V
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Triệu Quang Minh
TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA NHO GIÁO
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TRONG TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI
Chuyên ngành : Lịch sử triết học
Mã số : 62.22.80.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ TRIẾT HỌC
1
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Triệu Quang Minh
TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN CỦA NHO GIÁO
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TRONG TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 62.22.03.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2014
Công trình được hoàn thành tại: Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam,
Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS Lê Thị Lan
2. GS.TS Nguyễn Tài Thư
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Thế Kiệt
Viện Triết học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
Phản biện 2: PGS. TS Phạm Văn Nhuận
Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự - Bộ Quốc Phòng
Phản biện 3: PGS.TS. Lương Khắc Hiếu
phương Tây. Chính những hành công của một số nước trong việc vận dụng Nho giáo để ổn định và
phát triển xã hội đã đưa tới kỳ vọng có thể khai thác Nho giáo với tư cách là một trong những cơ sở,
tiền đề tư tưởng để giải quyết những vấn đề bất ổn của thế giới. Do đó, tư tưởng nhân văn của Nho
giáo cần được tiếp tục nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và cụ thể hơn nữa.
Tuy giá trị nhân văn Việt vốn có trong truyền thống dân tộc, trong mỗi con người Việt Nam
song dưới sự ảnh hưởng của Nho giáo, nhất là ở giai đoạn Nho giáo cực thịnh, các giá trị đạo đức
Việt đã được hệ thống hoá, được khuôn vào các tiêu chí mang tính quy tắc để đánh giá phẩm cách
con người. Việc đánh giá một cách khách quan, toàn diện và lịch sử cụ thể về những ảnh hưởng của
tư tưởng nhân văn Nho giáo khi gia nhập vào hệ giá trị nhân văn dân tộc là công việc cần thiết để
khẳng định những giá trị mang bản chất Việt và tính phổ biến toàn nhân loại lúc nào cũng vốn có
trong các tư tưởng nhân văn. Bên cạnh đó, cần thấy rằng Nho giáo ở Việt Nam là kết quả của quá
trình tiếp biến Nho giáo cho phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của dân tộc. Sự tiếp biến này, đối
với các nhà tư tưởng trong lịch sử cũng không hoàn toàn giống nhau.
Trong danh sách các đại biểu tiêu biểu của giới nhân sỹ trí thức được đào tạo theo sách vở Nho
giáo, Nguyễn Trãi được biết đến với tư cách một nhà Nho Việt tiêu biểu . Ông được coi là hiện thân của
lương tri Việt, làm rạng danh chủ nghĩa nhân văn Đại Việt. Tư tưởng nhân văn Nguyễn Trãi đã thể hiện
vai trò, sức mạnh của tư tưởng trong chính hoạt động thực tiễn vì lợi ích chung của dân tộc, vì con
người của bản thân ông. Không những thế, tư tưởng nhân văn ấy còn phát huy tác dụng trong việc định
hướng về mặt chủ trương, đường lối chính trị, xã hội đương thời và lịch sử dân tộc về sau. Tư tưởng
nhân văn của Nguyễn Trãi cũng được thực tiễn khẳng định không chỉ có ý nghĩa lịch sử đối với xã hội
4
trong thời đại ông sống mà còn là một tài sản truyền thống có giá trị của dân tộc. Nói cách khác, tư
tưởng nhân văn Nguyễn Trãi có ý nghĩa quan trọng trong việc tiếp thu, phát triển tư tưởng nhân văn,
chủ nghĩa nhân văn Việt Nam.
Vì những lý do trên, nghiên cứu sinh quyết định chọn đề tài:“Tư tưởng nhân văn của Nho giáo
và ảnh hưởng của nó trong tư tưởng của Nguyễn Trãi”, làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích
Làm rõ tư tưởng nhân văn trong Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong tư tưởng Nguyễn Trãi,
từ đó nêu lên ý nghĩa của tư tưởng nhân văn Nguyễn Trãi đối với việc tiếp thu và phát triển tư
- Luận án đã khái quát và đặt tên cho những tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi theo ngôn
ngữ hiện đại. Trên cơ sở đó, luận án đã phân tích và đánh giá mức độ ảnh hưởng tư tưởng nhân văn
Nho giáo trong tư tưởng Nguyễn Trãi.
- Luận án đã khẳng định ý nghĩa của tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi trong việc tiếp thu
và phát triển tư tưởng nhân văn ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa của luận án
Về mặt lý luận: Luận án làm rõ những nội dung cơ bản của tư tưởng nhân văn của Nho giáo
và ảnh hưởng của nó trong tư tưởng của Nguyễn Trãi, đồng thời chỉ ra ý nghĩa của tư tưởng nhân
văn Nguyễn Trãi đối với việc tiếp thu, phát triển tư tưởng nhân văn ở Việt Nam.
Về mặt thực tiễn: Luận án góp phần phục vụ công tác nghiên cứu chuyên sâu và giảng dạy:
Lịch sử Triết học, lịch sử tư tưởng, Cơ sở văn hóa Việt Nam. Luận án cũng có thể trở thành tư liệu
tham khảo cho các chuyên ngành có liên quan.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 9 tiết.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Các công trình nghiên cứu về tư tưởng nhân văn của Nho giáo
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về tư tưởng nhân văn của Nho giáo từ hướng tiếp cận
thuật ngữ “nhân văn”
Trong phạm vi nhận thức thời kỳ cổ đại ở Trung Quốc, tất nhiên bản thân vấn đề tư tưởng
nhân văn sẽ không thể tìm thấy và lấy thuật ngữ “nhân văn” làm xuất phát điểm bởi lẽ đây là vấn đề
của thời kỳ Phục hưng ở Châu Âu. Song, với nội hàm khái niệm được định vị, một số học giả đã đặt
vấn đề trong hệ trục so sánh để có thể tìm thấy các nội dung mang tính nhân văn của Nho giáo. Chẳng
hạn:
PGS. Hà Thúc Minh trong bài viết “Chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa nhân đạo” và “Chủ
nghĩa nhân văn thế kỷ XXI”, đã đề cập tới nhân văn phương Đông và phân tích bản tính thiện của
Mạnh Tử để cho thấy tính tương liên giữa giáo dục đạo đức với sự hiệu chỉnh con người từ bên trong.
Cách tiếp cận của Hà Thúc Minh là một gợi ý khoa học để triển khai luận án trên cơ sở bám sát nội
dung khái niệm chứ không phải truy tìm khái niệm một cách siêu hình, cứng nhắc.
nghĩa nhân đạo của Nho giáo chỉ là lòng thương vô bổ…Nhưng cũng không phải vì thế mà nói Nho
giáo phản động, nó là nhân đạo nhưng cái nhân đạo của nó không thể phát triển
Cuốn “Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay” do
GS.Nguyễn Tài Thư chủ biên có một chương bàn về “Nho giáo sơ kỳ và ảnh hưởng của nó đối với
con người Việt Nam hiện nay”, tác giả đã nêu lên những vấn đề liên hệ với vấn đề các giá trị phổ
biến toàn nhân loại trong Nho giáo sơ kỳ. Tuy nhiên chưa thấy các tác giả xâu chuỗi, hệ thống hóa
tiến trình hình thành và phát triển các giá trị toàn nhân loại này trong Nho giáo.
Đi vào từng đại biểu của Nho giáo, Lý Tường Hải trong “Khổng Tử” cho rằng Nho học là
một loại “học vấn của đời sống. Nguyễn Hiến Lê trong “Khổng Tử” cũng khẳng định: công của
Khổng Tử rất lớn, nhất là về phương diện luân lý, ông là một luân lý gia có tinh thần nhân bản cao,
ông yêu con người, tin ở bản tính con người có thể cải hóa được; ông trọng sự nhân ái, sự công
bằng, tặng nhân loại một hệ thống luân lý hợp tình người, để lặp lại trật tự xã hội, thay đổi thế giới.
Phạm Đình Đạt trong “Học thuyết tính thiện của Mạnh Tử với việc giáo dục đạo đức ở
nước ta hiện nay” đã tập trung vào việc phân tích nguồn gốc, nội dung cơ bản trong học thuyết tính
thiện của Mạnh Tử để minh chứng về ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức con người Việt
hiện nay. Nhưng do hạn chế về mục đích nghiên cứu cho nên chất và lượng dành cho phần này chưa
nhiều.
Như vậy, trong các công trình nghiên cứu kể trên, tư tưởng nhân văn của Nho giáo đã được
tiếp cận và nhận diện ở những phạm vi nhất định. Tuy vậy, nội dung cụ thể, cơ sở nảy sinh, diễn
tiến thay đổi và phát triển các tư tưởng này cũng như các minh chứng kinh điển của chúng chưa
được đề cập hoặc chỉ mới ở mức độ rất hạn chế. Đây là vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu sâu
nghiên cứu nhiều hơn nữa.
1.2. Các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của Nho giáo nói chung, tư tưởng nhân văn của
Nho giáo nói riêng trong tư tưởng Nguyễn Trãi
Tư tưởng của Nguyễn Trãi cũng như công lao của ông trong lịch sử đã được giới nghiên cứu
khai thác từ sớm trong tiến trình lịch sử. Khi đặt trọng tâm ở việc khảo cứu sự ảnh hưởng của tư
8
tưởng nhân văn của Nho giáo trong tưởng Nguyễn Trãi, luận án chỉ khoanh vùng ở những tài liệu
có liên quan trực tiếp và gián tiếp chứ không khảo cứu toàn bộ tài liệu về Nguyễn Trãi.
Cuốn “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” GS. Nguyễn Tài Thư (chủ biên), dành một chương để
khi nghiên cứu về Nguyễn Trãi đều coi ông là nhà nho song nền tảng Nho giáo, yếu tố tư tưởng
nhân văn của Nho giáo trong tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi đến đâu thì mới được khai thác ở
mức độ hạn hẹp. Cũng đã có một số công trình tiếp cận nội dung chủ nghĩa nhân văn Nho giáo, tư
9
tưởng nhân văn Nguyễn Trãi song cho tới nay, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về tư
tưởng nhân văn của Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong tư tưởng Nguyễn Trãi từ giác độ triết học.
Dựa trên những luận cứ khoa học của các nhà nghiên cứu đi trước, luận án có nhiệm vụ đi sâu làm
rõ hơn nữa các vấn đề căn bản sau: Một là, khoanh vùng, định vị khái niệm nhân văn được sử dụng,
nội hàm khái niệm tư tưởng nhân văn cũng như tương quan giữa nó trong hệ trục so sánh với các
khái niệm gần như: nhân bản, nhân đạo. Hai là, phân tích cơ sở xã hội cho sự ra đời và khái quát
những nội dung cơ bản của tư tưởng nhân văn Nho giáo thông qua kinh điển của Nho giáo. Ba là,
làm rõ sự ảnh hưởng của tư tưởng nhân văn Nho giáo đối với tư tưởng của Nguyễn Trãi. Bốn là,
trên cơ sở những kết quả nghiên cứu thu được, nhận định về giá trị của tư tưởng nhân văn Nguyễn
Trãi trong việc tiếp thu, phát triển tư tưởng nhân văn Việt Nam.
Tiểu kết chương 1
Khảo cứu, đánh giá hệ thống các tài liệu có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài “Tư
tưởng nhân văn của Nho giáo và ảnh hưởng của nó trong tư tưởng Nguyễn Trãi” có thể rút ra một
số kết luận căn bản sau:
1. Bản thân luận thuyết Nho giáo là một luận thuyết đồ sộ và có lịch sử lâu dài, tư tưởng
nhân văn của Nho giáo đã bước đầu được đề cập và khai thác. Tuy nội dung tư tưởng nhân văn của
Nho giáo có xuất hiện trong một số công trình nghiên cứu song chủ yếu là tư tưởng phái sinh hoặc
chỉ là những nhận định, những kết luận mang tính gợi mở về mặt khoa học. Chưa thấy có công trình
nghiên cứu chuyên biệt về tư tưởng nhân văn của Nho giáo từ hướng tiếp cận hiện đại của thuật ngữ
này trên phương diện triết học một cách hệ thống.
2. Tư liệu về Nguyễn Trãi khá đồ sộ, công trình nghiên cứu chuyên biệt về Nguyễn Trãi
cũng khá nhiều, có thể đáp ứng yêu cầu khảo cứu của các nhà nghiên cứu. Các nội dung chính cũng
như ảnh hưởng của Nho giáo đến Nguyễn Trãi cũng đã được các chuyên gia khai thác, phân tích ở
các cấp độ và phạm vi khác nhau. Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi, nằm trong lộ trình chung đó
cũng đã bước đầu được khai thác. Tuy nhiên, chưa thấy có công trình chuyên về ảnh hưởng của tư
tưởng nhân văn Nho giáo đến tư tưởng Nguyễn Trãi từ góc độ triết học.
lưu tư tưởng và các tôn giáo lớn ở Phương Đông bên cạnh những hạn chế, đều mang tính tích cực từ
khởi nguyên với các tư tưởng nhân văn. Chẳng hạn: trong luận thuyết Nho giáo nguyên thủy cũng có
không ít các tư tưởng mà bằng ngôn ngữ hiện đại có thể gọi là những tư tưởng vì sự tồn tại và phát
triển con người; Lý thuyết “Kiêm ái” của Mặc gia là một hình thức mở rộng không giới hạn phạm vi
bao quát của tôn giáo nhưng tính nhân văn của nó là ở chỗ tôn trọng, đề cao giá trị con người và kêu
gọi mọi người hãy yêu thương đồng loại như yêu chính bản thân mình; Lý thuyết Đạo giáo đề cao
tính tự do tự tại của con người, kêu gọi mọi người sống thuận theo tự nhiên, trả các giá trị về
nguyên nghĩa vốn có của nó; Triết lý nhập thế của Phật giáo và pháp ấn lý vô ngã khuyên con người
gắn mình vào cuộc sống thực tại để suy nghĩ, hành động và cống hiến cho những đạo lý tốt đẹp của
xã hội.
Ở Việt Nam, những tư tưởng nhân văn ở Việt Nam biểu hiện dưới các dạng thức như truyền
thống dân tộc, ca dao, truyện cổ, thơ văn bác học và bình dân, thần tích…chứ chưa được định hình
thành một chủ nghĩa nhân văn theo đúng nghĩa là một hệ thống lý luận về con người và vị trí của
con người. Theo khảo cứu của các nhà nghiên cứu, khái niệm nhân văn lần đầu tiên được Đào Duy
Anh khoanh vùng, định nghĩa và đưa vào “Giản yếu Hán – Việt từ điển” năm 1973. Đôi khi thuật
11
ngữ nhân văn được định nghĩa theo lối bẻ từ, chiết tự. Chẳng hạn, theo Từ điển tiếng Việt: Nhân là
người (ý nói mang đặc trưng bản chất người), văn là văn hóa, văn minh. Nhân văn theo đó là mang
những nét thuộc bản chất con người kết hợp với nó là tri thức văn hóa, văn minh.
Với tính chất văn hóa phương Đông và ngôn ngữ Việt Nam, đôi khi, ba lớp khái niệm nhân
văn, nhân bản, nhân đạo có mối quan hệ mật thiết, được dùng như nhau, thay thế nhau, trong khái
niệm này có bóng dáng của khái niệm kia. Thực tế là, trong lịch sử tư tưởng Phương Đông nói
chung và Việt Nam nói riêng, trong khi tính chất duy lý ít ảnh hưởng đến các phạm trù đạo đức thì
sự cùng tồn tại của các tôn giáo lớn và tính chất Văn, Sử, Triết bất phân càng làm dầy thêm dải tầng
mờ giữa các khái niệm.
Chúng tôi đặc biệt quan tâm tới nội hàm chủ nghĩa nhân văn trong tuyên bố Tuyên ngôn
Amterdam 2002. Trên cơ sở đó, chúng tôi cho rằng: Chủ nghĩa nhân văn theo nghĩa rộng nhất, là hệ
thống quan điểm triết học - đạo đức, chính trị - xã hội về con người và các giá trị người. Chủ trương
yêu thương con người và cuộc sống hiện thực ở trần gian; trân trọng và sự tin tưởng rằng: con
người sẽ được giải phóng khỏi mọi áp bức khổ đau để thụ hưởng hạnh phúc, tư tưởng và hành động
gần. Mâu thuẫn sâu sắc giữa các gia tầng xã hội cũng đẩy đến một vài cuộc khởi nghĩa nhỏ lẻ
nhưng đều không trở thành cuộc cách mạng. Điều kiện kinh tế xã hội với những biến đổi có tính
chất bước ngoặt của thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc đã trở thành tiền đề tồn tại xã hội kéo theo đòi
hỏi sự thay đổi của ý thức xã hội. Việc xuất hiện nhiều trường phái tư tưởng trong thời kỳ lịch sử
này của Trung Hoa lục địa là sản phẩm tất yếu phản ánh thực tại khách quan, đáp ứng nhu cầu của
thực tiễn. Tư tưởng nhân văn Trung Quốc trong Nho giáo phản ánh trước hết nguyện vọng của
những con người bất lực trước thực tiễn xã hội, trước nội chiến liên miên suốt thời Xuân Thu –
Chiến Quốc.
2.2.2 Những nội dung cơ bản của tư tưởng nhân văn của Nho giáo
Thứ nhất, quan niệm trân trọng sinh mệnh, sự sống con người
Vì sinh mệnh con người là đáng quý, đáng trân trọng cho nên Nho giáo luôn đặt sự tồn tại
của con người ở vị trí trung tâm. Từ sự tương đồng trong quan niệm của các đại biểu Nho giáo như
Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, đều coi trọng việc giữa gìn thân thể, sinh mạng bản thân và xem vấn
đề bảo thân cùng với việc chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ đó là hành động báo hiếu. Khổng Tử phản
đối chiến tranh, giết chóc và chủ trương dùng đức để giáo hóa con người. Tuân Tử cũng kỳ vọng
xây dựng một đội quan nhân nghĩa…Ngay cả trong Nho giáo đầy tính thần bí của Đổng Trọng Thư,
việc tính toán âm dương, tế lễ quỷ thần…cũng bao hàm trong đó mục đích cầu phúc cho con người
sống lâu, sống yên, bảo toàn tính mạng. Bởi thế, có thể nói, vấn đề coi trọng sinh mạng, sự sống của
con người vẫn được đề cập đến trong các dạng thức Nho giáo về sau như Hán Nho, Tống Nho. Nội
dung này được thể hiện thông qua quan điểm của các nhà nho và yêu cầu nhà vua phải quan tâm
đến đời sống của dân.
Hạn chế của Nho giáo ở điểm này chính là thái độ là trọng nam, khinh nữ và đẩy việc có con
nối dõi tông đường lên cực điểm. Tuy vậy, điểm tích cực là ở chỗ, từ quan điểm kế tục sinh mệnh,
Nho giáo làm khởi phát lý luận về tình yêu thương nhân loại của con người.
Thứ hai, quan niệm Nho giáo về lẽ sống của con người
Một là, sống phải yêu người, phải làm cho những người xung quanh cũng yêu người. Khổng
Tử cho rằng, nếu tâm con người luôn hướng về điều nhân thì người ấy sẽ không có tư tưởng phản
loạn, không nói lời xằng bậy, không dấn thân làm việc ác Mạnh Tử cũng cho rằng, là người thì
không thể thờ ơ, vô cảm trước công việc chung liên quan đến con người. Bản tính thiện, tứ đoan
13
phương pháp “tư thiện”, “tích thiện”, để uốn nắn bản tính con người từ ác thành thiện. Theo ông,
không chỉ thánh nhân mà cả đối với người bình thường đều có thể làm được. Từ sau Nho giáo
Nguyên thủy, quan niệm về bản tính và khả năng trùng phục bản tính thiện của con người vẫn được
đề cập đến. Sự đề cập này, dù còn nhiều hạn chế và không tránh khỏi việc đôi khi bị đẩy lên một cách
thái quá song đóng góp căn bản chính là ở chỗ các nhà nho đều đặt niềm tin vào sự nỗ lực không
ngừng của con người. Nói một cách khác, với quan niệm về lẽ sống của con người, Nho giáo đã đặt
14
niềm tin vào khả năng hiện thực các lý tưởng từ sức mạnh của chính con người thay vì các lực
lượng siêu nhiên.
Thứ ba, quan niệm về tính tương liên giữa ý thức cá nhân, gia đình và ý thức cộng đồng của
Nho giáo
Theo quan điểm Nho giáo sống là người thì phải gắn bó với người. Sự cộng sinh của loài
người khác với loài vật bởi vì con người có chính danh, định phận, biết phân biệt phải trái và tình
cảm yêu ghét từ trong ý thức. Điều này thể hiện rất rõ trong quan niệm cho rằng nuôi cha mẹ mà
không kính thì chẳng khác gì nuôi chó ngựa của KhổngTử. Tuân Tử cũng tiếp nối quan điểm của
Khổng Tử và nhấn mạnh: “Cầm thú có cha con mà không có tình phụ tử, có giống đực giống cái mà
không có nghĩa lứa đôi. Cho nên đạo làm người phải biết biền biện”. Sau này, trong lý luận của
Trình Hạo, Trình Di, thái độ cung còn được phát triển thành tông chỉ tu dưỡng luôn luôn phải ghi
nhớ cho người quân tử. Theo Nhị Trình, mọi người phải giữ thái độ cung kính vào mọi lúc, để tự
ước thúc và tu dưỡng bản thân, cung kính là gốc của việc người. Mọi người đều có thể tiến hành tu
dưỡng vì mọi người đều có nhân tính vốn thiện. Đến Vương Thủ Nhân, cũng cho rằng cho dù là
đạo quân thần, phụ tử hay huynh đệ, phu phụ, bằng hữu, đến cả người dưng qua đường đều lấy ở
một cái tâm nhân ái bao la mà đối đãi. Cái tâm ấy bắt đầu từ trong gia đình rồi mở rộng không giới
hạn cái đức hiếu đễ ra ngoài theo nguyên lý tu tề trị bình.
Tùy theo việc khởi phát và bồi dưỡng sự yêu ghét mà tình cảm con người được thể hiện ra ở
những tầng bậc khác nhau, nhưng bao giờ cũng bắt đầu từ những người thân trong gia đình rồi mới
mở rộng phạm vi ra ngoài xã hội. Nho giáo đã đặt cá nhân trong gia đình, tập thể, cộng đồng. Gắn
chặt cá nhân với cộng đồng và quy định hành động của họ bằng cách tạo ra sự liên thông giữa các
vai trò của con người. Theo đó, mỗi cá nhân cùng một lúc tham gia nhiều mối quan hệ, sự tham gia
đó không những không tạo ra mâu thuẫn về mặt nguyên tắc mà còn tạo được hành lang bảo vệ
mãn nhu cầu hạnh phúc được người dân dùng làm tiêu chí đánh giá một triều đại. Khổng Tử đã từng
đưa ra những điều kiện căn bản để đạt tới hạnh phúc cho con người ngay trong đời sống thực tại: Mạnh
Tử tiếp nối tư tưởng của Khổng Tử, luôn phản đối chiến tranh, mong bình trị cho xã hội. Thậm chí
Mạnh Tử còn cho rằng trong đời Xuân Thu, các cuộc chiến tranh đều vô nghĩa… Mạnh Tử khẳng
định để thi hành nền chính sự tốt đẹp, gốc rễ là ở yên dân. Chu Hy sau này đã kế thừa, phát triển tư
tưởng của Mạnh Tử và chỉ ra rằng đem của cải chia cho dân chỉ là ân huệ nhỏ, còn phải biết dùng điều
thiện để giáo dục dân và tìm người kế tục sự nghiệp phát triển đường lối đức trị của mình… Tuy thực
tiễn lịch sử lúc bấy giờ đã làm cho quan điểm đức trị của Nho giáo trở thành không tưởng, phi thực
tế. Song, chấp nhận khát vọng hạnh phúc của con người và nỗ lực trong việc chủ trương đức trị để
đáp ứng yêu cầu hạnh phúc ấy là tư tưởng nhân văn đáng ghi nhận của Nho giáo.
Tiểu kết chương 2
1. Tư tưởng nhân văn là thành tố cấu tạo nên chủ nghĩa nhân văn. Tư tưởng nhân văn, một
cách khái quát nhất, được dùng để chỉ các quan niệm tích cực về con người, cách sống của con
người, xã hội loài người. Là những tư tưởng thể hiện sự yêu thương, tôn trọng, chăm lo, che chở,
giáo dục, bảo vệ về thể lực, trí lực và ước vọng xây dựng một xã hội tốt đẹp vì con người.
2. Nho giáo ra đời vào thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc, là một học thuyết phản ánh cục diện
xã hội đương thời với những biến đổi sâu sắc và toàn diện về cả kinh tế, chính trị và xã hội. Những tư
tưởng nhân văn của Nho giáo phản ánh nguyện vọng của những con người trong giai đoạn lịch sử
đó. Nó được thể hiện tập trung ở các quan niệm: về sinh mệnh, sự sống của con người; về lẽ sống của
16
con người; tính tương liên giữa ý thức về cá nhân, gia đình và ý thức cộng đồng; chấp nhận và tìm
cách đáp ứng khát vọng hạnh phúc của con người.
3. Tư tưởng nhân văn của Nho giáo còn có những khiếm khuyết và hạn chế nhất định. Bởi thế,
tư tưởng nhân văn của Nho giáo không đủ sức phát triển thành chủ nghĩa nhân văn, thậm chí về sau
đôi khi còn bị diễn giải theo hướng phản nhân văn. Tuy vậy, gạt sang một bên những hạn chế, có thể
khẳng định rằng: những tư tưởng nhân văn của Nho giáo cho thấy tầm thời đại của một luận thuyết
với các giá trị mang tính phổ biến toàn nhân loại của nó. Những tư tưởng nhân văn của Nho giáo
một mặt không được trình bày một cách trực diện, mặt khác chỉ dừng ở góc độ tư tưởng, nó chưa
được hiện thực hóa trong điều kiện lịch sử lúc đó. Song, nó đánh dấu một thời điểm lịch sử, ghi
nhận việc suy tư về các tiêu chí mang giá trị người. Không những thế, những tâm niệm và những lời
đà để nền sản xuất phát triển. Chế độ phong kiến quan liêu tập quyền Lê Sơ phát triển lên đến đỉnh
cao tạo điều kiện thuận lợi để Nho giáo được xác lập vị trí như một công cụ đắc lực nhất chi phối tư
tưởng xã hội. Ảnh hưởng của Nho giáo vì thế mà ngày càng mạnh mẽ. Tuy vậy, không phải ai trong
hàng ngũ quan lại, Nho sỹ cũng tiếp nhận một cách thụ động, phổ biến một cách rập khuân nội dung
Nho học. Không ít người trong giới Nho học biết tìm cách cải biến, Việt hóa và phát triển Nho giáo.
Điển hình là Nguyễn Trãi.
18
3.2. Nguyễn Trãi tiếp thu, phát triển tư tưởng nhân văn của Nho giáo
3.2.1.Tư tưởng của Nguyễn Trãi về quyền được sống trong một cộng đồng tự do, một quốc gia
độc lập của nhân dân Đại Việt
Tư tưởng của Nguyễn Trãi về quyền được sống, sống trong một cộng đồng tự do của nhân
dân Đại Việt là tư tưởng của một nho sỹ yêu nước, thương dân sinh. Nguyễn Trãi đã phản ánh tâm
lý đòi hỏi sự sinh tồn của con người. Ông đã tiếp thu và mở rộng tư tưởng nhân văn của Nho giáo
về vấn đề coi trong sinh mệnh sự sống của con người. Sinh mệnh, sự sống trong tinh thần nhân văn
của Nguyễn Trãi gắn liền với sự tồn vong của dân tộc. Nguyễn Trãi đã vận dụng một cách sáng tạo
những phạm trù đạo đức của Nho giáo vào thực tiễn đất nước.
Tính cộng đồng trong Nho giáo vẫn còn chung chung, quốc trong quan niệm của họ cũng
chỉ là quốc gia nhỏ gắn với một ông vua còn trong tư tưởng Nguyễn Trãi, tinh thần yêu nước, dân
tộc độc lập là vì lợi ích của cả quốc gia. Không những thế, với các tiêu chí cụ thể, lợi ích của Đại
Việt không những không mâu thuẫn với quốc gia khác để rơi vào chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi mà còn
là vì mục tiêu hữu hảo giữa các dân tộc trên tinh thần hòa bình, hữu nghị, tôn trọng lẫn nhau, mang
đầy tính nhân văn: tắt muôn đời chiến tranh trên tinh thần giữ vẹn bờ cõi, an ninh.
3.2.2. Tư tưởng của Nguyễn Trãi về nhân nghĩa – con đường để hiện thực hóa quyền con người
Nguyễn vận dụng nhân nghĩa của Nho giáo, đạo nhân nghĩa trong tư tưởng Nguyễn Trãi vượt
qua phạm vi nhân nghĩa của Nho giáo chính thống để mang tính phổ quát, tiến gần hơn với bản chất
của thuật ngữ nhân nghĩa. Tuy trong tư tưởng của Nguyễn Trãi không tìm thấy những thuật ngữ hiện
đại với tính chất trực tiếp nói về các vấn đề liên quan tới quyền con người nhưng tư tưởng của ông
cho thấy ông coi nhân nghĩa là công cụ, biện pháp, con đường để không chỉ đạt được mục tiêu giải
phóng nhân dân, giải phóng dân tộc mà còn duy trì và nâng cao đời sống cho nhân dân.
Thứ nhất, nhân nghĩa đối với Nguyễn Trãi là một con đường để góp phần hiện thực hóa
tộc. Chính thời đại ấy đã quy định và đưa ra yêu cầu về đường lối giải phóng đất nước, giải phóng
con người khỏi áp bức bóc lột lên. Thực tiễn lịch sử dân tộc, truyền thống gia đình cộng thêm các
nhân tố chủ quan và khách quan khác đã khiến cho sự tiếp nhận Nho giáo của Nguyễn Trãi nói
chung và sự ảnh hưởng của tư tưởng nhân văn Nho giáo đến Nguyễn Trãi nói riêng có nhiều khác
biệt. Sự khác biệt giúp Nguyễn Trãi để lại dấu ấn vinh danh chủ nghĩa nhân văn Đại Việt.
2. Ảnh hưởng của tư tưởng nhân văn của Nho giáo trong tư tưởng Nguyễn Trãi rất rõ nét.
Nhưng tư tưởng nhân văn của Nho giáo đã được Nguyễn Trãi kế thừa, bổ sung, phát triển ở những
phạm vi nhất định. Tư tưởng nhân văn của ông thể hiện ở những nội dung chính: Tư tưởng về
quyền được sống trong một cộng đồng tự do và quốc gia độc lập của nhân dân Đại Việt; Tư tưởng
về nhân nghĩa - con đường để hiện thực hóa quyền con người; Tư tưởng về xã hội lý tưởng như là
môi trường thực hiện quyền con người.
3. Với một sự đối sánh tương đối, có thể thấy rõ sự ảnh hưởng, sự kế thừa và phát triển của
Nguyễn Trãi đối với tư tưởng nhân văn của Nho giáo. Trong tính kế thừa và nâng tầm, tư tưởng nhân
văn của Nguyễn Trãi vẫn còn có những hạn chế nhất định. Tuy nhiên, những hạn chế mang tính thời
đại không thể bác bỏ hay phủ định những thành tựu mà Nguyễn Trãi đã đạt được. Lịch sử đã ghi nhận
những đóng góp của Nguyễn Trãi đối với cách mạng giải phóng dân tộc và lịch sử cũng tiếp tục ghi
nhận ý nghĩa của tư tưởng nhân văn Nguyễn Trãi đối với việc tiếp thu, phát triển tư tưởng nhân văn
Việt Nam.
20
Chương 4
Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN NGUYỄN TRÃI
ĐỐI VỚI VIỆC TIẾP THU, PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG NHÂN VĂN VIỆT NAM
4.1.Tổng kết thực tiễn, phát triển chủ nghĩa yêu nước truyền thống
Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi là sự tiếp tục truyền thống nhân văn của một dân tộc
coi trọng tình người, yêu thương đồng bào, đồng loại, khát vọng hòa bình…đồng thời là tư tưởng
phản ánh hiện thực khách quan, phản ánh nguyện vọng chính đáng của con người trong bối cảnh xã
hội lúc đó. Từ chính thực tiễn của dân tộc, Nguyễn Trãi đã tổng kết thực tiễn, khái quát lên một bức
tranh toàn cảnh về đất nước trong thời điểm lịch sử cụ thể lúc đó. Bức tranh không chỉ làm thức tỉnh
lòng yêu nước của những người dân Việt mà còn khơi dậy sự đồng cảm, sẻ chia giữa con người với
con người để cùng lên án chiến tranh. Chủ nghĩa yêu nước lấy tự tôn, tự hào dân tộc làm cơ sở, lấy
bình đẳng với các dân tộc khác… của Nguyễn Trãi còn tiệm cận gần sát đến nội dung của lý tưởng
nhân văn hiện đại vì con người trên tinh thần đoàn kết quốc tế. Nguyễn Trãi đã đóng góp không chỉ
cho lịch sử dân tộc mà ông còn đóng góp cho lịch sử tư tưởng chính trị thế giới vào nửa đầu thế kỷ
XV. Về sau, dưới ánh sáng của khoa học hiện đại, dưới sự dẫn đường của chủ nghĩa Mác Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh, nó vẫn còn được tiếp tục phát triển thêm nữa.
Tiểu kết chương 4
1. Đối với Nguyễn Trãi, sự tiếp biến của Nho giáo nói chung và tư tưởng nhân văn của Nho
giáo nói riêng là kết quả tất yếu bởi sự kết hợp của cả hai yếu tố: điều kiện khách quan và nhân tố
chủ quan. Nhờ vậy, tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi được xem là một hiện tượng trong dòng
chảy của chủ nghĩa nhân văn dân tộc. Tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi có ý nghĩa quan trọng
trong việc tiếp thu, phát triển tư tưởng nhân văn ở Việt Nam. Ý nghĩa này thể hiện tập trung ở một
số nội dung: Tổng kết thực tiễn, phát triển chủ nghĩa yêu nước trên tinh thần lấy cố kết cộng đồng,
tự tôn dân tộc làm cơ sở, lấy bảo vệ lợi ích dân tộc, lợi ích nhân dân làm mục tiêu; Giải phóng dân
tộc, giải phóng con người; Củng cố niềm tin, xây dựng lý tưởng, phát huy văn hóa truyền thống dân
tộc; Định hướng tư duy, hành động, bồi dưỡng tư tưởng cộng đồng.
2. Xuất phát điểm, khi nêu tư tưởng và quan điểm của mình, mục đích của Nguyễn Trãi là tập hợp
được lực lượng mạnh mẽ để kháng chiến giành thắng lợi, giải phóng dân tộc nhưng giá trị mà nó
mang lại vượt qua phạm vi của một cuộc kháng chiến để đến gần hơn với việc xác lập cách xử lý
các mối quan hệ của con người, giải phóng con người khỏi áp bức bất công, hướng đến và xây dựng
một môi trường xã hội ngày càng giàu nhân tính hơn. Không những thế, từ ý nghĩa của tư tưởng
nhân văn Nguyễn Trãi đối với việc tiếp thu, phát triển tư tưởng nhân văn truyền thống Việt Nam có
thể thấy nhiều nội dung vẫn còn giá trị trong điều kiện hiện nay. Đây có thể xem như là kết quả phái
sinh tất yếu có nguồn gốc từ tính phổ biến toàn nhân loại của các giá trị nhân văn – điểm giao nhau
và gặp gỡ của các tư tưởng vì con người và cuộc sống đích thực của con người. Những di sản mà
Nguyễn Trãi để lại còn trở thành cơ sở để hậu thế có quyền tự hào vì ngay trong dòng chảy của tư
tưởng nhân văn Việt Nam đã có những người con mà tư duy của họ đã đạt đến tầm thời đại.
22
KẾT LUẬN CHUNG
1. Tư tưởng nhân văn là thành tố cấu tạo nên chủ nghĩa nhân văn, được dùng để chỉ các
quan niệm tích cực về con người, cách sống của con người, xã hội loài người. Nhìn chung các tư
khoa học. Biện chứng ở cách nhìn sự vật trong mối liên hệ, trong sự chuyển hóa, trong phát triển,
trong sự tác động qua lại của nhiều yếu tố. Khoa học ở trình độ khái quát, ở chiều sâu của tư duy, ở
mức độ phản ánh hiện thực, ở khả năng hướng dẫn hành động…” [128, tr.293]. Không những thế, tư
23
tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi không chỉ dừng ở vai trò lý luận dẫn đường mà còn xung kích vào
lĩnh vực cải tạo thực tiễn, mang lại những kết quả hiện thực được lịch sử xác nhận. Cho nên, Nguyễn
Trãi không chỉ đóng góp với tư cách là một nhà tư tưởng góp phần tạo nên bản lĩnh văn hóa nhân văn
dân tộc Nguyễn Trãi không chỉ đóng vai trò một nhà tư tưởng, quân sự hay ngoại giao mà trước hết
ông được lịch sử tôn vinh bởi sự cống hiến hết mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng
con người. Tư tưởng Nguyễn Trãi nói chung, tư tưởng nhân văn của Nguyễn Trãi nói riêng, vì thế, có
một ý nghĩa quan trọng trong việc tiếp thu, phát triển tư tưởng nhân văn ở Việt Nam.
24