Tây dường như thống nhất…Mọi học thuyết khiến cho con
người ngày càng hoàn mỹ hơn đều được coi là chủ nghĩa nhân văn (humanism),
nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa nhân văn này là sự thể hiện của ý thức chỉ thú
lấy con người làm bản vị” [4, tr.140 -141].
Như vậy, Tào Thượng Bân đã khẳng định những nội dung mang tính nhân
bản có trong học thống nhân văn Nho giáo. Tuy sử dụng cả “nhân bản” và “nhân
văn” nhưng chưa thấy Tào Thượng Bân phân tách một cách rõ ràng phạm vi,
tầng bậc giữa hai thuật ngữ này. Trong sự phân tích của ông, tư tưởng nhân bản
của Nho học khiến cho con người hoàn mỹ hơn và vì thế học thuyết này được
coi là chủ nghĩa nhân văn. Do đó, vấn đề này cần được tiếp tục luận chứng, lý
giải một cách cụ thể và chi tiết hơn.
Tóm lại, từ hướng tiếp cận thuật ngữ “nhân văn” để nghiên cứu Tư tưởng
nhân văn của Nho giáo có thể thấy thành tựu căn bản là có một sự thống nhất khi
đề cập đến tính nhân văn của Nho giáo. Minh chứng, phân tích và hệ thống các
nội dung mang tính nhân văn có trong Nho giáo đã bước đầu đạt được những kết

thuyết phục và cảm hóa lên trên chính trị và hình phạt, và thường ước mơ đi tới
cảnh “thiên hạ đại đồng” trong đó mọi chuyện bất công, bất bình, oan ức, tội lỗi
sẽ không còn, và hạnh phúc yên vui sẽ đến với mọi người” [24, tr.458].
Nguyễn Thị Tuyết Mai trong “Quan niệm của Nho giáo về con người, về
giáo dục và đào tạo con người” cũng đặt vấn đề: “Giá trị nhân sinh, thái độ nhân
sinh và trách nhiệm nhân sinh của nhà nho còn được triển khai thành một vấn đề
16
có tính nhân văn căn bản hơn, thiết dụng với mỗi cá nhân, đó là vấn đề sống để
làm gì? Nói cách khác mục đích nhân sinh ra sao? Nêu lên mục đích nhân sinh là
trình độ nhận thức riêng của con người. Con vật dù thông minh đến mấy cũng
chỉ biết sống theo bản năng, sống theo tự nhiên, đến đâu hay đến đó” [89, tr.146]
GS.Trần Đình Hượu trong “Các bài giảng về tư tưởng Phương Đông” cho
rằng: “Chủ nghĩa nhân đạo của Nho giáo quả thật là cao cả vì nó yêu thương con
người. Thử nghĩ mà xem, cách đây 25 thế kỷ mà đã nói: người nào lần đầu tiên
lấy hình con người mà tạc ông bù nhìn là xúc phạm con người, người đó không
nên có con cái. Hoặc người nói rằng tôi không phải là chim, tôi không phải là thú
mà tôi là con người, nếu con người không đau khổ thì tôi chạy vạy làm gì. Điều
đó thì hết sức nhân đạo, là một tình cảm hết mực yêu thương con người. Nhưng
ở đây có 3 điều mà tôi lưu ý:
- Một là không đặt vấn đề đấu tranh cho công bằng, tự do và bình đẳng
- Hai là không đấu tranh cho hạnh phúc
- Ba là không dựa vào trí tuệ và sức lao động
Như thế, rốt cuộc chủ nghĩa nhân đạo của Nho giáo chỉ là lòng thương vô
bổ…Nhưng cũng không phải vì thế mà nói Nho giáo phản động; nó là nhân đạo
nhưng cái nhân đạo của nó không thể phát triển” [53, tr.266]
Như vậy, Trần Đình Hượu đã đặt ra vấn đề về mặt trái của chủ nghĩa nhân
đạo Nho giáo và lý do chủ nghĩa nhân đạo này không thể phát triển được. Tất
nhiên, ngoài những nguyên nhân nằm sẵn trong bản thân học thuyết, còn có
những nguyên nhân khách quan khác. Vì thế, để hiểu được thực chất của vấn đề
phải đặt Nho giáo trong bối cảnh lịch sử của chính nó. Đây là nguyên tắc căn bản

Đây thực sự là kết quả nghiên cứu có giá trị. Dùng bảng giá trị này làm để soi
tìm, hoàn toàn có thể phát hiện các tư tưởng nhân văn của Nho giáo. Tuy nhiên
chưa thấy các tác giả xâu chuỗi, hệ thống hóa tiến trình hình thành và phát triển
các giá trị toàn nhân loại này trong Nho giáo. Các dẫn chứng kinh điển còn
mỏng. Điều kiện hình thành hay vấn đề thực tại của tính toàn nhân loại này (theo
cách nói của chính các tác giả) tuy có được đề cập nhưng lại thiên về sự khảo sát
ý thức hệ, sự tự nhận thức, sự suy tư chứ không phải là vai trò hay tác động của
18
thực tiễn lịch sử xã hội lúc bấy giờ đối với các quan niệm của con người về sinh
mệnh, gia đình, khát vọng hạnh phúc…Đây là vấn đề cần được tiếp tục nghiên
cứu.
Khi đi vào từng đại biểu của Nho giáo, nói như Lý Tường Hải trong
“Khổng Tử”: “Nho học là một loại “học vấn của đời sống”, sức sống nội tại của
nó không thể không gắn liền với Khổng Tử, người sáng lập ra Nho học. Trong
xã hội truyền thống, Khổng Tử được người ta suy tôn là thánh nhân, không chỉ
bởi ông là một người thầy lớn có mặt từ rất sớm trong lịch sử Trung Quốc, mà là
người thầy vĩ đại dẫn người Trung Quốc hoàn thành sinh mệnh riêng của mình.
Mấy nghìn năm lại đây, Nho gia sở dĩ được lưu truyền như thế, không chỉ bởi
mọi người khâm phục học vấn của Nho gia mà quan trọng hơn là, người ta kính
trọng nhân cách Nho gia ở Khổng Tử, tiến đến gắn bó với Nho gia trên ý nghĩa
sinh mệnh tồn tại. Khổng Tử đã để lại cho lịch sử nhân loại một tấm bia lớn về
con người và nhân ái” [43, tr.11-12].
Nguyễn Hiến Lê trong “Khổng Tử” cũng khẳng định: “Muốn đánh giá
công của một triết gia nào phải đặt họ vào thời đại của họ, xét xem họ đã làm
được gì hơn người trước, gợi ý được gì cho người sau, chứ đừng xét học thuyết
của họ, một hai ngàn năm sau, còn hợp thời hay không; theo nguyên tắc đó thì
chúng ta phải nhận rằng công của Khổng Tử rất lớn, nhất là về phương diện luân
lý. Khắp thế giới ai cũng trọng ông là một luân lý gia có tinh thần nhân bản
(humanisme) cao. Ông yêu con người, tin ở bản tính con người có thể cải hóa
được; ông trọng sự nhân ái, sự công bằng, tặng nhân loại một hệ thống luân lý

Tư tưởng của Nguyễn Trãi cũng như công lao của ông trong lịch sử đã
được giới nghiên cứu khai thác từ sớm trong tiến trình lịch sử. Tuy nhiên, nói
như GS.Trần Văn Giàu, mặc dù “Nguyễn Trãi là nhà tư tưởng được nhiều người
nghiên cứu và đã được nghiên cứu từ hàng chục năm nay, nhưng việc nghiên cứu
đó ta chưa thể xem là xong rồi. Nếu nói rằng chúng ta bắt đầu thì có lẽ đúng
hơn”[40, tr.506]. Sự bắt đầu này hoàn toàn có thể đi đến thành công nhờ có một
20
khối lượng tư liệu đồ sộ. Đặt trọng tâm ở việc khảo cứu sự ảnh hưởng của tư
tưởng nhân văn của Nho giáo trong tưởng Nguyễn Trãi, luận án chỉ khoanh vùng
ở những tài liệu có liên quan trực tiếp và gián tiếp chứ không khảo cứu toàn bộ
tài liệu về Nguyễn Trãi.
Trong cuốn “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” GS. Nguyễn Tài Thư chủ biên,
các tác giả dành hẳn một chương để khảo cứu về “Nguyễn Trãi – Nhà tư tưởng vĩ
đại của thế kỷ XV và của lịch sử tư tưởng dân tộc” và khẳng định: tư tưởng của
Nguyễn Trãi đã đạt đến tầm cao của thời đại, đã khái quát lên được những vấn đề
có tính quy luật của công cuộc cứu nước và dựng nước, chỉ ra được tầm quan
trọng của nhận thức lý luận trong hoạt động thực tiễn, từ đó nâng tư duy dân tộc
lên một trình độ mới. Những lý luận của ông vừa có ý nghĩa đối với đương thời,
vừa có tác dụng sâu xa về sau [128, tr.259]. Nói cách khác, những tư tưởng của
Nguyễn Trãi không chỉ có ý nghĩa đối với lịch sử mà còn vượt qua giới hạn không
thời gian để tỏ rõ sức mạnh định hướng, chỉ đạo của lý luận đối với thực tiễn.
Nhìn chung, từ những góc độ học thuật khác nhau như triết học, sử học,
đạo đức học…song các học giả đạt được sự thống nhất khá lớn trong việc khẳng
định vị trí, giá trị lịch sử và những đóng góp của Nguyễn Trãi cho lịch sử tư tưởng
Việt Nam cũng như yếu tố Nho giáo trong tư tưởng Nguyễn Trãi. Chẳng hạn, Võ
Xuân Đàn với “Những cống hiến của tư tưởng Nguyễn Trãi vào lịch sử Việt Nam”
nhận định: “Dấu ấn về Nho giáo trong tư tưởng Nguyễn Trãi khá đậm nhưng nó là
những nội dung tích cực, “cách mạng” của học thuyết Khổng Mạnh nguyên thủy.
Nguyễn Trãi đã tiếp thu và vận dụng nó trong điều kiện thực tế Việt Nam và đã
mang lại những giá trị lớn lao trong quá trình giành độc lập và xây dựng tổ quốc”

với tư tưởng của nhân văn của Nho giáo, lấy đó làm hệ trục để đối sánh với
Nguyễn Trãi, tìm ra và khẳng định mức độ tiếp thu, kế thừa, phát triển của
Nguyễn Trãi. Mặt khác, từ những khái quát về tư tưởng nhân văn của Nguyễn
22
Trãi một cách khu biệt trong một tác phẩm, cần mở rộng khảo cứu các tác phẩm
khác của Nguyễn Trãi để từ đó, khái quát lên những tư tưởng nhân văn cơ bản
của ông. Vấn đề này, về sau đã được chính tác giả tiếp tục triển khai trong “Tư
tưởng khoan dung của Khổng Tử và sự thể hiện nó ở Nguyễn Trãi”. Trên cơ sở
phân tích khái niệm khoan dung, tư tưởng khoan dung của Khổng Tử, khoan
dung trong tư tưởng Nguyễn Trãi, tác giả kết luận: “Tư tưởng khoan dung của
Nguyễn Trãi thấm đậm đạo đức nhân nghĩa của Nho giáo, nhờ đó ở ông chủ
nghĩa nhân văn được biểu hiện một cách rõ nét, đó là tình thương yêu con người.
Lòng trắc ẩn của ông đã vượt ra khỏi phạm vi yêu thương con người thân tộc,
ruột thịt của Khổng Tử để cứu dân binh hai nước thoát khỏi chiến tranh đẫm
máu, thực hiện mục đích “Hồ Việt nhất gia”” [167, tr.16].
Trường Lưu trong “Chủ nghĩa nhân văn và văn hoá dân tộc” đã dành một
phần để phân tích “Chủ nghĩa nhân văn Đại Việt qua tư tưởng nhân nghĩa của
Nguyễn Trãi”. Ông cho rằng: “Đó là tinh thần tiếp thu những yếu tố tích cực
trong tư tưởng Nho giáo trên cơ sở những đặc điểm đời sống tinh thần của dân
tộc ta, từ đó mà đề ra một chủ nghĩa nhân văn lành mạnh, lấy nhân nghĩa làm
gốc, lấy văn trị làm phương châm xây dựng thái bình, và lấy ý thức tự cường văn
hóa dân tộc làm cơ sở dài lâu cho việc bảo tồn và phát triển văn hiến, văn minh
dân tộc…Tư tưởng nhân văn và tư duy triết lý đã bao trùm toàn bộ các tác phẩm
văn học thiên tài của Nguyễn Trãi” [85, tr.82-83]
GS. Nguyễn Tài Thư khi bàn về tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi
cũng khẳng định: “Nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi có phạm vi rộng hơn,vượt ra ngoài
chủ trương và đường lối, và ở mức độ cao hơn, vượt lên trên những vấn đề cụ
thể, trở thành cơ sở của đường lối và chuẩn mực của đối xử; nguyên tắc trong
giải quyết sự việc. Nhân nghĩa đó thực sự đã đạt tới một nền tảng phương pháp
luận của suy nghĩ và hành động” [128, tr.267]. Tác giả chỉ ra rằng: “Cứu nước

hội cho sự ra đời và khái quát những nội dung cơ bản của tư tưởng nhân văn Nho
24
giáo có minh chứng bằng những luận điểm từ các tác phẩm kinh điển của Nho
giáo. Ba là, làm rõ sự ảnh hưởng của tư tưởng nhân văn Nho giáo trong tư tưởng
của Nguyễn Trãi. Bốn là, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu thu được, làm rõ
ý nghĩa của tư tưởng nhân văn Nguyễn Trãi đối với việc tiếp thu và phát triển tư
tưởng nhân văn ở Việt Nam.
Tiểu kết chương 1
Khảo cứu, đánh giá hệ thống các tài liệu có liên quan trực tiếp và gián tiếp
đến đề tài “Tư tưởng nhân văn của Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong tư tưởng
Nguyễn Trãi” có thể rút ra một số kết luận căn bản sau:
1. Bản thân luận thuyết Nho giáo là một luận thuyết đồ sộ và có lịch sử
lâu dài, tư tưởng nhân văn của Nho giáo đã bước đầu được đề cập và khai thác.
Tuy nội dung tư tưởng nhân văn của Nho giáo có xuất hiện trong một số công
trình nghiên cứu song chủ yếu là tư tưởng phái sinh hoặc chỉ là những nhận định,
những kết luận mang tính gợi mở về mặt khoa học. Chưa thấy có công trình
nghiên cứu chuyên biệt về tư tưởng nhân văn của Nho giáo từ hướng tiếp cận
hiện đại của thuật ngữ này trên phương diện triết học một cách hệ thống.
2. Tư liệu về Nguyễn Trãi khá đồ sộ, công trình nghiên cứu chuyên biệt
về Nguyễn Trãi cũng khá nhiều, có thể đáp ứng yêu cầu khảo cứu của các nhà
nghiên cứu. Các nội dung chính cũng như ảnh hưởng của Nho giáo đến Nguyễn
Trãi cũng đã được các chuyên gia khai thác, phân tích ở các cấp độ và phạm vi
khác nhau. Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi, nằm trong lộ trình chung đó
cũng đã bước đầu được khai thác. Tuy nhiên, chưa thấy có công trình chuyên về
ảnh hưởng của tư tưởng nhân văn Nho giáo đến tư tưởng Nguyễn Trãi từ góc độ
triết học.
3. Nghiên cứu “tư tưởng nhân văn của Nho giáo và ảnh hưởng của nó
trong tư tưởng Nguyễn Trãi” là một sự trở lại để gạn đục khơi trong và khẳng
định giá trị toàn nhân loại khởi phát trong học thuyết Nho giáo cũng như sự vận
dụng, nâng tầm của Nguyễn Trãi. Để đạt được kết quả nghiên cứu, trên cơ sở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status