Quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH DƯƠNG THU THỦY

QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA
HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC
VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62 22 34 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

vực nghiên cứu văn học Việt Nam nói chung và đố
i với giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX nói
riêng hầu như rất hiếm. Không thoả mãn với những thành tựu của lĩnh vực nghiên cứu văn
học phần lớn mới chỉ được nhắc đến bên cạnh những thành tựu về sáng tác trong các cuốn
lịch sử văn học, chúng tôi cho rằng chỉ có việc nghiên cứu chuyên biệt để tổng kết riêng các
thành tựu nghiên cứu văn h
ọc thì mới đánh giá được thỏa đáng hoạt động của lĩnh vực này.
Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Quá trình hiện đại hoá hoạt động nghiên cứu văn
học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX” để thực hiện luận án nhằm đáp ứng phần nào mối quan
tâm về quá trình hiện đại hóa và sự đóng góp của hoạt động nghiên cứu văn học trong quá
trình hiện đạ
i hóa nền văn học dân tộc nói chung.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Quá trình hiện đại hoá hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam
nửa đầu thế kỷ XX”, chúng tôi nhằm hướng đến những mục đích sau:
- Đánh giá một cách khách quan, khoa học những thành tựu và hạn chế của quá trình
hiện đại hoá hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX.
- Nêu lên những đóng góp của hoạt động nghiên c
ứu văn học trong thành tựu chung
của quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
- Rút ra những bài học kinh nghiệm về quá trình hiện đại hoá văn học nhằm vận dụng
vào công cuộc hiện đại hoá văn học hiện nay.
3. Lịch sử vấn đề
Ngành nghiên cứu văn học Việt Nam thời trung đại chủ yếu thiên về xu hướng sưu tầm,
bình đ
iểm. Xu hướng này mang tính chất của tiếp nhận cảm tính nhiều hơn là tư duy khoa
học. Chính vì vậy, mặc dù xu hướng này có ưu điểm là cung cấp cho ta những kiến thức
đánh giá độc đáo về mặt thẩm mỹ và nghệ thuật, nhưng nó chưa phác họa được một bức
tranh văn học có hệ thống với những lý giải khoa học và biện chứng về quá trình phát triển
củ

đoạn nửa đầu thế kỷ XX. Bên cạnh phần nói về hoạt động sáng tác, các công trình đều có đề
cập ít nhiều đến hoạt động nghiên cứu văn học. Tuy vậy, các công trình phần lớn đều xem
hoạt động nghiên cứu văn học giai đoạ
n này như là một hình thức của phê bình văn học. Có
thể kể những công trình tiêu biểu có đề cập đến hoạt động phê bình, nghiên cứu văn học giai
đoạn nửa đầu thế kỷ XX như: Lược thảo văn học Việt Nam (tập 3, 1957, Nhóm Lê Quý Đôn
soạn); Bảng lược đồ văn học Việt Nam (Nxb Phong trào Văn hóa, Sài Gòn, 1967) và Phê
bình văn học thế hệ 1932 - 1945 (Nxb Phong trào Văn hóa, Sài gòn, 2 tậ
p, 1972 - 1975) của
Thanh Lãng; Việt Nam văn học sử giản ước tân biên 1862 - 1945 (Nxb Quốc học tùng thư,
Sài Gòn, 1965) của Phạm Thế Ngũ, Lược khảo văn học: Nghiên cứu và phê bình văn học
(tập 3, Nxb Nam Sơn, Sài Gòn, 1968) của Nguyễn Văn Trung.
Trong những công trình nêu trên, công trình Phê bình văn học thế hệ 1932-1945 của
Thanh Lãng có tầm bao quát rộng hơn cả. Trong tác phẩm này và một phần của Bảng lược
đồ vă
n học Việt Nam, Thanh Lãng đã phác họa tổng quát bức tranh nghiên cứu - phê bình
văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX như: Đặc điểm của giai đoạn, Lý thuyết về phê bình,
Sự phân hóa của lực lượng cầm bút, Mười vụ án văn học, Sáu khuynh hướng phê bình; Giới
thiệu và nhận định về 17 nhà phê bình... Các công trình của Thanh Lãng có một đặc điểm
chung là mang tính khảo cứu, mô tả và liệt kê sự
kiện; cho nên chưa thể hiện rõ quá trình và
những quy luật phát triển của ngành nghiên cứu văn học Việt Nam trong giai đoạn nửa đầu
thế kỷ XX. Đã thế, ở tập I của bộ sách Phê bình văn học thế hệ 1932, tác giả lại dành cả
chương II để phát biểu chung về phê bình văn học và giới thiệu một số trường phái phê bình
của thế giới. Sau đó, sang tập II, ông l
ại giới thiệu các trường phái của thế giới đã dẫn ở tập
I. Vì vậy, ấn tượng tản mạn của bộ sách lại càng thể hiện rõ rệt. Nhưng cái đáng quý của các
công trình này là đã cung cấp một khối lượng tư liệu giá trị rất cần thiết cho các thế hệ
nghiên cứu sau này.
Tập 3 của bộ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1862 - 1945) của Phạm Thế Ngũ

i kỳ. Luận văn thạc sĩ của
Phạm Thị Mến: Những đóng góp về mặt lý luận phê bình của Hoài Thanh trước Cách mạng
tháng Tám (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2001); luận án tiến sĩ
của Trần Hạnh Mai: Sự nghiệp phê bình văn học của Hoài Thanh (Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội, Hà Nội, 2000, Nxb Giáo dục, 2003); luận văn thạc s
ĩ của Dương Thu Thuỷ: Đóng
góp về phê bình và nghiên cứu lịch sử văn học của Trần Thanh Mại (Trường Đại học Sư
phạm Huế, Huế, 2004); luận văn thạc sĩ của Hồ Vi Thường: Khuynh hướng phê bình mác -
xít ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (1900 - 1945) (Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí
Minh, 2005)… Nghiên cứu về lý luận, phê bình những thập niên đầu thế kỷ XX phải kể đến
cuốn sách Lý luận phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX của Trần Mạnh Tiế
n (Nxb Giáo
dục, Hà Nội, 2001). Có một công trình được tác giả cho là “công trình chuyên biệt đầu tiên
tập trung nghiên cứu một cách toàn diện, toàn bộ hoạt động phê bình văn học thời trước
Cách mạng” mang tên: Lịch sử phê bình văn học Việt Nam (giai đoạn đầu thế kỷ XX đến
năm 1945) của Trần Thị Việt Trung (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2002). Công
trình Phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế k
ỷ XX (1900 - 1945) của Nguyễn Thị Thanh
Xuân (Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh) cũng ra đời vào năm 2004.
Lịch sử phê bình văn học Việt Nam (Giai đoạn đầu thế kỷ XX đến năm 1945) của Trần
Thị Việt Trung là cuốn sách nghiên cứu về phê bình văn học giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến
năm 1945. Trong công trình này, tác giả đã nêu lên những tiền đề về l
ịch sử xã hội và văn
hoá của phê bình văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ đến năm 1945, trong đó có đề cập đến vai
trò của hoạt động báo chí, đội ngũ những nhà văn tham gia hoạt động phê bình văn học....
Tác giả giới thiệu diện mạo và đặc điểm của phê bình văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu
thế kỷ XX, dựng lên mộ
t số chân dung nhà phê bình chủ yếu ở giai đoạn 1930 - 1945 như
Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Hải Triều. Vì vậy, theo chúng tôi, cuốn sách Lịch sử
phê bình văn học Việt Nam (Giai đoạn đầu thế kỷ XX đến năm 1945) của Trần Thị Việt

của họ. Nhưng đây vốn là một cuốn sách bàn về Phương pháp luận nên tác giả chỉ chủ yếu
nêu lên nh
ững đóng góp cũng như những hạn chế về phương pháp nghiên cứu của các tác giả
Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám để minh họa cho vấn đề “phương pháp luận nghiên
cứu văn học” chứ chưa phải là cuốn sách chuyên sâu về hoạt động nghiên cứu văn học giai
đoạn này.
Cuốn sách Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Những vấn đề lý luận và lịch sử (Nxb Giáo
dục, Hà Nội, 2004) do Phan Cự Đệ chủ biên chủ yếu đề cập đến lý luận, phê bình văn học
Việt Nam thế kỷ XX. Nghiên cứu lý luận, phê bình thời kỳ nửa đầu thế kỷ, Trần Đình Sử
phân chia làm hai giai đoạn: Lý luận, phê bình văn học Việt Nam giai đoạn 1900 - 1932; Lý
luận, phê bình văn học 1932- 1945. Ở giai đoạn đầu, sau khi nêu diện mạo chung của đời
sống lý luận, phê bình v
ăn học ba mươi năm đầu thế kỷ; cuộc tranh luận văn học đầu tiên mở
đầu thế kỷ: Tranh luận Truyện Kiều; tác giả đã giới thiệu những nhà nghiên cứu, phê bình
văn học đầu tiên gồm: Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh, Võ Liêm Sơn. Sang giai đoạn từ 1932
đến 1945, Trần Đình Sử cho rằng đặc điểm chủ yếu của giai đoạn này là giai
đoạn hình thành
tư tưởng mới; phủ nhận tư tưởng cũ, nổ ra nhiều cuộc tranh luận quan trọng, và đây cũng là
giai đoạn hình thành lý luận văn học như là một “thể loại mới” xưa nay chưa từng có và
đồng thời xuất hiện những nhà lý luận, phê bình văn học chuyên nghiệp. Trần Đình Sử chia
ra sáu thể loại phê bình chủ yếu ở giai đoạn này g
ồm: thể bút chiến, thể phê bình tác giả, thể
danh nhân truyện ký, thể phê bình khoa học hay nghiên cứu chuyên đề, thể loại bình chú,
bình văn, thể loại văn học sử. Ông phân chia thế hệ các nhà lý luận, phê bình văn học giai
đoạn 1932 - 1945 theo bốn khuynh hướng: các nhà phê bình có xu hướng tổng kết (Thiếu
Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan); các nhà phê bình mác-xít (Hải Triều, Đặng Thai Mai); các
nhà phê bình, nghiên cứu văn học theo phương pháp khoa học (Trần Thanh Mại, Đào Duy
Anh, Nguyễn Bách Khoa); các nhà văn học sử và biên khảo (Dương Quảng Hàm, Nguyễn
Đổng Chi, Ngô Tất Tố, Lê Thanh, Kiều Thanh Quế). Trong mỗi tác giả, Trần Đình Sử có
giới thiệu những tác phẩm tiêu biểu, kèm theo vài lời nhận định hế

thành tựu chủ yếu, qua các phương pháp nghiên cứu và nguyên nhân dẫn đến những thành
tựu đó. Những vấn đề khác không phải là đối tượng nghiên cứu của luận án. Với yêu cầu
nhằm vào sự hiện đại hoá, chúng tôi sẽ tập trung vào những công trình nghiên cứu tiêu biểu,
có đóng góp về mặt đổi mới trong quan điểm lý thuyết và phương pháp thực hành.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: phạm vi của đề tài, chúng tôi xác định chỉ tập trung nghiên cứu
những yếu tố nổi trội đã góp phần làm nên quá trình hiện đại hóa trong hoạt động nghiên cứu
văn học Việt Nam ở nửa đầu th
ế kỷ XX (từ năm 1900 đến năm 1945); không có tham vọng
nghiên cứu toàn bộ các tác giả và tác phẩm xuất hiện ở giai đoạn này mà chỉ giới hạn ở phạm
vi những tác phẩm tiêu biểu nhất của những tác giả có những đóng góp cụ thể trong hoạt
động nghiên cứu văn học giai đoạn này.
4.3. Giới thuyết một số khái niệm
4.3.1. Khái niệm nghiên cứu vă
n học
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Nghiên cứu văn học còn gọi là khoa văn học hoặc
khoa học về văn học, là khoa học nghiên cứu các quy luật và hiện tượng trong sự tồn tại và
phát triển của văn học. Từ điển văn học (Bộ mới - xuất bản năm 2004) định nghĩa: Nghiên
c
ứu văn học là một chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn mà đối tượng nghiên cứu là
nghệ thuật ngôn từ (văn học).
Nghiên cứu văn học, theo truyền thống, bao gồm ba bộ môn chính: Lý luận văn học,
Lịch sử văn học, Phê bình văn học. Trong đó, Lý luận văn học nghiên cứu những quy luật
chung của cấu trúc và sự phát triển văn học;
Lịch sử văn học (còn gọi là văn học sử) lấy đối
tượng nghiên cứu là văn học quá khứ, khảo sát nó như một quá trình, hoặc khảo sát một
trong số các thời đoạn của quá trình đó; Phê bình văn học chú ý đến trạng thái hiện tại của
văn học đương thời, nó cũng chú ý lý giải văn học quá khứ từ quan điểm nhữ
ng vấn đề xã
hội và nghệ thuật hiện thời. Ở trình độ phát triển cao và tính chuyên môn sâu, nghiên cứu
văn học là tên gọi chung cho nhiều bộ môn nghiên cứu cụ thể, tương đối độc lập, tiếp cận

lĩnh vực nó mang một nội hàm khái niệm khác nhau. Theo nhà nghiên cứu Lê Ngọc Trà:
Hiện đại hóa trong chừng mực nhất định, nó đồng nghĩa với khái niệm phương Tây hóa, là
quá trình thu nhận những ảnh hưởng của văn học phương Tây
để có những đặc điểm của văn
học phương Tây [192, tr.40].
Khái niệm hiện đại hóa văn học ở đây được sử dụng theo nghĩa phân biệt với khái niệm
văn học trung đại. Đó là quá trình chuyển từ loại hình văn học cũ sang loại hình văn học mới
hiện đại hơn, nghĩa là, khi mà nền văn học phong kiến không còn thích ứng nữa thì yêu cầu
c
ủa xã hội là phải đổi mới để thực hiện chức năng phản ánh hiện thực một cách đầy đủ và
hiệu quả hơn. Văn học hiện đại hóa là văn học đã thoát khỏi hệ thống thi pháp của văn học
trung đại để xác định một hệ thống thi pháp mới, thi pháp văn học hiện đại nhằm đáp ứng
yêu cầu phản ánh xã hội m
ới và đáp ứng thị hiếu mới của công chúng thời điểm ấy.
Như vậy, hiện đại hóa là quá trình tất yếu của một nền văn học. “Nó xuất phát từ nhu
cầu sáng tạo nội tại của văn học, từ tác động của hoàn cảnh xã hội, từ đòi hỏi của công chúng
và từ kết quả của sự giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, các dân t
ộc” [192, tr.40].
Quá trình hiện đại hóa của văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 tất nhiên
không phải một sớm một chiều mà nó là cả một quá trình diễn ra liên tục không ngừng. Ở
giai đoạn ba mươi năm đầu thế kỷ (từ 1900 đến 1930) là bước chuẩn bị cho sự chuyển mình
của văn học, trong đó mười năm cuối của giai đoạn này, công cuộc hiện đại hóa văn học đã
đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận. Giai đoạn từ 1930 đến 1945, quá trình hiện đại hóa
nền văn học được đẩy lên một b
ước mới với nhiều cuộc cách tân văn học sâu sắc và toàn
diện, đặc biệt là sự ra đời các thể loại văn học mới. Đến đây, sự đổi mới đã thể hiện một cách
toàn diện, triệt để. Nền văn học Việt Nam lúc này, nhìn tổng thể, đã mang tính hiện đại từ
nội dung đến hình thức, không còn lạc điệu trong văn học của th
ế giới hiện đại.
Đặt vào bối cảnh chung của quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam giai đoạn này,

6.2. Đánh giá thành tựu và h
ạn chế của công tác nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế
kỷ XX; rút ra được những kinh nghiệm cần thiết về phương pháp đổi mới nghiên cứu văn
học; đóng góp và gợi ý cho việc soạn thảo lịch sử văn học Việt Nam hiện đại.
6.3.

Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo giảng dạy về lĩnh vực nghiên cứu
văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
7. Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận cũng như Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận án gồm ba chương:
Chương 1- Những tiền đề cơ bản của quá trình hiện đại hóa hoạt độ
ng nghiên cứu văn
học Việt Nam
Chương 2- Những chặng đường phát triển của hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam
nửa đầu thế kỷ XX
Chương 3- Những đổi mới về phương pháp nghiên cứu
Chương 1 - NHỮNG TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CỦA QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA
HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM
1.1. Những tiền đề lịch sử - xã hội
1.1.1. Quá trình xâm lăng của thực dân Pháp và những chuyển biến về thể chế chính
trị
1.1.1.1. Năm 1858, thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên ở Đà Nẵng, báo hiệu cuộc xâm
lược chính thức nước ta. Tính từ khi đồn Kỳ Hòa thất thủ (1861), Pháp chiếm ba tỉnh miền
Đông (1862) rồi chiếm cả sáu tỉnh Nam Kỳ (1867), cho đến hòa ước Patenôtre (1884) thì
Việt Nam hoàn toàn mất hết
độc lập chủ quyền. Từ đó đã dẫn đến nhiều chuyển biến cực kỳ
quan trọng trong xã hội: nước Việt Nam phong kiến nông nghiệp trở thành nước thuộc địa
nửa phong kiến với hai tầng áp bức: thực dân Pháp và vua quan, địa chủ phong kiến. Chính
biến cố trọng đại này đã làm biến đổi sâu xa mọi phương diện, trong đó có văn học nghệ

ải Phòng, nhà máy cưa Bến Thủy … lần lượt ra đời. Nhà máy dệt
Nam Định được xây dựng từ những năm cuối thế kỷ XIX nay được mở rộng, nâng cấp để trở
thành một trung tâm dệt nổi tiếng trên toàn quốc với một tổ hợp nhà máy khép kín từ khâu
đầu đến khâu cuối. Tư bản Pháp rất coi trọng đến việc khai thác mỏ, trước hết là than. Công
ty than Hòn Gai thành lập năm 1888, một năm sau t
ổng sản lượng than ở Đông Dương đã lên
tới 260.000 tấn. Từ năm 1890 đến 1904 các công trình khai thác than càng được đẩy mạnh.
Ngoài than, các cơ sở khai thác thiếc ở Tĩnh Túc (Cao Bằng), bạc ở Ngân Sơn (Bắc Cạn),
vàng ở Bồng Miêu (Quảng Nam)… đều được bổ sung thêm vốn, nhân công và đẩy mạnh tiến
độ khai thác. Giao thông vận tải, đã được thực dân Pháp đầu tư xây dựng ngay từ đầu, nay
đượ
c tiếp tục đầu tư vốn và kỹ thuật. Ngoài các tuyến đường sắt ở miền Nam, thực dân Pháp
tiếp tục xây dựng các tuyến đường sắt như Vinh - Đông Hà, Đồng Đăng - Na Sầm. Đường
bộ cũng tiếp tục được xây dựng. Nếu như đường sắt, đường bộ có vị trí quan trọng trong
kinh tế đối nội, thì đường thủy đóng vai trò chủ đạo trong kinh tế đố
i ngoại. Vì thế, cùng với
các hải cảng đã xây dựng trong đợt khai thác thuộc địa lần thứ nhất như cảng Sài Gòn, Hải
Phòng, Đà Nẵng, thực dân Pháp tiếp tục cho xây dựng các hải cảng mới như Hòn Gai, Bến
Thủy... Mạng lưới vận tải đường sông vùng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long cũng
được khai thác triệt để.
Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn lợi dụng quyền thống trị v
ề chính trị để duy trì bộ máy
quan liêu, cường hào và những luật lệ của chế độ phong kiến để ra sức chiếm đoạt ruộng đất,
tăng cường bóc lột sưu thuế, sưu dịch, làm phá sản nông dân và thợ thủ công, tạo ra nguồn
nhân công rẻ mạt để thực hiện công cuộc khai thác tại thuộc địa và xuất khẩu lao động sang
Pháp. Kết quả của các chính sách ấy là nền kinh tế
cổ xưa bị phân giải, lưu thông hàng hóa
phát triển, nước ta bị kéo vào quỹ đạo chủ nghĩa tư bản. Thực dân Pháp biến Việt Nam từ
một nước đang theo chế độ “quân chủ” thành một nước theo chế độ “thực dân nửa phong
kiến”.

i
dung, tư tưởng tiến bộ. Trước thế chiến thứ II, do phong trào đấu tranh của quần chúng, chế
độ kiểm duyệt của thực dân Pháp có lúc được nới lỏng, nhưng từ khi đại chiến thế giới lần
thứ II sắp bùng nổ, lệnh kiểm duyệt của chúng trở nên gắt gao hơn. Mặt khác, chúng cho du
nhập những sản phẩm văn hóa phản động, đồi trụy của phươ
ng Tây vào Việt Nam. Chúng lại
không ngừng rêu rao quan điểm: thực dân Pháp sang Việt Nam với sứ mệnh đem ngọn đuốc
văn minh của nước mẹ Đại Pháp sang truyền bá cho nhân dân Việt Nam. Và để đạt được
mục đích, chúng chủ trương mị dân như: chính sách “Pháp - Việt đề huề”; phát động các
phong trào “Âu hoá”, “Vui vẻ trẻ trung” ở khắp các thành thị để mê hoặc và ru ngủ lớp thanh
niên mới lớn. Song song với các chủ trươ
ng mị dân này, thực dân Pháp còn xây dựng và thiết
lập hệ thống giáo dục, trong đó, tiếng Pháp đã lấn át tiếng mẹ đẻ. Mục đích của chương trình
này là nhằm đào tạo ra những con người phục vụ cho chính quyền thực dân. Tuy nhiên, trong
các trường Pháp - Việt, học sinh, sinh viên Việt Nam cũng có điều kiện tiếp thu được một
phần nền văn hóa tiến bộ của phương Tây.
Có thể thấy rằng, với công cuộc khai thác về kinh tế, việc áp đặt về chính trị, thực hiện
chính sách ngu dân cực kỳ thâm độc; chế độ thực dân nửa phong kiến hình thành khi
ến đời
sống nhân dân ta, đặc biệt là nông dân lâm vào cơ cực. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng,
đối với tình hình trì trệ lâu đời của xã hội phong kiến Việt Nam, quá trình khai thác thuộc
địa, việc thiết lập hệ thống chính trị mới của thực dân Pháp ở nước ta về khách quan đã mang
đến những biến đổi lớn lao làm cho mọi hoạt động của xã hội Việt Nam đều thay đổi trong
đó có văn h
ọc nghệ thuật nói chung và nghiên cứu văn học nói riêng.
1.1.2. Những biến động lớn của xã hội
Như đã trình bày, chính quá trình khai thác thuộc địa ngày một mở rộng cùng với việc
đẩy nhanh sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa ở một số đô thị lớn như Hải Phòng, Vinh,
Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn… đã làm cho sự phân hóa giai cấp diễn ra vô cùng sâu sắc
và nhanh chóng làm xuất hiện nhi

nếp sống tương đối ổn định và
đầy đủ trong một xã hội đang nhanh chóng thay đổi. Họ có
điều kiện để học hành, để tiếp xúc với những thông tin về chính trị, văn hóa, xã hội. Chính
tầng lớp này và cuộc sống đô thị đã làm nảy sinh những nhu cầu mới về hưởng thụ văn hóa
khác với nhu cầu của con người dưới chế độ phong kiến. Họ cần cập nhật thông tin, vì thế
báo chí ra đời; c
ần cập nhật tác phẩm vì thế xuất bản phát triển. Văn học nghệ thuật trở thành
hàng hóa, vì vậy xuất hiện ngành kinh doanh hàng hóa văn học bao gồm những người kinh
doanh và viết văn. Đời sống văn học hình thành nên một đội ngũ tác gia mới - những nhà
văn chuyên nghiệp, sống bằng nghề và với nghề. Chính họ là những người quyết định sự
phát triển của nền vă
n học mới. Từ đây: người ta quan niệm việc cầm bút viết văn như một
chuyên môn của một số trí thức nhằm hướng đạo xã hội, phụng sự nghệ thuật, trong xã hội
xuất hiện tầng lớp nhà văn chuyên nghiệp, sống bằng nghề viết văn, thậm chí “Vợ dại con
thơ, sự sinh hoạt trông nhờ một ngọn bút” (Giấc mộng con).
Nhìn chung, chương trình khai thác thu
ộc địa lần thứ nhất của Paul Doumer và lần thứ
hai của Albert Sarraut (trước và sau đại chiến thế giới lần thứ nhất 1914 - 1918) là nhân tố
chính làm chuyển biến sâu sắc cơ cấu xã hội Việt Nam. Lúc bấy giờ, nền kinh tế phong kiến
bị phân giải, người nông dân bị bần cùng hoá. Do quá trình khai thác thuộc địa ngày càng
được đẩy mạnh nên từ Nam chí Bắc, những trung tâm kinh tế, văn hoá của xã hội thực dân
n
ửa phong kiến đã mọc lên. Sự ra đời của thành thị đã làm xuất hiện nhiều tầng lớp xã hội
mới như: tư sản, tiểu tư sản (viên chức, học sinh, dân nghèo thành thị…), công nhân như đã
nói ở trên. Cùng với sự phát triển của các đô thị, số thị dân cũng tăng nhanh. Trong quá trình
sinh tồn, thị dân đã tạo ra một lối sống riêng, tập quán riêng, vừa kế thừa nh
ững giá trị truyền
thống, nhưng đồng thời cũng có những nét khác với lối sống của nông dân. Hệ thống thành
thị phát triển, thị dân ngày càng đông đúc là những tiền đề, những điều kiện để tiếp nhận văn
hóa phương Tây và thúc đẩy nền văn học nhanh chóng hiện đại hóa trong đó có hoạt động

Đố
i với nhân dân ta, trong mấy thập kỷ cuối thế kỷ XIX, ngày càng có nhiều người hơn
theo học chữ quốc ngữ, thế nhưng nhìn chung, thứ văn tự này vẫn ít được tín nhiệm, bởi nó
bị xem là thứ chữ của “quân cướp nước” nên không dễ dàng thay thế được chữ Hán - Nôm.
Dù vậy, cùng với sự phát triển của đô thị và sự xuất hiện của nhiều tầng lớp xã hội mới, chữ
quốc ngữ từng bước được công chúng làm quen và thực sự được thừa nhận vào thập niên đầu
của thế kỷ XX. Riêng đối với các sĩ phu Việt Nam, lúc đầu, họ xem chữ quốc ngữ là sản
phẩm và công cụ cai trị của quân xâm lăng nên không tiếp nhậ
n. Đến đầu thế kỷ XX, các nhà
Nho yêu nước và duy tân nhận rõ ưu thế dễ đọc, dễ viết của chữ quốc ngữ nên đã chuyển từ
thái độ phản ứng sang nhiệt tình cổ động, hô hào học và dùng chữ quốc ngữ
“Trước hết phải học ngay quốc ngữ
Khỏi đôi đường tiếng, chữ khác nhau;
Chữ ta, ta phải thuộc làu,
Nói ra nên tiếng, vi
ết câu nên bài,
Sẵn cơ sở để khai tâm trí...
(Thơ Đông Kinh nghĩa thục)
hay “Một đằng thì mất mấy năm trời để đi học một thứ chữ khác hẳn tiếng mình mà vẫn
không có công hiệu, một đằng thì chỉ mất không tới sáu tháng là học ngay được văn tự của
tiếng mình. Vậy thì không thể không theo chữ nước ta” (Văn minh tân học sách - 1904). Sự
truyền bá chữ qu
ốc ngữ qua các phong trào Minh Tân (ở Nam Bộ), phong trào Đông Kinh
nghĩa thục (ở Bắc Bộ) vào những năm 1907 - 1908 đã gây ảnh hưởng sâu rộng trong quần
chúng khiến thứ chữ này dần dần được sử dụng phổ biến, rộng rãi trong sự tiếp thu của nhiều
tầng lớp nhân dân. Ngay nhà Nho yêu nước Nguyễn Đình Chiểu là người kiên quyết không
hợp tác với Pháp nhưng lại có ý thức tiếp nhận chữ quố
c ngữ khi đồng ý cho con gái là
Nguyễn Thị Khuê (Sương Nguyệt Anh, sau này là chủ bút tờ Nữ giới chung - tờ báo nữ giới
đầu tiên tại Việt Nam, cũng là tờ báo có chủ trương truyền bá chữ quốc ngữ) học chữ quốc

quốc ngữ đã thật sự trở thành công cụ diễn đạt hữu hiệu nhằm phản ánh cuộc sống và tâm tư,
tình cảm con người Việ
t Nam, được sử dụng phổ biến và đưa văn học đến gần với người
đọc. Chính vì thế, nó trở thành một công cụ, một phương tiện quyết định để chuyển tải văn
hóa, văn học phương Tây thâm nhập vào đời sống văn học Việt Nam, giúp văn học dân tộc
từng bước tiệm cận với dòng chảy chung của văn chương thế giới. Có th
ể khẳng định, chữ
quốc ngữ La-tinh là một trong những nhân tố quyết định góp phần vào quá trình hiện đại hóa
nền văn học Việt Nam nói chung và quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học nói
riêng.
1.2.2. Nền giáo dục mới
Năm 938, với chiến công hiển hách của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng, dân tộc Việt
Nam khôi phục nền độc lập, thống nhất quốc gia, xây dựng nhà nước phong kiế
n. Nền giáo
dục phong kiến được hình thành và phát triển. Trải qua 10 thế kỷ, nội dung, cách tổ chức
việc dạy và học, thi hành chế độ khoa cử của nền giáo dục phong kiến qua các triều đại cơ
bản là giống nhau. Chẳng hạn: nội dung dạy và học từ lớp ở thôn xã đến các trường ở lộ,
phủ, kinh đô đều lấy Tứ thư, Ngũ kinh làm sách giáo khoa; các triều đạ
i Lý, Trần, Lê,
Nguyễn tổ chức các khoa thi (thi Hương, thi Hội, thi Đình) về cơ bản là giống nhau… Trải
qua nghìn năm lịch sử, nền giáo dục phong kiến Việt Nam đã đào tạo nên nhiều nhà bác học,
nhà văn, nhà viết sử, nhà giáo, thầy thuốc … có danh tiếng cùng những thế hệ trí thức giữ vai
trò quan trọng trong việc xây dựng, vun đắp nền văn hiến Việt Nam. Một nền giáo dục
phong kiến coi trọng luân lý, lễ nghĩa, góp phần cơ bản xây dựng nền tảng đạo đức xã hội.
Tuy nhiên, ý thức tồn cổ của Nho giáo đã cản trở những tư tưởng cải cách, kìm hãm sự phát
triển của xã hội; phương pháp học khuôn sáo, giáo điều,... là những hạn chế của nền giáo dụ
c
phong kiến Việt Nam.
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm chiếm nước ta.


cao đẳng chuyên nghiệp (đại học). Chương trình giáo dục phổ thông Pháp - Việt có ba bậc
với 13 năm. Bậc Tiểu học 6 năm. Học hết chương trình tiểu học, học sinh được thi bằng Tiểu
học yếu lược hay Sơ đẳng tiể
u học. Bậc trung học phổ thông 4 năm, học xong được thi bằng
Cao đẳng tiểu học (còn gọi là bằng Thành chung). Bậc Trung học chuyên khoa gồm 3 năm,
học xong 2 năm đầu được thi lấy bằng Tú tài phần thứ nhất. Có bằng Tú tài thứ nhất rồi, học
xong năm thứ ba được thi lấy bằng Tú tài toàn phần.
Sau khi có bằng Tú tài toàn phần, người học sẽ được thi tuyển vào các trường cao đẳng
chuyên nghiệp (đại học) Pháp - Việt. Nhưng, như đã trình bày, mục đích của th
ực dân Pháp
mở các trường Pháp - Việt là nhằm đào tạo một số công chức cho bộ máy cai trị của chúng,
vì vậy, hệ thống các trường được thành lập không nhiều và số lượng tuyển sinh hằng năm rất
hạn chế. Một số trường cao đẳng được thành lập lúc bấy giờ có thể kể như: Cao đẳng Sư
phạm, Cao đẳng Canh Nông, Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Cao đẳ
ng Y khoa Đông
Dương (sau đổi thành Đại học Y khoa), Cao đẳng Luật (sau đó cũng đổi thành Đại học
Luật). Và đây chính là những nơi đào tạo ra đội ngũ trí thức cấp cao, đưa nền học vấn Việt
Nam lúc bấy giờ phát triển. Trong các trường Pháp - Việt, họ đã được tiếp xúc trực tiếp với
những tri thức văn hóa khoa học hiện đại của phương Tây, đặc bi
ệt là của Pháp. Hơn thế nữa,
họ đã chịu ảnh hưởng khá sâu sắc những tư tưởng mới về văn học, triết học và xã hội của
phương Tây hiện đại. Số lượng sinh viên, học sinh có bằng tú tài, tốt nghiệp cao đẳng, đại
học ở các trường Pháp - Việt ngày càng đông. Phần lớn trí thức Tây học đều hướng vào
những nghề tương đối tự
do như làm thầy giáo, làm báo, hoạt động khoa học kỹ thuật,….
Trong số này, một số người đã đi vào con đường sáng tác văn chương và nghiên cứu văn
học, trở thành một đội ngũ tác gia tân học thay thế dần đội ngũ tác gia cựu học, chẳng hạn:
Lê Thước, Đặng Thai Mai, Hoàng Ngọc Phách, Dương Quảng Hàm (tốt nghiệp cao đẳng sư
phạm), Phạm Huy Thông (tốt nghiệp đại học ở Paris), Ph
ạm Quỳnh (tốt nghiệp Trường

như một công cụ đồng hóa, trên thực tế đã trở thành một luồng gió mới giúp cho nền giáo
dục dân tộc có điều kiện biến đổi và tiếp thu cả hệ thống lý thuyết và kiến thức khoa học cụ
thể, để nhận thức và áp dụng những tri thức mới mẻ vào cuộc sống. Riêng trong lĩnh vực văn
họ
c, nó đã góp phần vào việc biến đổi tư duy nghiên cứu văn học của thế hệ những trí thức
trẻ.
1.2.3. Nền văn học mới
Trước thế kỷ XX, văn học Việt Nam vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại, chịu ảnh
hưởng sâu sắc của văn học Trung Quốc cả về tư tưởng, loại thể, chữ viết. Lúc bấy gi
ờ, văn
học chính thống do nhà Nho viết, sinh hoạt văn chương chỉ thu hẹp trong giới trí thức Nho
sĩ. Tác phẩm văn học cũng chưa được phổ biến rộng rãi mà chủ yếu là sáng tác cho cá nhân,
bạn bè. Viết văn chưa phải là một nghề, tác phẩm văn chương chủ yếu là món ăn tinh thần
cao cấp của tầng lớp trí thức quý tộc. Văn chương mang tính quy phạm với niêm luậ
t chặt
chẽ, đề tài, nhân vật, cốt truyện... đều nằm trong hệ thống ước lệ.
Sang đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam có những biến động đáng kể, nhiều đô thị mọc
lên, nhiều tầng lớp xã hội mới xuất hiện. Những tầng lớp mới này có nhu cầu văn hoá thẩm
mỹ mới, đòi hỏi một thứ văn chương m
ới. Cùng với những biến động xã hội, hoạt động văn
hoá có những yếu tố mới như: sự xuất hiện của chữ quốc ngữ, báo chí, in ấn, dịch thuật. Đây
chính là những điều kiện cơ bản thúc đẩy nền văn học mới ra đời và phát triển để nhanh
chóng hiện đại hóa.
1.2.3.1. Khi văn học Việt Nam đi vào quỹ đạo cận hiện đại, văn xuôi phát triển trước hết
và phát triển khá nhanh. Cuối thế kỷ XIX, một số tác phẩm văn xuôi đơn giản xuất hiện như:
Chuyện đời xưa (1866), Chuyện khôi hài, Kiếp phong trần (1882), Chuyến đi Bắc Kì năm Ất
Hợi (1876) của Trương Vĩnh Ký; Chuy
ện giải buồn (1866) của Huỳnh Tịnh Của. Nhưng cái
mốc đánh dấu sự hình thành văn xuôi hiện đại Việt Nam có thể tính từ khi Nguyễn Trọng
Quản cho xuất bản Truyện thầy Lazarô Phiền năm 1887. Đây là cuốn truyện quốc ngữ đầu

còn ngắn, chất lượng nghệ thuật chưa cao. Đến Nguyễn Chánh Sắt (Nghĩa hiệp kỳ duyên -
1919), Phú Đức (Châu về Hiệp Phố - 1926), đặc biệt là Hồ Biểu Chánh với một loạt tác
phẩm: Ai làm được (viết 1912 - xuất bản 1922), Chúa Tàu Kim Quy (viết năm 1913 - xuất
bản 1922), Cay đắng mùi đời (1922)…, thì tiểu thuyết quốc ngữ đã có bước vận động và có
những cách tân rõ rệt: ngày càng đa dạng về thể tài, khuynh hướng, nghệ thuật diễn đạt,
giọng điệu; ngôn ngữ
phong phú và gần gũi hơn với độc giả. Trong số này, Hồ Biểu Chánh
là tiểu thuyết gia tiêu biểu của Nam Bộ đầu thế kỷ XX được độc giả quan tâm, bởi tác phẩm
của ông đã đáp ứng được yêu cầu tâm lý của người đọc Nam Bộ lúc này: trọng nghĩa, thương
người, thủy chung, thẳng thắn… Đóng góp đáng chú ý của Hồ Biểu Chánh trong tiểu thuyết
buổi đầu là
đưa vào tác phẩm những cảnh trí, con người và lối sống của mọi tầng lớp nhân
dân Nam Bộ. Tuy nhiên, Hồ Biểu Chánh vẫn chưa thoát khỏi bố cục chương hồi, nội dung
dù phản ánh khía cạnh nào của cuộc sống, bàn về vấn đề gì của xã hội cũng không ngoài vấn
đề đạo lý: khuyên lành tránh dữ, tích ác phùng ác, tích thiện phùng thiện; cho nên cách kết
truyện bao giờ cũng có hậu. Ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Hồ Bi
ểu Chánh mang đậm tính
bình dân, giàu thực tế nhưng chưa đạt tính chuẩn mực của ngôn ngữ văn chương. Tóm lại,
tiểu thuyết Nam Bộ dù xuất hiện sớm, nhưng chưa có những đột phá đáng kể, nên ảnh hưởng
chủ yếu chỉ tỏa lan ở Nam Kỳ.
Ở miền Bắc, tiểu thuyết ra đời muộn hơn nhưng dần vươn lên vị trí dẫn đầu. Trong số
các tác phẩm xuất hiện lúc bấy giờ như: Giấc mộng con - 1917, Giấc mộng lớn - 1929 (Tản
Đà); Cành lê điểm tuyết - 1921, Cuộc tang thương - 1923 (Đặng Trần Phất); Kim Anh lệ sử -
1925 (Trọng Khiêm); Quả dưa đỏ - 1925 (Nguyễn Trọng Thuật); Tố Tâm - 1925 (Hoàng
Ngọc Phách)… thì Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách được chú ý đặc biệt bởi nó đã gây một
tiế
ng vang lớn “như một trái bom nổ giữa khung trời tình cảm”, vừa xuất hiện đã tạo ra một
làn sóng dư luận khắp cả nước “Từ Bắc đến Nam không ai không biết đến Tố Tâm”. Với Tố
Tâm, Hoàng Ngọc Phách được xem là cây bút tiên phong mở đường cho trào lưu lãng mạn
trong văn học Việt Nam buổi đầu thế kỷ. Tố Tâm được coi là cuốn tiểu thuyết báo hiệu bước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status