ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ HƢƠNG
TƢ TƢỞNG THÂN DÂN TRONG LỊCH SỬ
TƢ TƢỞNG VIỆT NAM ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ
XX
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC
MÃ SỐ: 60 22 03 01
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ THỊ LAN HÀ NỘI - 2012 MỤC LỤC
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đánh giá về vai trò của dân và giải quyết mối quan hệ giữa những ngƣời
cầm quyền với dân là một vấn đề luôn luôn đƣợc đặt ra và thể hiện những quan
điểm rất khác nhau ở các chế độ, các thời đại.
Truyền thống “thân dân”, “lấy dân làm gốc” là một tƣ tƣởng tiến bộ đã có
từ hơn 2500 năm trƣớc đây trong tƣ tƣởng Nho giáo. “Lấy dân làm gốc” cũng là
một bài học chính trị và lời dặn dò quí báu của ông cha ta thể hiện ở các triều đại
tiến bộ trong lịch sử dựng nƣớc và giữ nƣớc mấy nghìn năm của dân tộc, đƣợc
biểu hiện trong tƣ tƣởng và hành động của nhiều vị vua anh minh thời Lý, Trần,
Lê; của nhiều nhà tƣ tƣởng nhƣ Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Phan Bội Châu,
Phan Châu Trinh, v.v….Đến chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm nhân dân là
ngƣời chủ đất nƣớc của Ngƣời là tiếp thu từ truyền thống dân tộc và từ tƣ tƣởng
dân chủ tƣ sản Pháp từ rất sớm. Có thể nói rằng tƣ tƣởng “nƣớc lấy dân làm
gốc” là tƣ tƣởng thể hiện những giá trị triết học và nhân văn sâu sắc và nhất
quán trong toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của Ngƣời.
Quan điểm đó còn biểu hiện sự thấm nhuần quan điểm triết học Mác – Lênin về
vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhân dân lao động, biểu hiện ở quan
điểm nhân văn cao cả của Bác, luôn chăm lo xây dựng, bồi dƣỡng giáo dục và
phát triển nhân tố con ngƣời. Đó chính là sự kế thừa và phát triển những giá trị
tƣ tƣởng Triết học phƣơng Đông, Việt Nam và thế giới trong thời đại mới.
Tƣ tƣởng “Lấy dân làm gốc” không chỉ đã trở thành nội dung, mục tiêu
chủ yếu mà còn là cơ sở, là căn cứ để hình thành và triển khai đƣờng lối cai trị,
quản lý xã hội của các triều đại phong kiến Việt Nam, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt
quá trình xây dựng và phát triển đất nƣớc. Ngày nay, việc phát huy tinh thần
“Lấy dân làm gốc” đã trở thành bài học quý giá cho Đảng và Nhà nƣớc ta trong
quá trình lãnh đạo nhân dân thực hiện những mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
(1). Trong tác phẩm Đại cƣơng lịch sử văn hóa Trung Quốc (do các giáo
sƣ Ngô Vĩnh Chính, Vƣơng Miện Quý chủ biên – NXB Văn hóa Thông tin, 3
1994). Các tác giả đã khẳng định tính nhân văn, nhân bản của Nho giáo. Theo
quan điểm của các tác giả này, Nho giáo luôn xem dân là rƣờng cột của xã tắc,
nhƣng cũng đề cao một cách phiến diện việc giáo dục đạo đức nhân luân, coi
thƣờng lao động chân tay và không quan tâm đến việc dạy kỹ thuật lao động cho
dân chúng.
(2). Trần Trọng Kim trong tác phẩm Nho giáo (NXB Thành phố Hồ Chí
Minh, 1992), đã nhìn nhận Nho giáo không chỉ là học thuyết chính trị xã hội,
học thuyết đạo đức mà còn là học thuyết triết học. Tác giả đã trình bày nhiều
phạm trù, nguyên lý cơ bản của Nho giáo trong sự phát triển của chúng. Bên
cạnh đó, tác giả còn bàn đến nhiều nội dung, khía cạnh trong một số khái niệm
về dân, về vai trò của dân và một số nội dung trong tƣ tƣởng thân dân của Nho
giáo. Đặc biệt trong tác phẩm này, tác giả hết sức đề cao những giá trị của Nho
giáo trong bối cảnh mà đa số ngƣời Việt Nam lúc bấy giờ hoài nghi, xa lánh và
ghét bỏ.
(3). Trong cuốn Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1, (Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 1993) do Nguyễn Tài Thƣ chủ biên, các tác giả đã phân tích sự phát
triển của tƣ tƣởng Việt Nam qua các thời kỳ (từ khi Nho giáo du nhập vào Việt
Nam đến cuối thế kỉ XVIII). Đặc biệt là từ chƣơng XIV, các tác giả đã trình bày
một cách khái quát về Nho giáo và tình hình chính trị – xã hội, văn hóa và tƣ
tƣởng thời Lý, Trần và Lê Sơ. Bên cạnh đó các tác giả cũng phân tích quan điểm
của các nhà tƣ tƣởng Việt Nam nhƣ Lý Công Uẩn, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn
Trãi, Lê Thánh Tông.
(4). Cuốn Học thuyết chính trị – xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của
nó ở Việt Nam (từ thế kỉ XI đến nửa đầu thế kỉ XIX) của tác giả Nguyễn Thanh
Bình, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007. Nhìn nhận Nho giáo với tƣ cách là
Thục; Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam
hiện nay (Nguyễn Tài Thƣ chủ biên) và một số luận án, luận văn đã đƣợc bảo vệ
nhƣ: Quan niệm về dân và tư tưởng thân dân trong Luận ngữ , Mạnh Tử của
Hoàng Thị Bình; Từ tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi đến tư tưởng “Lấy
dân làm gốc” của Hồ Chí Minh, Đỗ Thị Hồng Thu, Khoa Việt Nam học –
Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội; Tư tưởng về Dân trong Nho giáo tiên Tần và 5
ảnh hưởng của nó đối với tư tưởng Việt Nam (từ thế kỉ XI đến thế kỉ XV của
Trƣơng Thị Thảo Nguyên, ngành Triết học….
Có thể thấy đề tài luận văn là một miền đất “quen mà lạ”. “Quen” bởi đã
có những ngƣời đi qua để lại những lời bình luận, đánh giá bổ ích. “Lạ” vì chƣa
có ai đặt vấn đề nghiên cứu một cách hệ thống tƣ tƣởng thân dân và sự kế thừa
truyền thống này của Đảng ta.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn: Làm rõ sự phát triển của tƣ tƣởng thân dân trong
lịch sử tƣ tƣởng Việt Nam đến đầu thế kỷ XX và sự kế thừa quan điểm “lấy dân
làm gốc” của Đảng ta trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc ta
hiện nay.
Nhiệm vụ của luận văn:
– Phân tích nguồn gốc và nội dung của tƣ tƣởng thân dân trong lịch sử tƣ
tƣởng Việt Nam.
– Làm rõ sự kế thừa, tƣ tƣởng thân dân, “lấy dân làm gốc” của Đảng
hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Cơ sở lý luận
Quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng của chủ
tịch Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vai trò của quần
chúng nhân dân và lãnh tụ trong lịch sử.
7
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
NGUỒN GỐC CỦA TƢ TƢỞNG THÂN DÂN Ở VIỆT NAM
1.1. Quan niệm về dân trong triết học Trung Hoa cổ đại
1.1.1. Khái niệm dân và tƣ tƣởng “thân dân”
Để có thể nắm bắt đƣợc đầy đủ quan niệm về dân trong triết học Trung
Hoa cũng nhƣ những nội dung liên quan đến dân ở thời đại ngày nay, chúng ta
cần xem xét nội hàm khái niệm Dân và tƣ tƣởng thân dân. Dân là một khái niệm
rất cơ bản trong lịch sử tƣ tƣởng chính trị – xã hội. Khái niệm này đã xuất hiện
từ xa xƣa, đƣợc sử dụng rất phổ biến trong các di sản văn thơ của ông cha ta và
trong văn học dân gian qua các thời kỳ lịch sử. Nó còn đƣợc dùng thƣờng xuyên
trong ngôn ngữ hiện đại đời thƣờng, trong báo chí và cả trong các văn kiện
chính thức của Đảng, Nhà nƣớc ta hiện nay.
Tuy nhiên để làm rõ đƣợc một khái niệm, nhất là một khái niệm có nội
hàm rộng nhƣ khái niệm “Dân” là không hề đơn giản. Trƣớc tiên, tác giả sử
dụng cuốn từ điển Triết học và từ điển tiếng Việt là những cuốn sách không xa
lạ gì với những ngƣời nghiên cứu Triết học và Khoa học xã hội để thống nhất
định nghĩa về “dân”. Trong cuốn từ điển tiếng Việt (do Lê Văn Tân chủ biên –
Nxb. Khoa học Xã hội, 1967) có trình bày cả hai khái niệm “Dân” và “Nhân
dân”. Hai khái niệm này về cơ bản là giống nhau, có thể thay thế đƣợc cho nhau.
Tuy vậy, chúng không phải là đồng nhất tuyệt đối và không thể thay thế cho
nhau trong mọi trƣờng hợp. Ví dụ: không thể thay thế cụm từ “vấn đề dân cày”
cầm quyền, bộ phận lãnh đạo hoặc quân đội. Ví dụ: Ngƣời dân thƣờng; tình
quân dân;
3. Ngƣời cùng nghề nghiệp, hoàn cảnh… làm thành một lớp ngƣời riêng.
Ví dụ: Dân thợ, dân buôn, dân ngụ cƣ.
Nhìn chung, trong các cuốn từ điển tiếng Việt, nghĩa cơ bản của khái
niệm “Dân” và “Nhân dân” là giống nhau, nhiều trƣờng hợp có nghĩa đồng nhất, 9
có thể sử dụng thay thế cho nhau. Điều đó phù hợp với thực tế trong khẩu ngữ
và cả trong ngôn ngữ văn bản tiếng Việt.
Từ việc phân tích các mối quan hệ, các bình diện, các khía cạnh khác
nhau về Dân, ta có thể khái quát: “Dân là một khái niệm xuất hiện và tồn tại
trong xã hội có giai cấp, có nhà nƣớc, dùng để chỉ những ngƣời lao động bình
thƣờng, đông đảo, không có chức quyền và tƣơng phản với những ngƣời cầm
quyền cai trị ở các địa bàn lãnh thổ, các nghề nghiệp khác nhau trong lĩnh vực
sản xuất vật chất và hoạt động tinh thần của một xã hội nhất định”. Do đó, Khái
niệm “Dân” mang màu sắc và ý nghĩa chính trị khá rõ rệt, phần nào phản ánh
đƣợc các mối quan hệ xã hội. Trong xã hội phong kiến, tuy không còn bị xem là
những công cụ lao động biết nói nhƣng dân vẫn nằm trong địa vị phụ thuộc mà
chế độ phong kiến Trung Quốc gọi là “thần dân”. Thần, nghĩa đen là bề tôi, là
tầng lớp quan lại phải chịu khuất phục, chịu sự chi phối của nhà vua và dĩ nhiên,
theo trật tự xã hội, thần dân phải xếp dƣới tầng lớp quan lại. Điều này không
phải ở phƣơng Đông mà dƣới chế độ phong kiến ở các nƣớc phƣơng Tây, tình
hình này cũng diễn ra tƣơng tự. Thần dân, tiếng Pháp là Sujets (nghĩa đen là phụ
thuộc, là phải phục tùng), tiếng Anh là Subject (là khuất phục, là bắt phải chịu),
theo tiếng Nga là chịu, là bị, là ngả theo. Nhƣ vậy, dân với tƣ cách là thần dân là
những ngƣời thuộc sở hữu của vua. Chỉ trong xã hội hiện đại: xã hội Tƣ bản và
xã hội Xã hội chủ nghĩa vai trò của ngƣời dân mới đƣợc nhận thức đầy đủ.
Ngƣời dân đƣợc đặt trong quan hệ về mặt quyền lợi và nghĩa vụ với nhà nƣớc.
thịnh trị. Thuyết “kiêm ái”- chủ thuyết đạo đức cơ bản của Mặc Tử, với tƣ tƣởng
chủ đạo là khởi xƣớng và xây dựng tình yêu thƣơng con ngƣời, tình đồng loại,
hàm chứa những giá trị nhân bản sâu sắc, quyện bền vào tâm thức của con ngƣời
từ nhiều thế hệ. Nếu nhƣ Khổng Tử chủ trƣơng “yêu thƣơng ngƣời thân, quý
trọng ngƣời sang”, thì sự yêu thƣơng của Mặc Tử đã vƣợt qua giới hạn phân
chia giai cấp, phân biệt mình - ngƣời, thân - sơ, quý - tiện. Không chỉ trong tƣ
tƣởng, mà chính hành động nghĩa hiệp trong suốt cuộc đời của ông đã nói lên
điều đó.
Mặc Tử chủ trƣơng một chính quyền có hiệu lực và tập trung, nhƣng lại
phản đối sự bất công, bất bình đẳng trong xã hội. Mặc Tử lên án “Vƣơng công 11
đại nhân” “bóc lột, sống dựa vào sức của “nông phu chức phụ” (dân lao động).
Ông đòi hỏi ngƣời cầm quyền “làm điều lợi, bỏ điều hại” cho dân, phải chọn
ngƣời hiền tài để làm và làm việc hình chính thực sự. Ông phản đối việc dùng
ngƣời dựa vào họ hàng, dựa vào đẳng cấp. Mặc Tử tôn thờ Trời, nhấn mạnh
“thiên chí”, nhƣng chống lại thuyết “thiên mệnh”. Ông nhấn mạnh dân đều là
con Trời để đòi hỏi một thứ bình đẳng xã hội, một cách tuyển chọn hiền tài và
một đời sống dựa vào lực của từng ngƣời. Đó là tƣ tƣởng phản kháng truyền
thống của bình dân, của những ngƣời nông phu, chức phụ.
Có thể nói, “kiêm ái” là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cả cuộc đời và tƣ tƣởng của
Mặc Tử. Chủ thuyết “kiêm ái” đã mang trong mình những giá trị nhân bản sâu
sắc, mang hoài vọng của đông đảo nhân dân tầng lớp dƣới của xã hội Trung Quốc
lúc bấy giờ. “Kiêm ái” đã lấy tình yêu thƣơng để thức tỉnh lƣơng tri, xoa dịu lòng
ngƣời, phản đối bạo lực phi nghĩa, tranh đoạt nhau tàn khốc… Kiêm ái – tình yêu
thƣơng giữa con ngƣời, đồng loại với nhau là một chân lý trƣờng tồn trong xã hội.
Tình yêu thƣơng con ngƣời chính là gốc rễ của đức và đức lấy đó làm kế sách lâu
dài để cảm biến lòng ngƣời, thâu phục nhân tâm, hóa giải hận thù tranh đoạt nhau.
Đó chính là ý nghĩa nhân bản và tiến bộ của thuyết “kiêm ái”.
chúng ta bắt gặp không ít vấn đề của xã hội hiện tại, những giá trị mới trong
những nội dung tƣởng nhƣ đã cũ.
Pháp gia chủ trƣơng xây dựng một chính quyền thống nhất và tập trung
nhƣng không coi nguồn gốc của nhà nƣớc là ở mệnh Trời. Ngƣời làm vua dùng
sức mạnh mà giành lấy nƣớc, lấy dân. Nƣớc và dân là của vua, vua có toàn
quyền sử dụng theo ý mình. Mọi việc chính sự là do vua và vì vua. Dân là những
con ngƣời có tính “tự vị” (ích kỷ, vì mình), ham sống, ham giàu, ham sang, thích
thƣởng, sợ phạt. Thẳng thắn nhìn vào con ngƣời với tƣ cách một sinh vật mang
bản chất hám lợi và ích kỷ, Hàn Phi chấp nhận sự tồn tại một cách tự nhiên và
phổ biến của dạng ngƣời này nhƣ một sản phẩm tất yếu của quá trình phát triển.
Theo ông, đã có thời kỳ lịch sử con ngƣời không đặt cái lợi ích lên hàng đầu, đó
là thời thƣợng cổ. Lúc đó, “đàn ông không cày vì các sản phẩm của cây, cỏ đủ
để ăn; đàn bà không dệt vì da của chim muông đủ để mặc: Không phải vất vả mà
việc nuôi dƣỡng có đủ, số ngƣời thì ít mà tài sản thì có thừa. Vì vậy cho nên 13
nhân dân không phải tranh giành. Bởi vậy không cần phải thƣởng hậu, không
phải dùng hình phạt nặng mà nhân dân tự nhiên trị an” [38, tr.540]. Về sau, con
ngƣời đông lên còn của cải ít đi, nên mặc dù họ đã cố gắng, vất vả làm việc
nhƣng vẫn không đủ sống. Lúc này, xã hội bắt đầu nảy sinh sự tranh giành của
cải, cƣớp bóc lẫn nhau, và xã hội vì thế mà loạn. Ông đã đánh giá xã hội đƣơng
thời và phê phán chế độ quân chủ một cách sắc bén và thẳng thắn. Trong hệ
thống triết học - chính trị của Hàn Phi, mỗi con ngƣời với tƣ cách cá nhân đều bị
“lột trần” cái vỏ bọc bề ngoài để hiện ra với nguyên nghĩa cá thể cần những giá
trị căn bản bên trong nhƣ nhau để tồn tại. Theo Hàn Phi, bản chất hám lợi và sợ
hãi ấy của con ngƣời là cái không thể che giấu, sửa đổi, nhƣng nếu biết sử dụng
nó sao cho hợp lý trong các mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời thì nó sẽ đem lại
hiệu quả nhất định.
Đối với Hàn Phi, các đời Nghiêu, Thuấn, Thang, Vũ đều làm trái cái
nhân loại nói chung với một học thuyết dám nhìn thẳng vào sự thật và khẳng
định những giá trị lợi ích căn bản là động cơ cho mọi hành động của con ngƣời,
bóc trần mọi quan hệ giả tạo giữa ngƣời với ngƣời, phê phán chế độ quân chủ từ
bên trong. Tuy nhiên, cũng có thể thấy rằng, quan điểm của Hàn Phi về con
ngƣời còn nhiều hạn chế, nhất là việc ông chỉ thấy khía cạnh vụ lợi của con
ngƣời mà không thấy con ngƣời còn có rất nhiều lý tƣởng cao đẹp để phấn đấu
và hy sinh. Đồng thời, ở một khía cạnh nhất định, mục tiêu xây dựng lý luận của
ông là nhằm tạo ra một công cụ phục vụ cho nhà vua củng cố địa vị và quyền
lực độc tôn của mình. Cho nên, con ngƣời (ngƣời dân) trong học thuyết của ông
luôn ở địa vị thấp hèn và bị phụ thuộc. Sự bình đẳng của con ngƣời trƣớc pháp
luật là sự bình đẳng về thân phận ngƣời nô lệ dƣới ngai vàng của nhà vua.
1.2. Quan niệm về dân của Nho gia tiên Tần
1.2.1. Thái độ khác nhau về dân trong Nho gia tiên Tần
Trong Nho gia Tiên Tần luôn song song tồn tại hai thái độ đối lập về dân,
vừa khinh dân, ức dân, lại vừa thân dân, coi dân là đối tƣợng cần đƣợc quan tâm,
dạy dỗ. Điều đó xuất phát từ nhận thức của họ về địa vị thấp kém và vai trò quan
trọng của dân trong xã hội.
* Tƣ tƣởng “khinh dân”, “ức dân” 15
Trong các cuốn sách đƣợc xem là kinh điển chủ yếu của Nho giáo tiên
Tần nhƣ sách Luận ngữ, sách Mạnh Tử, sách Tuân Tử, thì dân đƣợc đặt trong
mối quan hệ đối lập với tầng lớp khác – tầng lớp trị dân (vua và quan). Cơ sở và
căn cứ chủ yếu để các nhà Nho tiên Tần phân biệt và chỉ ra sự khác nhau giữa
hai tầng lớp này là do sự khác nhau chủ yếu về đạo đức và tài trí, về địa vị và về
vai trò xã hội của các tầng lớp này. Chính quan hệ đối lập này khiến các nhà
Nho tiên Tần còn có một số quan điểm hạn chế về dân. Đó là các nhà Nho còn
có tƣ tƣởng “khinh dân”, “ức dân”, coi những ngƣời lao động chân tay chiếm số
đông trong dân cƣ là hạng tiểu nhân, hèn kém, ngu dốt, chỉ để sai khiến.
tầng lớp thống trị. Theo Mạnh Tử, dân gồm ba hạng ngƣời: công, nông, và
thƣơng, có trách nhiệm và nghĩa vụ nuôi dƣỡng ngƣời và chăm sóc kẻ “lao tâm”
và phục vụ ngƣời cai trị. Kẻ “lao lực” trong quan niệm của Mạnh Tử cũng tƣơng
tự nhƣ quan niệm của Khổng Tử, thực chất là những ngƣời thiếu đạo đức và trí
tuệ, thuộc tứ dân bách tính tầm thƣờng, trong đó chủ yếu là ngƣời nông dân
trong xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ. Theo sự lý giải của Mạnh Tử thì, trong xã
hội bao giờ cũng “có ngƣời làm việc bằng tâm trí; có kẻ làm việc bằng tay chân.
Ngƣời làm việc bằng tâm trí thì cai trị dân chúng; kẻ làm việc chân tay thì chịu
quyền điều khiển, sai khiến. Kẻ chịu quyền điều khiển có phận sự cung cấp cho
tầng lớp cai trị dân chúng đƣợc dân chúng phụng dƣỡng. Đó là lẽ thông thƣờng
trong thiên hạ vậy” [70, tr.167]. Quan hệ giữa “lao tâm” và “lao lực” ở đây
không chỉ là quan hệ tƣơng tác giữa hai hình thức lao động trong xã hội, mà chủ
yếu là quan hệ giữa tầng lớp thống trị và bị trị và Mạnh Tử xem quan hệ đó là
đƣơng nhiên. Do hạn chế của lịch sử và lập trƣờng giai cấp, cho nên Mạnh Tử
chƣa nhận thức đƣợc nguyên nhân kinh tế sâu xa đã tạo nên sự đối lập giữa “lao
lực” và “lao tâm”, mà ông chỉ dừng lại ở cách nhìn trực quan để rồi xem “đó là
lẽ thông thƣờng trong thiên hạ vậy”. Sự phân biệt, đối lập giữa “lao tâm” và “lao
lực” thể hiện rõ ràng tƣ tƣởng xem thƣờng ngƣời “lao lực”, ngƣời lao động chân
tay của Mạnh Tử nói riêng và Nho gia tiên Tần nói chung.
Ngoài ra, dân – ngƣời bị sai khiến có lúc đƣợc Khổng Tử, Mạnh Tử gọi là
kẻ “thứ dân”, “hạ dân”, “dã dân”. Đây là những ngƣời dân thƣờng, những ngƣời
lao động bình thƣờng trong xã hội. Cách gọi này ít nhiều có sự phân biệt đẳng 17
cấp trong tƣ tƣởng của Khổng Tử, Mạnh Tử nhƣng cũng phần nào phản ánh
đúng địa vị của ngƣời dân trong thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc.
Cũng trong sách của Mạnh Tử, Mạnh Tử còn gọi ngƣời bị sai khiến , bị
điều khiển là kẻ “lê dân” (dân đen), “xích tử” (con đỏ). Cách gọi dân theo ý
nghĩa này, ít nhiều thể hiện sự thƣơng cảm và chứa đựng yếu tố nhân đạo của
1.2.2. Nhận thức của Nho gia tiên Tần về vai trò của dân
Vai trò của dân trong quan hệ với nƣớc, với vua, đã đƣợc một số Nho gia
tiên Tần nhận thức và nêu cao trong tƣ tƣởng chính trị phƣơng Đông cách đây
hơn 2500 năm với những nội dung chủ yếu sau:
– Thứ nhất: Dân là một lực lƣợng đông đảo, to lớn trong xã hội, là lực
lƣợng tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại của xã hội.
Dân là một lực lƣợng to lớn trong xã hội. Họ là những ngƣời mà Mạnh Tử
gọi là “lao lực”, tức là ngƣời làm việc mệt nhọc bằng sức lực chân tay để tạo ra
của cải vật chất cho chính họ, gia đình họ và cả tầng lớp “lao tâm” cai trị ngƣời.
Theo đó, dân bao gồm ba hạng ngƣời” công, nông, thƣơng có trách nhiệm và
nghĩa vụ “nuôi dƣỡng ngƣời”, chăm sóc kẻ “lao tâm”, phục vụ “ ngƣời cai trị”.
Nhƣ Mạnh Tử đã nói: “Vì thế ngƣời xƣa mới nói rằng có ngƣời lao tâm, có kẻ
lao lực. Ngƣời lao tâm cai trị ngƣời, kẻ lao lực bị ngƣời cai trị. Kẻ bị cai trị phải
nuôi ngƣời, ngƣời cai trị đƣợc ngƣời nuôi dƣỡng. Đó là lẽ thông thƣờng trong
thiên hạ vậy” [70, tr.167].
Nhận thức đƣợc vai trò to lớn của nhân dân, các nhà Nho tiên Tần luôn
khuyên nhà vua, ngƣời cầm quyền phải quan tâm đến đời sống vật chất, đến nhu
cầu tối thiểu, thiết thực, trực tiếp của ngƣời dân. Chẳng hạn, các nhà Nho yêu
cầu nhà vua phải dạy dân, khuyến khích dân cày cấy, trồng dâu, dệt vải; với
Khổng Tử, nhà vua phải giúp dân làm giàu; còn Mạnh Tử nói rõ: “Bởi vậy cho
nên đấng minh quân chế định điền sản mà chia cho dân cày cấy, cốt khiến cho
họ trên đủ phụng dƣỡng cha mẹ, dƣới đủ nuôi nấng vợ con, nhằm năm trúng
mùa thì mãi mãi no đủ, phải năm thất gặt thì khỏi nạn chết đói. Đƣợc vậy rồi,
nhà vua mới khiến dân làm thiện. Tự nhiên họ sẽ theo điều thiện một cách dễ
dàng” [70, tr.37]. 19
Không chỉ nhận thức đƣợc rằng dân là lực lƣợng có vai trò quyết định đến
sự tồn tại của xã hội, các nhà Nho tiên Tần còn thấy đƣợc sự tồn tại của dân còn
vì vậy mà, các nhà Nho tiên Tần đều khuyên nhà vua hãy coi dân quý trọng hơn
xã tắc và nhà vua. Mạnh Tử khẳng định vị trí hàng đầu của dân trong mối quan
hệ với xã tắc và vua: “Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, nghĩa là: “Dân
là quí hơn hết, xã tắc là thứ hai, vua là thƣờng” – Dân là đáng quý trọng hơn tất
cả, sau đó mới đến xã tắc và cuối cùng mới là vua. (Mạnh Tử, Tận tâm, chƣơng
hạ, 4) [53, tr.580]. Ông đòi hỏi các thế lực cầm quyền phải dành tâm, dành lực
cho dân. Ông thƣờng nói với các bậc vua chúa thời bấy giờ: Ƣa sắc đẹp, không
hại; ƣa của cải, không hại; ƣa điền thổ không hại; ƣa săn bắn, không hại nhƣng
trong lúc ƣa sắc đẹp phải nhớ trong nƣớc đang còn cảnh vợ chồng phân ly, trong
lúc ƣa của cải phải nhớ trong nƣớc đang có cảnh lầm than đói khát, trong lúc
xua quân đi săn bắn giải trí phải nhớ trong nƣớc đang có cảnh anh em, vợ chồng,
cha con đau khổ. Nếu ngƣời biết vui với cái vui của dân thì dân cũng biết vui cái
vui của mình, nếu ngƣời biết lo cái lo của dân thì dân cũng biết lo cái lo của
mình. Vì thiên hạ mà vui, vì thiên hạ mà lo, những ngƣời nhƣ thế mà không làm
đế vƣơng thì xƣa nay chƣa từng có (Mạnh Tử: Lƣơng Huệ vƣơng, chƣơng hạ, 4)
[53, tr.383].
Cũng từ quan niệm này mà các nhà Nho tiên Tần đều cho rằng sự tồn
vong của một triều đại, sự thịnh suy của một chế độ phụ thuộc vào việc nhà vua
có giữ đƣợc dân, vào việc dân có tin, có nghe và làm theo hay không. Theo đó,
nếu dân tin, dân theo, dân ủng hộ thì nhà vua, triều đại, chế độ sẽ đứng vững và
phát triển. Còn ngƣợc lại, nếu dân không tin, không theo, bỏ đi nơi khác hoặc
nổi loạn thì triều đại tất sẽ đổ nát, sự nghiệp chính trị của nhà vua sẽ sụp đổ [63,
tr.425]. Khổng Tử khẳng định, dân mà không tin thì nƣớc không đứng đƣợc.
Ông coi điều kiện quan trọng nhất của nƣớc là phải đƣợc lòng dân.
Sách Luận ngữ có chép “Tử Cống hỏi về cách cai trị. Đức Khổng đáp
rằng: Nhà cầm quyền cần phải có ba điều kiện này: lƣơng thực cho đủ nuôi dân,
binh lực cho đủ bảo vệ dân, lòng tin cậy của dân đối với mình. Tử Cống hỏi tiếp:
Trong ba điều kiện ấy, bất đắc dĩ phải bỏ bớt thì bỏ ra điều nào trƣớc? Đáp: Bỏ 22
biện chứng. “Thuyền” chỉ đƣợc hiểu theo đúng nghĩa của nó khi đặt trong mối
quan hệ với nƣớc, cũng nhƣ vua đƣợc gọi là vua là ngƣời cai trị đất nƣớc.
Nhƣng phải có “dân” mới thiết lập đƣợc ra ngôi vua, mới duy trì đƣợc sự bền
vững của ngôi vua. Vì vậy, theo ông, nếu một vị vua mà không giữ đƣợc dân,
không đƣợc lòng dân chúng thì xã tắc cũng không yên bình đƣợc.
Tóm lại, chính nhận thức và chỉ ra vai trò của dân to lớn nhƣ vậy mà các
nhà Nho tiên Tần đều đã chủ trƣơng và đòi hỏi nhà vua phải giữ đƣợc dân, phải
đƣợc dân tin. Và theo nhà Nho, có nhƣ vậy, nhà vua mới giữ đƣợc thiên hạ và
giữ đƣợc ngôi vị của mình, triều đại và chế độ chính trị mới tồn tại và phát triển.
1.2.3. Những nội dung “thân dân” của Nho gia tiên Tần
Nhận thức đƣợc vai trò to lớn của dân chúng đối với sự tồn vong của một
triều đại, trong học thuyết chính trị – xã hội của Nho gia tiên Tần, điều quan
trọng nhất và có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh chính trị của nhà vua, của
chế độ chính trị là phải giữ đƣợc dân. Nhƣng để thực hiện đƣợc mục đích ấy, thì
nhà vua, ngƣời cầm quyền phải đƣợc lòng dân, đƣợc dân tin, hay chính là gần
gũi với dân, nắm đƣợc lòng dân. Đƣợc lòng dân, đƣợc dân tin, đến lƣợt nó, lại
trở thành cơ sở, là căn cứ để các nhà Nho đƣa ra những đề xuất về thái độ, trách
nhiệm và nghĩa vụ của nhà vua, ngƣời cầm quyền đối với dân. Theo các nhà
Nho tiên Tần, thân dân đƣợc thể hiện bằng “Dƣỡng dân” và “Giáo dân”.
– “Dƣỡng dân” chính là nuôi dân, là khái niệm các nhà Nho chỉ rõ trách
nhiệm của nhà vua, ngƣời cầm quyền đối với dân là phải chăm sóc dân, nuôi
dƣỡng dân, bảo vệ dân, coi dân nhƣ con.
Nhiệm vụ cơ bản, chủ yếu nhất trong chính sách dƣỡng dân, theo các nhà
Nho là nhà vua và ngƣời cầm quyền phải luôn quan tâm, luôn chăm lo đến đời
sống vật chất tối thiểu nhƣng thiết thân của dân để dân không bị chết đói, chết
rét, đủ điều kiện để nhƣ Mạnh Tử nói: “trên đủ phụng dƣỡng cha mẹ, dƣới đủ
nuôi vợ con”[19, tr.758]. Muốn đƣợc nhƣ vậy, nhiệm vụ của nhà vua là phải