Biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật của người việt ở nam bộ từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XX (Tóm tắt) - Pdf 33

0
Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP.HCM

Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. TRỊNH DŨNG
2. TS. LÂM VINH

Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án
cấp cơ sở đào tạo họp tại ___________________________
_______________________________________________
vào hồi ___ giờ ___ , ngày ___ tháng ___ năm ________

Phản biện độc lập 1:
Phản biện độc lập 2:

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện …….


1

DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài
Trong nghệ thuật, biểu tượng nói chung được đề cập trong nhiều
khía cạnh khác nhau và phần lớn tập trung giải thích như là thành
phần nghĩa của hình tượng Do cách hiểu như vậy đã biến biểu tượng
chỉ còn là một tu từ làm nền cho mọi lối giải thích, và quan trọng hơn

tượng liên quan đến lịch sử, văn hóa, xã hội và cả những khía cạnh
gợi ra nhiều vấn đề liên quan đến biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật
của người Việt ở Nam Bộ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật là đối tượng chính và cũng là
đối tượng kép vừa thuộc lĩnh vực văn hóa (biểu tượng) vừa thuộc lĩnh
vực mỹ thuật (hình tượng).
Bên cạnh đối tượng chính còn có các đối tượng cần thiết là các nội
dung liên quan đến tính chất, đặc điểm cùng những yếu tố chi phối
gián tiếp hoặc trực tiếp đến sự biểu thị của biểu tượng hoa sen trong
mỹ thuật của người Việt ở Nam Bộ.
Nghiên cứu của luận án được giới hạn trong phạm vi sau:
(1) Những vấn đề về biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật được giới
hạn trong phạm vi ngôi chùa qua hai loại hình kiến trúc và điêu khắc
từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XX.
(2) Trong luận án, sự biểu thị của biểu tượng hoa sen được chia
thành lớp nhằm mục đích thuận lợi cho việc trình bày, phân tích; chứ
thực tế, chúng không theo bất kỳ trật tự nào.
(3) Luận án không truy tìm nguồn gốc biểu tượng hoa sen ở các
nền văn hóa khác. Trường hợp cần làm rõ nét riêng của biểu tượng
hoa sen trong mỹ thuật của người Việt ở Nam Bộ, luận án chỉ đối
chiếu với những bình diện tương ứng.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Để thực hiện luận án, phương pháp nghiên cứu của luận án chủ
yếu là phương pháp liên ngành, phương pháp lịch sử, phương pháp so
sánh, phương pháp khảo sát điền dã.
Trong tiến trình nghiên cứu, tác giả luận án luôn xác định mọi vấn
đề biểu thị của biểu tượng hoa sen cần được minh chứng qua bình
diện biểu hiện mỹ thuật tương ứng. Do vậy, nhiều trường hợp đối
tượng nghiên không còn nguyên bản nên việc dùng cái có trước để

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU
VỀ BIỂU TƯỢNG TRONG MỸ THUẬT
1.1. Những vấn đề chung về biểu tượng và biểu tượng trong
mỹ thuật
1.1.1. Giải thích thuật ngữ
Biểu tượng (symbol) là một thuật ngữ mang vác nội hàm vô cùng
đa dạng và biến đổi phức tạp đến nổi mà dù có nhiều giải thích được
đưa ra nhưng vẫn chưa có giải thích nào được thừa nhận đã thu tóm
mọi sự phức tạp ấy nhằm đáp ứng cho nhiều lĩnh vực khác nhau.
Có thể tóm tắt thuật ngữ độc đáo này theo nghĩa chung nhất. Nói
đến biểu tượng là nói đến một sự vật được sử dụng làm tượng trưng
cho nội dung nào đó, và khi bắt gặp nó, người ta cảm được, nhận
được ngoài nội dung hiển nhiên và trực tiếp, nó còn chỉ ra “cái gì
khác” sâu rộng hơn, mà ít khi nào giải thích phân minh, rõ ràng và
đầy đủ trong một lần.
1.1.2. Khái niệm biểu tượng trong mỹ thuật
Dưới góc độ Văn hóa học, mỹ thuật thuộc về hệ thống văn hóa với
đặc trưng:
Trong mỹ thuật, các yếu tố thẩm mỹ được thể hiện dưới dạng hình
tượng đượ chủ thể sáng tạo thể hiện bằng phương thức tạo hình. Còn
biểu tượng luôn gắn liền với hoạt động tư duy, giúp cho con người
kiến tạo mọi dữ kiện trong đời sống thành ý nghĩa; đồng thời chuyển
hóa ý nghĩa đó thành hình thức nào đó để cho người khác hiểu.
Do vậy, bình diện biểu hiện của biểu tượng trong mỹ thuật là bình
diện kép: vừa của văn hóa, vừa của mỹ thuật hòa trộn nhuần nhuyễn
trong đến mức khó tách bạch rõ ràng.
Trong ý nghĩa đó, có thể xác định khái niệm biểu tượng trong mỹ
thuật như sau: Biểu tượng trong mỹ thuật là những giá trị văn hóa
hàm chứa trong các lớp nghĩa mà chủ thể trong quá trình sáng tạo đã

cùng một biểu tượng, mỗi thành viên trong cộng đồng sẽ hiểu khi bắt
gặp chúng. Cũng do quy quy ước mà trước biểu tượng mỗi cộng đồng
sẽ có giải thích khác nhau; hoặc một biểu tượng có thể có giá trị với
cộng đồng này nhưng không có giá trị với cộng đồng khác.
1.1.5. Biểu tượng với sự ra đời của mỹ thuật
Biện chứng về sự có mặt của biểu tượng trong mỹ thuật là quá
trình “nhào nặn vật chất theo quy luật cái đẹp”, cũng là quá trình con


6
người chuyển vào đó những phần, những đoạn đời sống vốn có của
mình.
Tức, mỹ thuật ngay từ khi ra đời đã gắn liền với biểu tượng ở chỗ:
(1) Sử dụng bình diện của thế giới vật chất làm tượng trưng cho bình
diện nội dung của thế giới tinh thần. (2) Khi bắt gặp chúng, người ta
sẽ nhận ra nội dung ấy bằng cách vận hành bộ não suy tư để nhận
biết.
1.1.6. Bình diện biểu hiện của biểu tượng trong mỹ thuật
Xét về mặt biểu hiện, bình diện biểu tượng được tạo ra theo cảm
tính một cách võ đoán nên không mang tính hư cấu có dụng ý lý giải
đời sống mang ý nghĩa xã hội.
Bình diện mỹ thuật là kết quả sáng tạo của nghệ sĩ bằng ngôn ngữ
tạo hình mang đặc trưng thống nhất giữa nội dung và hình thức.
Vậy, biểu tượng trong mỹ thuật mang tính tổng hợp của hai mặt:
Mặt này, là những yếu tố gắn liền với một chỉnh thể thống nhất giữa
hình thức và nội dung của bình diện mỹ thuật. Mặt kia, là những yếu
tố bên ngoài bình diện mỹ thuật, nhờ nó, sự biểu hiện của mỹ thuật
mới có được sự hoàn thiện.
1.2. Phân loại biểu tượng trong mỹ thuật
1.2.1. Tiền đề cho sự phân loại

tác phẩm, và phụ thuộc vào nhận thức của người tri nhận.
1.3. Chức năng của biểu tượng trong mỹ thuật
1.3.1. Chức năng gợi mở – sáng tạo
Quá trình sáng tạo nghệ thuật, có hai giai đoạn căn bản: Giai đoạn
đầu là sáng tạo hình tượng ý đồ, tồn tại dưới hình thức các biểu
tượng. Giai đoạn sau, là giai đoạn biến đổi và thể hiện các biểu tượng
dưới hình thức một đối tượng khách quan bằng chất liệu nghệ thuật.
Trong sáng tạo nghệ thuật, biểu tượng có mặt ngay giai đoạn hình
tượng ý đồ, đóng vai trò là tiền đề, là ý tưởng, là tri thức...; và chủ thể
sáng tạo sử dụng từ đó tạo nên hình tượng. Tức hình tượng kết quả, là
sự hội tụ của toàn bộ những gì mà biểu tượng đã thiết lập ấy.
1.3.2. Chức năng thay thế – biểu cảm
Chức năng thay thế – biểu cảm của biểu tượng trong mỹ thuật dựa
trên nguyên lý con người mượn từ thế giới hiện thực sự vật hiện
tượng làm cái đại diện để phản ánh nội dung trong ý thức của mình.
Trong mỹ thuật, biểu tượng không chỉ cung cấp cho bình diện mỹ
thuật ý nghĩa mà còn đóng vai trò tạo ra tác động, khơi gợi cảm xúc
đối với bình diện ấy.


8
1.3.3. Chức năng thông tin - ý nghĩa
Trong mỹ thuật, việc chuyển giao thông tin – ý nghĩa không diễn
ra theo kiểu đối thoại trực tiếp mà thông qua bình diện biểu hiện với
tính cách là trung tâm của quá trình chuyển giao và tiếp nhận.
Tức, biểu tượng mặt này mang tới cho người tri nhận một lượng
thông tin – ý nghĩa trực tiếp qua trực quan nghệ thuật mà thị giác tri
nhận, thì mặt kia biểu tượng cũng cung cấp cho người tri nhận một
lượng thông tin - ý nghĩa bên ngoài trực quan đó bằng liên tưởng.
Cả hai cùng tồn tại song hành làm nên sự biểu hiện toàn vẹn của

thuật
Sự chuyển hóa của biểu tượng trong mỹ thuật là sự tái hiện, thụ
cảm từ mã hình tượng sang mã biểu tượng với tính hiện thực của nó.
Ở đó, mỗi người trên cơ sở tâm lý, tình cảm, cảm xúc, liên tưởng…
sẽ nhận ra sự chuyển hóa biểu tượng của riêng mình.
Vậy sự chuyển hóa của biểu tượng trong mỹ thuật là một hệ thống.
Trong đó, biểu tượng không chỉ biểu thị nội dung nghệ thuật mà còn
là phương thức gợi dẫn sự nhận thức đến các tầng nội dung mở rộng
giàu ý nghĩa xã hội hơn.
Nhờ đó, một nghĩa không có mặt trong yếu tố này thì cũng sẽ có
mặt trong yếu tố khác mà không cần bình diện biểu hiện mới.
Tiểu kết chương 1
Biểu tượng ra đời cùng với sự phát triển trí tuệ con người trong
quá trình tương tác với tự nhiên và xã hội.
Biểu tượng có mặt trong mỹ thuật qua con đường sáng tạo nghệ
thuật nhưng chúng không phải là hình tượng, mà là ý tưởng, tri thức,
lực tác động…, và chủ thể sáng tạo tiếp nhận từ đó để phát triển thành
bình diện nghệ thuật.
Biểu tượng trong mỹ thuật có thể được phân loại theo nhiều cách
khác nhau, Nhưng dù loại nào, điểm chung vẫn là tiêu chí: vừa biểu
hiện giá trị mỹ thuật, vừa biểu hiện giá trị văn hóa
Chức năng của biểu tượng trong mỹ thuật là một hệ thống vừa là
năng lực tư duy, vừa là sự biểu thị nội dung. Là tư duy, biểu tượng
biến mọi tiếp nhận từ thực tiễn thành hình tượng nhận thức. Là nội
dung, biểu tượng hòa nhập hình tượng nhận thức vào phương thức tạo
hình nhằm biểu thị nội dung.
Biểu tượng tương ứng với loại ký hiệu đa nghĩa, chuyển hóa trong
các bình diện mỹ thuật theo phương thức nghệ thuật. Sự biểu thị của
biểu tượng trong mỹ thuật có giới hạn nhất định. Ngược lại, sự biểu
thị của mỹ thuật luôn có khuynh hướng mở ra rộng hơn cái mà thị

Những cứ liệu lịch sử cho biết các cộng đồng cư dân ở Nam Bộ
như Việt, Hoa, Khmer, Chăm… đều không phải là dân bản xứ. Họ
đến Nam Bộ vì nhiều lý do khác nhau và thời gian cũng khác nhau.
Người Việt là chủ thể chính trong số các cộng đồng cư dân, họ đến
định cư ở Nam Bộ gồm hai giai đoạn chính: Giai đoạn đầu từ đầu thế


11
kỷ XVII (1600) và kết thúc khi Nam Bộ rơi vào tay thực dân Pháp
(1867). Giai đoạn thứ hai khi Nam Bộ chịu sự cai trị của người Pháp.
Những lưu dân này phần lớn là những người nghèo, tội đồ hay
binh lính… đến Nam Bộ vì chiến tranh, hoặc theo chính sách khẩn
hoang của chúa Nguyễn, hoặc của Pháp. Khi đến miền đất mới, họ
vẫn lưu giữ những nét văn hóa như quê cũ.
Người Hoa đến Nam Bộ lập nghiệp sinh sống từ khá sớm. Ngoài
hai trường hợp nhóm: Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch và
Mạc Cửu đến nước Việt xin làm thần dân khi nhà Minh sụp đổ. Còn
có người Hoa di dân hoặc phu đồn điền đến Nam Bộ thời Pháp thuộc.
Người Khmer định cư ở Nam Bộ sớm nhất khoảng thế kỷ XIII,
tức sớm hơn người Việt khoảng 2, 3 thế kỷ. Trong tiến trình lịch sử
hình thành và phát triển của Nam Bộ, địa bàn cư trú của người Khmer
dần hồi được chia thành các tỉnh: Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Hà
Tiên và rải rác một số nơi khác.
Người Chăm đến định cư ở Nam Bộ gần như cùng thời với người
Việt. Tuy nhiên, trên bước đường đến Nam Bộ, họ di chuyển từ Nam
Trung bộ vòng sang Campuchia đến đồng bằng Nam Bộ ngụ cư ở các
vùng biên giới giữa hai nước Việt - Campuchia (nay thuộc An
Giang), sau đó lại phân tán về các nơi khác sinh sống.
Với tính cách là chủ thể chính, người Việt đã tạo ra môi trường
chung sống hòa bình giữa các cộng đồng mà minh chứng là biểu

Về mặt tạo hình, có thể chia đài sen thành hai mẫu thức: (1) Đài
sen hình khối cầu (2) đài sen hình khối hộp.
Các dạng thức này kết hợp với tượng tạo thành một bố cục hoàn
chỉnh mang ý nghĩa độc đáo.
2.2.3. Dạng thức hoa sen trong pháp khí, vật dụng thờ cúng
Trong số các loại pháp khí, hoa sen thường được dùng nhất là tạo
tác thành vật cầm tay cho các vị Phật – Bồ tát…. thể hiện những ý
nghĩa sâu sa.
Với hình tượng Đức Phật tay cầm đóa sen với nụ cười mỉm thể
hiện câu chuyện Niêm hoa vi tiếu.
Với hình tượng Bồ tát, hoa sen là vật cầm tay với màu sắc khác
nhau như đặc trưng của mỗi vị. Quan Thế Âm Bồ tát thường cầm hoa
sen tay trái. Bồ tát Phổ Hiền cầm tay hoa sen đỏ. Bồ tát Đại Thế Chí
cầm hoa sen đóa sen nở. Quan Âm Thiên thủ thiên nhãn, hoa sen
chiếm 4 tay với 4 màu: trắng, xanh, tím và đỏ.
Trong vật dụng thờ cúng, hoa sen được tạo tác thành nhiều dạng
khác nhau như: bình đựng hài cốt, đèn…
2.2.4. Dạng thức hoa sen “ẩn” trong các bình diện khác


13
Dạng thức biểu tượng hoa sen “ẩn” là hình thức biểu hiện không
phải là hoa sen nhưng nội dung mà chúng biểu thị luôn có cùng một ý
niệm như biểu tượng hoa sen.
Ngôi chùa - tháp, Phật tượng, cây bồ đề, pháp khí, tiểu cảnh phối
hợp giữa điêu khắc với cảnh tự nhiên, thủ ấn liên hoa hợp chưởng, từ
liên ghép với từ khác để chỉ hoa sen (Liên tông, liên nhãn, liên hoa
y...) đều được xem là dạng thức biểu tượng hoa sen “ẩn”.
2.3. Các lớp nghĩa biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật của
người Việt ở Nam Bộ

Lớp nghĩa này hình thành trên cơ sở các biện pháp sử dụng các
yếu tố thiêng liêng của tượng hoa sen để củng cố vị thế cai trị của
mình mà họ Nguyễn đã dày công thực hiện trong suốt thời gian cai trị
của mình.
Cho nên, họ Nguyễn khi còn là chúa đến vua luôn có thái độ cởi
mở với Phật giáo (ủng hộ việc xây chùa, dâng tượng, cúng chuông,
sắc tứ cho các chùa) chính là biện pháp chuyển hóa biểu tượng hoa
sen trong lĩnh vực chính trị thông qua mỹ thuật
2.3.4. Hoa sen - biểu tượng Phật giáo chuyển hóa trong các
mối quan hệ nhân bản
Xét từ nhiều phương diện, mối quan hệ giữa biểu tượng hoa sen
trong mỹ thuật với tính nhân bản của Phật giáo có một số điểm căn
bản chung về tình cảm trong cảm thụ thẩm mỹ.
Trong mỹ thuật của người Việt ở Nam Bộ, Bồ tát Quan Thế Âm là
một trong những bình diện điển hình của sự chuyển hóa này. Đó
chính là những giá trị thẩm mỹ hướng ý thức con người tự biến đổi
mình theo cái chân - thiện - mỹ qua hạt nhân từ bi của Phật giáo.
2.4. Cơ cấu chuyển hóa nghĩa của biểu tượng hoa sen trong mỹ
thuật của người Việt ở Nam Bộ
2.4.1. Cơ cấu nghĩa của hoa sen - biểu tượng Phật giáo trong
mỹ thuật của người Việt ở Nam Bộ
Xét về mặt cơ cấu các lớp nghĩa của biểu tượng hoa sen trong mỹ
thuật ở Nam Bộ luôn hướng ý thức con người tin rằng thực hành theo
tư tưởng Phật giáo sẽ có cuộc sống hạnh phúc vĩnh hằng mãi mãi.
Đây chính là cơ cấu của ba yếu tố: thần luận, niềm tin, và sùng
bái. Xét về vai trò của mỗi yếu tố, thần luận đóng vai trò hội tụ nội
dung. Niềm tin hướng ý thức tri nhận nội dung, đồng thời tạo ra hành
động theo kiểu sùng bái.
Với biểu tượng hoa sen, ba yếu tố (thần luận, niềm tin và sùng bái)
vừa hướng ý thức nhận diện không chỉ về tư tưởng Phật giáo (thần

Việt hàm chứa ba yếu tố song hành: thần luận, niềm tin và sùng bái.
Từ cơ cấu này, nghĩa biểu thị của biểu tượng hoa sen không khép kín.
Nội dung mà biểu tượng hoa sen biểu thị dù đậm màu Phật giáo,
những luôn hướng con người hành động vì cái đẹp.
Như vậy, trong mỹ thuật của người Việt ở Nam Bộ, biểu tượng
hoa sen như biểu tượng đa chiều. Có chiều biểu thị tư tưởng Phật
giáo, có chiều biểu thị giá trị về cái đẹp, giá trị về đạo lý sống của
người Việt.


16

CHƯƠNG 3
GIÁ TRỊ BIỂU TƯỢNG HOA SEN TRONG MỸ THUẬT
CỦA NGƯỜI VIỆT Ở NAM BỘ
3.1. Những yếu tố của biểu tượng hoa sen truyền thống hiện
diện trong biểu tượng hoa sen của người Việt ở Nam Bộ
3.1.1. Tâm thức hiếu hòa – hiếu sinh của biểu tượng hoa sen
Yếu tố truyền thống thứ nhất của biểu tượng hoa sen có mặt trong
biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật Nam Bộ là tâm thức hiếu hòa hiếu sinh đã bám rể trong mỹ thuật của người Việt mà minh chứng 20
bảo tháp ở Luy Lâu, rồi chùa Khai Quốc (chùa Trấn Quốc), kế tiếp là
các ngôi chùa làng (qua sự dung hợp với tín ngưỡng dân gian của
dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi và dòng thiền Quan Bích).
Khi đất Việt độc lập, tâm thức mà biểu tượng hoa sen bám rể ấy
đã thăng hoa với sự có mặt của các bình diện chùa tháp to lớn, tường
cao ngất trời. Ngay khi Phật giáo không còn được trọng vọng, tâm
thức ấy vẫn phát triển mạnh mẽ qua các ngôi chùa ở thôn xóm.
Ở Nam Bộ, tâm thức hiều hòa – hiếu sinh của biểu tượng hoa sen
truyền thống có mặt trong mỹ thuật của người Việt ở Nam Bộ hết sức
sâu đậm mà minh chứng như Minh điều hương ước quy định.

trị.
Đây không phải là sáng tạo riêng của họ Nguyễn mà đã được các
vương triều trong lịch sử Việt Nam sử dụng để duy trì, củng cố quyền
lực của mình.
Thời Tiền Lê, mẹ vua Lê Đại Hành nằm mộng thấy hoa sen nở
trong bụng rồi có thai sinh ra ông. Thời Lý, Lý Thái Tông mơ được
Quan Âm dắt lên đài sen, thời Trần, có Kim Phật - Trần Nhân Tông...
Ở Nam Bộ cũng vậy, không ít những chuyện liên quan đến vị thế
thiêng liêng của biểu tượng hoa sen mà vương triều Nguyễn sử dụng.
Từ chuyện nằm mộng của Nguyễn Hoàng thời trấn nhậm Thuận Hóa,
cho đến các chuyện về sự “phò hộ” của đấng thiêng liêng “cứu giá”
thời Gia Long bôn tẩu...
Điều này chứng tỏ, họ Nguyễn - cũng như các vương triều trong
lịch sử, đã sử dụng vị thế thiêng liêng của biểu tượng hoa sen đúng
theo niềm tin của con người: cái thiêng liêng chỉ dành cho người
thiêng liêng.
Do vậy, thái độ cởi mở của họ Nguyễn đối với Phật giáo chỉ là
bước đi có tính giai đoạn. Điều này cũng đồng nghĩa, vị thế thiêng
liêng của biểu tượng hoa sen trong trường hợp này phụ thuộc vào
nhiều yếu tố, trong đó có cả yếu tố thịnh suy của người sử dụng.


18
3.2. Đặc trưng biểu hiện giá trị xã hội của biểu tượng hoa sen
trong mỹ thuật của người Việt ở Nam Bộ
3.2.1. Tính thực tế trong ý niệm thiêng liêng của biểu tượng
hoa sen trong mỹ thuật người Việt ở Nam Bộ
Ý niệm thiêng liêng hàm chứa trong biểu tượng hoa sen là ý niệm
thiêng liêng kép: vừa là ý niệm thiêng liêng của biểu tượng Phật giáo
vừa là ý niệm thiêng liêng của biểu tượng tín ngưỡng.

hành theo tín lý Phật giáo như: hành thiện, tránh ác, giữ tâm trong
sạch…
Điều này có nghĩa là hạt nhân từ bi hàm chứa trong biểu tượng
hoa sen không chỉ biểu thị các ý nghĩa của tư tưởng Phật giáo, mà còn
hướng con người vươn tới các giá trị cái đẹp trong đời sống của mình.
3.3. Biểu tượng hoa sen với kiểu tư duy sáng tạo trong mỹ
thuật của người Việt ở Nam Bộ
3.3.1. Khuynh hướng sáng tạo - linh hoạt - phóng khoáng
Khuynh hướng sáng tạo linh hoạt – phóng khoáng trong mỹ thuật
của người Việt Nam Bộ là kết quả của sự hòa nhập biểu tượng hoa
sen vào thực tế cuộc sống ở miền đất vốn được xem là cởi mở.
Chẳng hạn khi tạo hình Phật tượng, người Việt không hoàn toàn
bó chặt trong biểu tướng cao siêu, mà gắn với hình tướng con người,
phản ánh tâm hồn của con người. Nhờ vậy mà người Việt ở Nam Bộ
đã tạo nên các Phật tượng dù vẫn tuân thủ theo biểu tướng nhưng theo
cách của mình.
Do dó, các bình hiện bình diện biểu hiện của biểu tượng hoa sen
trong mỹ thuật của người Việt ở Nam Bộ đậm chất cảm thức của tâm
lý, thuận cảm của ngữ nghĩa hơn là theo khái niệm hình thể kiểu
“biểu tướng” của theo Phật giáo hay quy chuẩn của cơ thể học.

3.3.2. Chủ đề biểu hiện - tiếp biến - dung hợp
Chủ đề biểu hiện của biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật của
người Việt ở Nam Bộ luôn diễn ra trong quá trình tiếp xúc - giao lưu
với với ba đặc điểm chính:
(1) Sự thay đổi quan niệm khi tiếp xúc với các yếu tố ngoại lai.
(2) Sự tiếp nhập có chọn lọc qua điều kiện kinh tế, chính trị và văn
hóa. (3) Thể hiện mọi sự tiếp nhận thành bình diện mỹ thuật theo
cách của mình với các cấp độ phong phú, tiến bộ hơn.
Ba đặc điểmhông điệp chìm khuất trong biểu tượng hoa sen ở

biểu tượng hoa sen mang lại là sự thăng hoa của các giá trị văn hóa nghệ thuật của một biểu tượng tôn giáo (Phật giáo). Tính hữu cơ giữa
giá trị văn hóa - nghệ thuật của biểu tượng tôn giáo (Phật giáo) thể
hiện ở chỗ các giá trị biểu tượng trong sự thăng hoa của mình gia
nhập vào các giá trị xã hội góp phần làm nên giá trị nghệ thuật.
Trong đó, lớp nền văn hóa của người Việt có khả năng dung hợp
các biểu tượng ngoại lai và biến chúng thành cái riêng trong mỹ thuật
của mình là một yếu tố góp phần không nhỏ trong việc tạo nên bản
lãnh sáng tạo.


21
Bản lãnh sáng tạo đã tạo nên biểu tượng hoa sen của người Việt ở
Nam Bộ có sự khác biệt với các bình diện truyền thống dù thấp
thoáng trong đó vẫn có “chất” của biểu tượng hoa sen từ quê cũ
3.4.2. Quan niệm thực tế trong thể hiện biểu tượng hoa sen
Đó là quan niệm nhìn cuộc sống với tinh thần lạc quan, thoáng
đãng, khoan hòa, dễ dàng quên đi những bất hạnh, hiềm khích để
sống yên vui.
Trong mỹ thuật của người Việt ở Nam Bộ, quan niệm này được
thể hiện trong bình diện biểu hiện của biểu tượng hoa sen đậm chất
thực tế sinh động thông qua việc bài trí Phật – thần trong điện thờ
càng nhiều càng tiện dụng cho việc cầu khấn; hoặc các đề tài mang
tính nhập thế dưới nhiều khía cạnh khác nhau;
Biểu tượng hoa sen dù là biểu tượng tôn giáo, nhưng nội dung mà
biểu tượng hoa sen biểu thị luôn mang đậm hơi ấm của cuộc sống thế
giới con người, chứ không phải là những tín điều xa xôi.
3.4.3. Nhân tố giáo dục trong biểu tượng hoa sen
Nhân tố giáo dục trong biểu tượng hoa sen của người Việt ở Nam
Bộ vừa là thuộc tính, vừa là một phức thể bao hàm các phương diện
của các giá trị thẩm mỹ - nghệ thuật - luân lý - đạo đức… ẩn chứa



23

KẾT LUẬN
Thế giới biểu tượng ra đời, hầu như có mặt trong toàn bộ cuộc
sống của con người. Mọi vật, từ vật tự nhiên hình vẽ, màu sắc; cho
đến hành vi, tư tưởng, khuynh hướng… đều có thể trở thành biểu
tượng. Và khi trở thành biểu tượng, chúng luôn hàm xúc sự gợi cảm,
năng động và tự sinh bằng cách cộng vào đó các ngữ nghĩa quy ước
hiển nhiên lẫn mở rộng của chúng.
Trong mỹ thuật, biểu tượng có đời sống riêng, vừa gắn với giá trị
nghệ thuật, vừa gắn với giá trị văn hóa - xã hội mà chủ thể sáng tạo
đã sử dụng từ đó để sáng tạo nên bình diện của mỹ thuật.
Dưới góc độ Ký hiệu học, bình diện biểu hiện của biểu tượng
trong mỹ thuật là loại ký hiệu đa nghĩa. Do đó, bình diện của biểu
tượng tuy được thể hiện bằng phương thức nghệ thuật, nhưng chúng
vẫn là cái tượng trưng. Còn bình diện mỹ thuật là cái đã hoàn chỉnh
về mặt thẩm mỹ, không thể bổ sung hay thêm bớt.
Với ý nghĩa đó, biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật của người Việt
ở Nam Bộ biểu thị nhiều nội dung khác nhau. ngoài giá trị nghệ thuật
còn là các giá trị lịch sử - văn hóa – xã hội mà các thế hệ người Việt
đã ký thác vào đó.
Dưới góc độ cấu trúc có thể quy các nội dung mà biểu tượng hoa
sen biểu thị thành hai nhóm: nội dung mang tính tôn giáo (Phật giáo)
tín ngưỡng và nội dung mang tính thế tục gắn liền với thực tế đời
sống
Điểm căn bản của nhóm nội dung mang tính Phật giáo là niềm tin
về đấng thiêng liêng. Ở đó, Đức Phật như đấng quyền năng vừa làm
nên sự linh thiêng của thần thánh, vừa có khả năng chi phối đời sống

quan niệm thực tế và nhân tố giáo dục trong các bình diện biểu hiện
của biểu tượng hoa sen.
Biểu tượng hoa sen, do vậy, không chỉ là sự tích tụ các giá trị thẩm
mỹ từ góc độ trực quan, mà còn ẩn chứa khả năng của dạng hoạt động
sáng tạo và kết quả của hoạt động đó chỉ ra kiểu tư duy biểu tượng
của người Việt ở Nam Bộ.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status