ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
----------***----------
NGUYỄN THÀNH KHÁNH
TRUYỆN TRINH THÁM VIỆT NAM
NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX - TỪ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HUẾ - NĂM 2016
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
----------***----------
NGUYỄN THÀNH KHÁNH
TRUYỆN TRINH THÁM VIỆT NAM
NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX - TỪ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số: 62 22 01 21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học
MỤC LỤC
6
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến sâu sắc. Với sự gặp gỡ văn
minh Phương Tây, sự tiếp thu mạnh mẽ và rộng rãi những tinh hoa văn hoá thế giới, văn
học Việt Nam đã bứt ra khỏi hệ hình văn học trung đại, để tiến hành công cuộc hiện đại
hoá. Văn học nước ta đã thay đổi nhanh chóng, với những thành tựu rực rỡ. Đây cũng là
lúc thể loại văn học trinh thám được hình thành và phát triển.
So với các thể loại khác, truyện trinh thám xuất hiện khá muộn, tuy vậy nó lại có
những bước tiến rất nhanh. Chỉ trong một thời gian ngắn, nó đã có một diện mạo khá
hoàn chỉnh, với sự góp công của nhiều cây bút tên tuổi và số lượng tác phẩm lên đến
hàng trăm cuốn. Thể loại này đã thu hút được rất đông độc giả thuộc đủ mọi thành phần
khác nhau trong xã hội. Thông qua việc tiếp thu một thể loại của phương Tây, kết hợp
với truyện vụ án phương Đông và các thể loại văn học truyền thống, nó đã trở thành một
sản phẩm tinh thần có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với cộng đồng. Mức độ ảnh hưởng đến
người đọc của truyện trinh thám trên thực tế là rất lớn. Đây là thể loại thường tạo nên
những con số đáng kinh ngạc về lượng sách phát hành.
Truyện trinh thám đã khẳng định được vị thế của mình trong đời sống văn học dân
tộc. Tuy vậy, thể loại này lại không được giới chuyên môn đề cao. Vì nhiều lý do, trong
đó có nguyên nhân thuộc về quan niệm, nhận thức, ngay từ khi mới ra đời, thể loại văn
học trinh thám đã bị coi là không có giá trị gì đáng kể, ngoài việc giải trí. Phần lớn các
nhà nghiên cứu, thậm chí ngay cả các nhà văn viết truyện trinh thám cũng đều xem thể
loại này là một thứ văn chương “hạng hai”, xoàng xĩnh. Truyện trinh thám bị đánh giá là
thua kém các thể loại khác về giá trị thẩm mỹ, giá trị tư tưởng.
Như vậy là đã có một sự vênh lệch rất lớn trong quan niệm của giới nghiên cứu,
phê bình và công chúng thưởng thức về cùng một hiện tượng văn học. Đây là một
trinh thám Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ XX trên các vấn đề: lịch sử hình thành
và phát triển, quy luật vận động; các phương diện nội dung và nghệ thuật của thể loại...
Trên cơ sở mục tiêu đã xác định như trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm
vụ cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện tiến trình lịch sử của thể loại truyện
trinh thám Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX .
- Tìm hiểu những điểm đặc trưng thể loại của truyện trinh thám Việt Nam giai đoạn
đầu thế kỷ XX, thông qua việc phân tích, đánh giá các yếu tố cụ thể như thế giới hình
8
tượng (hình tượng nhân vật, không gian, thời gian), tổ chức tác phẩm (cốt truyện, kết
cấu), phương thức trần thuật (ngôn ngữ, giọng điệu…).
- Xác định vai trò, giá trị của thể loại truyện trinh thám đồng thời khái quát quy luật
vận động của nó trong tiến trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
Nghiên cứu truyện trinh thám Việt Nam là một việc làm cần nhiều công sức, bởi
hiện tại trong giới khoa học vẫn còn nhiều quan niệm khác nhau về những vấn đề rất cơ
bản liên quan đến thể loại trinh thám (Định nghĩa thế nào là truyện trinh thám? Truyện
trinh thám ở Việt Nam xuất hiện lúc nào? Tác giả trinh thám đầu tiên là ai? Truyện trinh
thám có phải là thể loại văn học hay không?…). Chính vì thế, bên cạnh nhiệm vụ chính,
chúng tôi còn phải giải quyết những vấn đề liên quan khác, có tính chất lý thuyết, lý luận
về thể loại này. Chúng tôi coi đó cũng là những nhiệm vụ cần thiết được giải quyết trong
luận án.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tác phẩm văn xuôi thuộc thể loại trinh thám
xuất hiện trong khoảng thời gian nửa đầu thế kỷ XX. Tác phẩm đó cần đảm bảo các yêu
cầu cụ thể: về cốt truyện, phải có đủ hai yếu tố cơ bản nổi bật là các sự kiện làm nên một
vụ án và người điều tra (bao gồm nhân vật thám tử/ một người có nghĩa khí anh hùng/
một vị quan thanh liêm/ một thanh niên trí thức tiến bộ …). Về kết cấu, tác phẩm được tổ
án chúng tôi không nghiên cứu các truyện trinh thám dịch, truyện trinh thám viết bằng
chữ quốc ngữ phát hành ở nước ngoài.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau đây:
4.1. Phương pháp nghiên cứu loại hình
Truyện trinh thám Việt Nam là một hiện tượng rất đặc biệt của văn học nước nhà.
So với truyện trinh thám Phương Tây, nó có nhiều điểm đặc thù, khác biệt cả về nội
dung và hình thức nghệ thuật, lẫn vai trò, vị trí… trong đời sống. Để nhận thức về đối
tượng này, trong luận án chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu loại hình. Phương
pháp này được vận dụng để nhận diện, phân loại đối tượng một cách hiệu quả.
4.2. Phương pháp cấu trúc - hệ thống
Phương pháp cấu trúc – hệ thống giúp chúng tôi có thể tiếp cận đối tượng một cách
hợp lý, thuận lợi. Tác phẩm truyện trinh thám được đặt trong các mối quan hệ thuộc
nhiều cấp độ, mô thức tổ chức, hệ thống khác nhau…Từ đó có thể xác định được vai trò,
vị trí, đặc trưng… của thể loại truyện trinh thám Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
10
4.3. Phương pháp lịch sử
Truyện trinh thám là một thể loại văn học được hình thành và phát triển trong một
giai đoạn đặc biệt của lịch sử Việt Nam. Đây cũng là một sản phẩm văn hóa – văn học
mang tính lịch sử sâu sắc. Chính vì vậy, việc vận dụng phương pháp lịch sử là điều cần
thiết. Với việc vận dụng phương pháp này, chúng tôi có điều kiện để khảo sát một cách
cụ thể sự chi phối, ảnh hưởng của hoàn cảnh kinh tế chính trị văn hóa xã hội đối với đời
sống văn học nói chung, thể loại truyện trinh thám nói riêng.
4.4. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh được sử dụng trong luận án nhằm làm nổi bật điểm tương
đồng, dị biệt giữa truyện trinh thám Việt Nam trong tương quan với truyện trinh thám
của các nền văn học khác (đặc biệt là văn học Phương Tây); nét đặc thù của truyện trinh
thám so với các thể loại khác (cùng thuộc phương thức tự sự); điểm riêng biệt độc đáo
những đóng góp mới của luận án.
2/. NỘI DUNG: Gồm 4 chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án. Trong
chương này, chúng tôi tiến hành khảo sát các công trình nghiên cứu có nội dung liên
quan đến đề tài luận án. Trên cơ sở mô tả, phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu của
giới chuyên môn về thể loại truyện trinh thám ở Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX,
chúng tôi đi vào xác định những vấn đề trọng tâm luận án tập trung giải quyết.
Chương 2. Diện mạo truyện trinh thám Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Nội dung chủ
yếu của chương này là phác thảo diện mạo truyện trinh thám trên cơ sở tìm hiểu khái
niệm, đặc điểm loại hình để xác định quy luật vận động của truyện trinh thám Việt Nam
trong tiến trình văn xuôi Việt Nam hiện đại.
Chương 3. Đặc điểm hình tượng nghệ thuật trong truyện trinh thám Việt Nam nửa
đầu thế kỷ XX. Trong chương này chúng tôi tiến hành nghiên cứu thế giới hình tượng
(chủ yếu là hình tượng nhân vật, không gian và thời gian nghệ thuật), để qua đó chỉ rõ
những nét đặc trưng riêng của thể loại truyện trinh thám Việt Nam.
Chương 4. Đặc điểm cốt truyện, phương thức trần thuật trong truyện trinh thám
Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Chương này tập trung vào nhiệm vụ phân tích, làm rõ việc
tiếp thu, tiếp biến và sự vận dụng sáng tạo của nhà văn trinh thám Việt Nam trên hai
phương diện cơ bản nhất là cốt truyện và phương thức trần thuật trong tác phẩm.
3/. KẾT LUẬN
4/. TÀI LIỆU THAM KHẢO
5/. PHỤ LỤC
12
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
quá trình tìm tòi, thử nghiệm để sáng tác một thể loại hoàn toàn mới mẻ như vậy, các
nhà văn Việt Nam đã tạo ra một kiểu truyện trinh thám với những đặc điểm riêng. Đó
là những tác phẩm mà cốt truyện xoay quanh việc điều tra một vụ án (thường là cái
chết bí ẩn, một vụ mất cắp), có nhân vật thám tử (chuyên nghiệp hoặc không chuyên);
và trong suốt quá trình điều tra, cả tác giả và độc giả cùng khám phá bí mật cho đến
kết thúc câu chuyện, vụ án được làm sáng tỏ. Đây cũng là những những nguyên tắc
cơ bản của truyện trinh thám Phương Tây mà các nhà văn Việt Nam đã vận dụng.
Bên cạnh đó, họ còn biết kết hợp với kiểu truyện “kỳ án”, “công án” rất phổ biến
trong văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc. Sự kết hợp này đã tạo nên một thể
loại truyện trinh thám “hỗn hợp”, được pha trộn yếu tố vụ án – ái tình – hành động –
võ hiệp rất độc đáo.
Tuy nhiên, trên thực tế, hiện tượng này lại chưa được giới nghiên cứu tìm hiểu
một cách đầy đủ. Có thể nói cho đến giữa thế kỷ XX, ở Việt Nam vẫn chưa có một
công trình nghiên cứu quy mô nào về thể loại truyện trinh thám được công bố. Những
gì được gọi là nghiên cứu thực ra chỉ là những nhận xét, lời bàn sơ lược về một số
hiện tượng cụ thể; đó thường là các bài giới thiệu, phân tích về nội dung, nghệ thuật
trong tác phẩm của một số cây bút như Thế Lữ, Phạm Cao Củng… do chính các nhà
văn thực hiện.
Trong “Lời giới thiệu” Vàng và máu, Khái Hưng đã nhận xét về hiện tượng kết
hợp “bút pháp” phương Tây và phương Đông ở các truyện trinh thám kinh dị của Thế
Lữ. Nhà văn lý giải như sau: “Tác giả những truyện Vàng và máu và Một đêm trăng
đã tỏ ra có óc khoa học của Edgar Poe và tâm hồn thi sĩ của Bồ Tùng Linh, hai nhà
viết những truyện ghê gớm huyền hoặc, làm cho độc giả yếu bóng vía phải rùng mình
lúc đêm khuya” [51, tr.416]. Đưa ra đánh giá này, Khái Hưng dường như chỉ căn cứ
vào các truyện trinh thám kinh dị của Thế Lữ ở giai đoạn đầu (Vàng và máu, Một
đêm trăng xuất hiện vào năm 1934). Thực ra, khái quát như vậy về Thế Lữ là chưa
đầy đủ bởi ông còn có cả loạt truyện trinh thám suy luận (tập trung nhất là truyện về
nhân vật thám tử Lê Phong) xuất hiện từ năm 1937.
phẩm do Tân Dân Quán xuất bản không ghi tên tác giả như Con khỉ giết người, Xác chết
chạy đi đâu … hầu như rất ít hoặc không được các nhà nghiên cứu nhắc đến.
15
Ngoài các bài viết về tác giả cụ thể vừa kể trên, một số nhà nghiên cứu, nhà văn
cũng đề cập đến những vấn đề chung của thể loại trinh thám. Nhà văn Nguyễn Công
Hoan cũng có thái độ không mấy thiện cảm về truyện trinh thám. Tác giả giễu cợt nhân
vật “thám tử” trong truyện Cái lò gạch bí mật (với đề từ: Truyện trinh thám An Nam),
một kẻ có cái gì đó không bình thường: “Trinh độ này thích đọc truyện trinh thám Tây,
và cả ngày, lúc nào anh cũng có vẻ bí mật, hay nhận xét từng cái cử chỉ cỏn con của
người khác, và hay suy xét tâm lý người ta bằng những câu vụn vặt mà anh nghe lóm
được. Anh muốn làm nhà trinh thám thứ nhất của nước Việt Nam” [155, tr.3]. Kết thúc
truyện, tang vật mà nhà thám tử tìm thấy sau nhiều ngày theo dõi kẻ tình nghi: “Tang vật
đó to bằng vành khăn đàn bà, cuộn khoanh lù lù trên mặt đất thành một bãi, đầu hình búp
măng, màu vàng, mà ở đuôi là có hơi ngắn, thôi thối … [155, tr.3].
Nhìn chung, hầu hết những công trình nghiên cứu về truyện trinh thám trong giai
đoạn nửa đầu thế kỷ XX chỉ tập trung vào hai tác giả ở miền Bắc, nhưng chủ yếu tập
trung vào nhóm truyện kinh dị. Mặc dù có biểu dương sự sáng tạo của nhà văn Việt Nam
trong việc tiếp thu thể loại văn học phương Tây, nhưng lại không thực sự coi trọng giá trị
của thể loại truyện trinh thám ở Việt Nam.
1.1.2. Giai đoạn từ 1945 đến 1975
Lịch sử Việt Nam, kể từ 1945 đến 1975 vận động theo một tiến trình rất đặc biệt.
Năm 1945, cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời,
đánh dấu một giai đoạn lịch sử: chấm dứt sự hiện hữu của chế độ thực dân – phong kiến.
Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, lịch sử dân tộc lại bước vào một hoàn cảnh mới: từ
1945 đến 1954, nổ ra cuộc kháng chiến chống Pháp; từ 1954, đất nước chia đôi thành
Miền Nam và Miền Bắc. Từ đây, mỗi miền là một thể chế chính trị, có nền kinh tế, đời
sống văn hóa riêng; và tương ứng với đó là một nền văn học phát triển theo những
đường hướng, đặc điểm riêng. Tình trạng này kéo dài đến 1975, khi đất nước được thống
người hiếm quá... Cao quá cả ở cách viết săn sóc chải chuốt, cách lập luận khoa học tỷ
mỷ, vì vậy không phổ biến trong độc giả trung bình.... Các tác phẩm trinh thám của ông
có nhiều tình tiết phi lý, không gian và thời gian truyện ngắn và hẹp một cách khiên
cưỡng [77, tr.214]. Phạm Thế Ngũ cho rằng “thể loại tiểu thuyết này ngay bản chất của
nó, không có lợi thú văn học lắm.” [77, tr.214].
Tác giả Lê Huy Oanh đã đi sâu tìm hiểu nghệ thuật xây dựng cốt truyện và
nghệ thuật kể chuyện trong truyện trinh thám kinh dị của Thế Lữ và kết luận:
“Vàng và máu là một kỳ công nghệ thuật đáng được khâm phục. Ở đó, bao nhiêu li
kì rùng rợn được dàn dựng công phu, hấp dẫn” [86, tr.55].
17
Bên cạnh các tác giả truyện trinh thám gốc miền Bắc như Thế Lữ, Phạm Cao Củng,
một tác giả miền Nam là Phú Đức cũng được nhắc đến. Một số cây bút như Thượng Sỹ,
Vũ Bằng, Ngọa Long… đã đề cập đến nhiều vấn đề trong sáng tác của nhà văn Phú Đức
và khẳng định “chỉ với cái tên tác giả Phú Đức là đủ đảm bảo, đủ lôi kéo bạn đọc rồi;
nhưng phải nhìn nhận là trong tất cả tiểu thuyết của Phú Đức thì chỉ có bộ Châu về hiệp
phố là hay hơn hết” [102, tr.25].
Nhìn chung, so với trước, giai đoạn 1945 – 1975, truyện trinh thám không phát
triển và có thể nói là lịch sử thể loại đã bị đứt đoạn. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình
trạng tác phẩm trinh thám không còn giữ được sức cuốn hút mạnh mẽ như trước; bản
thân các nhà văn cũng không dành nhiều tâm sức để sáng tác. Ngay cả những người vốn
sở trường trong địa hạt truyện trinh thám cũng không còn duy trì mạch thể loại: Thế Lữ
chuyển sang viết kịch, Bùi Huy Phồn làm thơ và viết tiểu thuyết, Phạm Cao Củng và các
nhà văn Nam Bộ không có nhiều sáng tác mới… Đương nhiên, tình hình nghiên cứu
truyện trinh thám cũng không thể khởi sắc được.
1.1.3. Giai đoạn từ 1975 đến nay
Sau năm 1975, đất nước hòa bình thống nhất, lịch sử chuyển sang một giai đoạn
mới. Tuy vậy, đời sống văn học vẫn chưa có những biến chuyển mang tính đột phá. Văn
học vẫn tiếp tục mạch vận động như cũ, từ cảm hứng chủ đạo cho đến phương pháp sáng
dịch điên loạn về các loại truyện phong thần, kiếm hiệp, dao bay, trinh thám ...
tung ra từ bốn phương tám hướng để ngu dân, đầu độc đông đảo thanh niên hồi
bấy giờ, thứ bịnh dịch cũng không kém phần nguy hiểm như các thứ truyện
trinh thám rẻ tiền, truyện về những vụ án hình sự đương ăn dỗ tiền và mê hoặc
con em chúng ta ngày nay” [ 93, tr. 6].
Từ năm 1986 trở đi, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Đây
cũng là lúc các nhà nghiên cứu bắt đầu có sự thay đổi trong cách nhìn nhận, đánh giá về
các hiện tượng văn học. Thể loại truyện trinh thám do vậy cũng được nghiên cứu một
cách thận trọng, với một thái độ khách quan, khoa học hơn. Ít thấy những lời phê phán
gay gắt dành cho thể loại văn học này như trước đây; thậm chí có những tác giả đặt lại
vấn đề, xác định lại vai trò, vị trí của truyện trinh thám trong đời sống văn học. Trong bối
cảnh đó, xuất hiện rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến
thể loại truyện trinh thám Việt Nam.
Nhà thơ Tế Hanh trong bài “Thương tiếc nhà thơ Thế Lữ”, cho rằng: “Thế Lữ thích
viết những truyện li kì nhưng cấu trúc lúc nào cũng rõ ràng, khoa học như Vàng và máu,
Bên đường thiên lôi (...). Ở anh, cái chất mở đường đi tiên phong thật rõ ràng trong thơ,
trong truyện, trong báo chí, sân khấu” [45, tr.382 - 383].
19
Phan Trọng Thưởng với bài viết “Thế Lữ nghệ sĩ hai lần tiên phong”, nhận xét:
Chỉ sau khi tập Mấy vần thơ ra đời được ít lâu, Thế Lữ dần chuyển sang lĩnh
vực văn xuôi với hai sở trường là tiểu thuyết ly kỳ rùng rợn và tiểu thuyết trinh
thám như Vàng và máu (Đời nay-1937), Bên đường thiên lôi (1936); Mai
Hương và Lê Phong (1937). Với Vàng và máu (tiểu thuyết kinh dị), ông có thể
được coi là tác giả đạt đỉnh cao nghệ thuật của loại truyện này. Điều đáng chú ý
là sự thay đổi thể loại ở Thế Lữ đồng thời cũng kéo theo cả thế giới nghệ thuật
trong sáng tác của ông. Nếu như ở thơ Mới ông thích cõi tiên, ở truyện trinh
thám ông thích cõi đời thì ở truyện li kỳ, rùng rợn, ông thích cõi âm [112, tr.13].
Nhà nghiên cứu đã không quên đề cao đóng góp quý báu của Thế Lữ trong việc mở ra
Lữ: “Loại sáng tác này cho ta thấy một Thế Lữ có tài quan sát, có óc quan sát sắc
bén, có trí tưởng tượng dồi dào, cho nên dù ít đề cập đến vấn đề gì quan trọng về xã
hội và nhân sinh nó vẫn được đón nhận và được tìm đọc một cách lý thú. Cho đến
nay, trong lịch sử văn học Việt Nam, không thấy có tên tuổi nào đáng được xếp cạnh
Thế Lữ trong loại sáng tác khá độc đáo này” [57, tr.55-56].
Trong số các công trình, bài viết về truyện trinh thám và truyện đường rừng của
Thế Lữ, lời nhận xét, bình phẩm của Văn Giá trong “Lời tựa” (tái bản) là một cách
nhìn khá mới mẻ về truyện trinh thám:
Ở cả hai loại trên, Thế Lữ đều có những đóng góp xuất sắc, chúng ta nhận ra
một thời đại dân chủ trong văn học, chỉ có dân chủ trong sáng tạo, trong cảm
quan của tác giả, trong sự ganh đua, thể nghiệm bạo dạn và tự tin của nhà
nghệ sĩ, chúng ta mới thấy sự bùng nổ của nhiều thể loại văn học đến thế, và
cũng chỉ có dân chủ, nên ở mỗi thể loại mới có những đỉnh cao đẹp đẽ và kỳ
thú đến thế [39, tr.13].
Từ đó, tác giả đưa ra kết luận, cái tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm là do tài năng của
người nghệ sĩ kết hợp với tinh thần dân chủ, tự do sáng tạo.
Về những sáng tác của Phạm Cao Củng, nhà nghiên cứu Phạm Tú Châu đã so
sánh kết cấu truyện của Phạm Cao Củng và Trình Tiểu Thanh ở Trung Quốc. Bà cho
rằng:
Có thể nói đây là sự gặp gỡ đầu tiên giữa Trình Tiểu Thanh và Phạm Cao
Củng – hai tiểu thuyết gia trinh thám không hề quen biết, không hề có thông
tin gì nhau – về kết cấu của truyện trinh thám. Tiếp đó hai ông cũng gặp gỡ
nhau ở chỗ xây dựng nhân vật chính là một thám tử có trình độ vận dụng lý
luận học và óc quan sát để phân tích sự việc, gỡ dần ra đầu mối chính [12, tr.
28].
Đồng thời, Thy Ngọc trong “Truy tìm truyện trinh thám Việt Nam” đánh giá cao
tinh thần Việt hóa cốt truyện của Phạm Cao Củng. Tác giả cho rằng: “Phạm Cao
21
cứu”, đã khái quát, giới thiệu về diện mạo của các tác giả, tác phẩm truyện trinh thám
22
ở miền Nam những năm đầu thế kỷ XX, và đã khẳng định: “Những phát hiện gần đây
cho thấy Biến Ngũ Nhy mới là nhà văn trinh thám đầu tiên và sớm nhất của Việt
Nam” [42, tr.3].
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân thừa nhận một thực tế rằng “Loại truyện
trinh thám hành động của Phú Đức, Nam Đình ở trong Nam đã kích thích các nhà văn
ngoài Bắc viết loại sách tương tự, vì nó ăn khách quá trời” [142]. Tác giả Nguyễn Thị
Thanh Xuân với bài viết “Phú Đức - Một mẫu hình nhà văn Nam Bộ đặc biệt đầu thế
kỷ XX”, đã phân tích khá chi tiết về cách đặt nhan đề, cách xây dựng nhân vật trong
truyện trinh thám của Phú Đức và kết luận “nhân vật trong truyện trinh thám của Phú
Đức còn hơi gượng” [125, tr.19-23]
Tác giả Lê Tiến Dũng, Hồ Khánh Vân trong bài “Bửu Đình - Nhà tiểu thuyết
Nam Bộ” cho rằng: “Màu sắc trinh thám trong tiểu thuyết Bửu Đình in đậm ở tình
huống truyện, còn ở tình tiết truyện thì màu sắc này không rõ nét như các tác phẩm
trinh thám. Bao giờ Bửu Đình cũng xây dựng tác phẩm dựa trên tình huống có tính vụ
án. Một vụ giết người, một vụ mất cắp…, tình huống truyện này thành cái khung bọc
quanh tác phẩm, và toàn bộ cốt truyện được triển khai theo tình huống ấy để hướng
đến mục đích cuối cùng là “phá án”. Thế nhưng, so với những tác phẩm trinh thám
khác thì tính trinh thám của Bửu Đình chỉ dừng lại ở mức độ khởi đầu… tình tiết
trong tiểu thuyết trinh thám của Bửu Đình không đạt đến độ chín muồi của nghệ thuật
tiểu thuyết trinh thám” [27, tr.4].
Nhận xét về sáng tác của Biến Ngũ Nhy, các tác giả Nguyễn Kim Anh, Hà
Thanh Vân, Nguyễn Thị Trúc Bạch cho rằng:
Tác phẩm Kim thời dị sử của Biến Ngũ Nhy được coi là cuốn tiểu thuyết
trinh thám đầu tiên của văn học Việt Nam hiện đại, nó mang dáng dấp của
một tiểu thuyết phương Tây hiện đại và giá trị của nó trong văn học sử đã
được ghi nhận và thành quả của Biến Ngũ Nhy, người đi tiên phong mở
thứ 6 do Công ty Nhã Nam tổ chức tại Sài Gòn từ ngày từ 15.03 đến 20.03.2010,
Nguyễn Minh Hoàng, đã khái quát: “Làm sao không nể, đọc và hồi hộp như quả bom
nổ chậm. Ai cho rằng truyện trinh thám chỉ cốt để giải trí nhưng tôi lại nghĩ khác,
chính nó là thước đo của một nền văn học” [148]. Tác giả Cao Việt Dũng lý giải: Nếu
coi những cuốn truyện hình sự vẫn được bán hoặc cho thuê đầy rẫy trên thị trường
hiện nay là truyện trinh thám thì bạn đã hạ thấp thể loại này, những người hâm mộ
chân chính của văn học trinh thám đích thực sẽ dễ dàng kể ra nền tảng trinh thám của
vô số tác phẩm lớn, cả văn học lẫn điện ảnh.
24
Nhà nghiên cứu kiêm dịch giả Nguyễn Tiến Văn thì đưa ra nhận định: Văn học
trinh thám đã từng có một lịch sử phát triển khá lâu và lớn mạnh tại Việt Nam, có thể kể,
đó là từ dòng trinh thám của Trung Quốc thông qua những câu chuyện dạng Bao Công,
đến dòng trinh thám châu Âu tràn vào Việt Nam những năm trước 1945. Các tác phẩm
trinh thám đáp ứng được nhiều yêu cầu của bạn đọc như tâm lý an lòng, sự trừng phạt
đối với tội ác…Nhà báo Yên Ba lại không đồng tình với ý kiến trên nên. Trong bài viết:
“Từ thám tử Kỳ Phát đến điệp viên Nguyễn Thành Luân", tác giả cho rằng: Sách trinh
thám ở Việt Nam không có một lịch sử lâu dài. Lý do là vì chữ quốc ngữ mãi đến những
năm đầu tiên của thế kỷ XX mới dần được truyền bá và hoàn thiện, theo đó văn học chữ
quốc ngữ cũng mới được hình thành. Theo tác giả thì nếu tạm coi việc ra đời tiểu thuyết
Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách do nhà in Nam Kỳ (Hà Nội) xuất bản năm 1925 như là
cuốn tiểu thuyết đầu tiên theo đúng nghĩa của nó trong nền văn học chữ quốc ngữ Việt
Nam, thì văn học trinh thám phải đợi hơn mười năm sau mới có cuốn tiểu thuyết đầu tiên
với hai nhân vật thám tử Kỳ Phát và Lê Phong phóng viên của Phạm Cao Củng và Thế
Lữ đã làm say mê người đọc Bắc Hà một thời.
Mặc dù tác phẩm Mảnh trăng thu của Bửu Đình, được xuất bản năm 1930, tác
phẩm đã mang những yếu tố trinh thám vụ án (có giết người, truy tìm thủ phạm), thế
nhưng tác giả cũng chỉ đề là “ái tình tiểu thuyết”, kể về truyện tình ái của một lớp
thanh niên thời bấy giờ lồng trong khung cảnh của một vụ án... [144]. Trong Hội
Anh, Thành Nguyên, Hồ Sĩ Hiệp (1988), Phác thảo quan hệ văn học Pháp và văn
học Việt Nam hiện đại của Hoàng Nhân (1988), Văn xuôi Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX
do Cao Xuân Mỹ sưu tầm (tập 1, 2), Mai Quốc Liên giới thiệu (1999), Giáo trình lịch
sử Văn học Việt Nam của Nguyễn Đăng Mạnh (2000), Báo chí với văn học giai đoạn
1932-1945 của Lê Thị Đức Hạnh (2001), Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX do
Mai Quốc Liên (chủ biên), Nguyễn Văn Lưu và Nguyễn Cừ (sưu tầm, biên soạn 2002), Lược khảo văn học Việt Nam từ khởi thủy đến hiện đại của Bùi Đức Tịnh
(2005), Văn học miền Nam nơi miền đất mới (tập 1,2) của Nguyễn Q. Thắng…
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy một số luận án Tiến sĩ, có đề
cập đến những vấn đề liên quan đến luận án như: Sự hình thành và vận động của thể
loại tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến đầu
thế kỷ XX của Tôn Thất Dụng (1993), Đóng góp của Văn học quốc ngữ Nam Bộ cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và tiến trình hiện đại hóa Văn học Việt Nam của Lê Ngọc
Thúy (2001), Quá trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến đầu
thế kỷ XX của Cao Xuân Mỹ (2001), Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế
kỷ XX của Võ Văn Nhơn (2008).