ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
***___▼▲▼___***
ĐÀO THANH THUỶ
DIỆN MẠO PHỐ CỔ HÀ NỘI NỬA ĐẦU
THẾ KỶ XX QUA TƯ LIỆU ĐỊA CHÍNH
(Trường hợp ô phố: Hàng Bạc - Mã Mây - Tạ Hiện - Lương Ngọc Quyến) LUẬN VĂN THẠC SỸ
HÀ NỘI - 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN VIỆT NAM HỌC VÀ KHOA HỌC PHÁT TRIỂN
1. Lí do chọn đề tài 3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3. Mục tiêu nghiên cứu 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 9
6. Bố cục của luận văn 10
Chƣơng 3: Không gian tín ngƣỡng phố cổ Hà Nội qua tƣ liệu địa chính (ô
phố: Hàng Bạc - Mã Mây - Tạ Hiện - Lƣơng Ngọc Quyến) 11
CHƢƠNG 1 DIỆN MẠO PHỐ CỔ HÀ NỘI TRƢỚC THẾ KỶ XX 12
1.1. Khu phố cổ Hà Nội trƣớc thế kỷ XIX 12
1.2. Khu phố cổ Hà Nội trong thế kỷ XIX 18
1.2.1. Khu phố cổ Hà Nội từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1873 18
2.1.2. Khu phố cổ Hà Nội trong thời kỳ thực dân 22
1.3. Tiểu kết chƣơng 1 32
CHƢƠNG 2 34
DIỆN MẠO PHỐ CỔ HÀ NỘI NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 34
QUA TƢ LIỆU ĐỊA CHÍNH 34
2.1. Nguồn tƣ liệu địa chính 34
2.1.1. Tư liệu địa chính tại Sở Tài nguyên - Môi trường và Nhà đất Hà
Nội 34
2.1.2. Tư liệu địa chính Hà Nội tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I thuộc
Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước 37
2.1.3. Hàng Bạc - Mã Mây - Tạ Hiện - Lương Ngọc Quyến 38
2.2. Vài nét về lịch sử hình thành và phát triển của ô phố Hàng Bạc - Mã
Mây - Tạ Hiện - Lƣơng Ngọc Quyến 39
2.2.1. Phố Hàng Bạc 39
2.2.2. Phố Mã Mây 41
2.2.3. Phố Tạ Hiện 43
2.2.4. Phố Lương Ngọc Quyến 43
2.3. Diện mạo phố cổ Hà Nội nửa đầu thể kỷ XX qua tƣ liệu địa chính (ô
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Hà Nội 36 phố phường
Hàng Gạo, Hàng Đường, Hàng Muối trắng tinh
Nói tới Hà Nội không thể không nhắc tới khu phố cổ, với cái tên gắn liền
với người Hà Nội - “36 phố phường” - một không gian lịch sử mà bề dày thời gian
tính bằng thiên niên kỷ, một di sản văn hóa có giá trị về nhiều mặt. Phố cổ là nơi
bảo lưu ký ức, một yếu tố nhân lõi tạo nên diện mạo phản chiếu tinh thần người
Hà Nội. Khu phố có mặt bằng tựa hình lá cây với trục chính là dãy phố Hàng Đào
chạy thẳng tới chợ Đồng Xuân. Hai “phiến lá cây” là các đường phố nhỏ tỏa ra hai
bên, về phía Đông kéo dài tới đê sông Hồng, phía Tây đến sát khu Thành cổ.
Có khu phố cổ, hệ thống di sản văn hóa ở Hà Nội trở nên độc đáo, phong
phú hơn, vị thế của Hà Nội càng đặc biệt hơn so với các thành phố khác trong khu
vực và trên thế giới. Đó là yếu tố quan trọng tạo thành bản sắc Hà Nội, kích thích
sự phát triển du lịch và tăng trưởng kinh tế.
Trong những năm gần đây, với đà phát triển kinh tế của đất nước, quá trình
đô thị hóa ở Hà Nội gia tăng mạnh mẽ. Trong bối cảnh ấy, các đô thị cổ Việt Nam
nói chung và khu phố cổ Hà Nội nói riêng bị đe dọa bởi đô thị hóa và sự quá tải về
mật độ dân cư. Hình ảnh khu phố cổ Hà Nội khoảng 10 năm trước, chưa nói là
hàng trăm năm trước, đã khác xa so với hiện nay. Nó không chỉ thay đổi về diện
mạo mà còn khác biệt về lối sống, hoạt động sản xuất kinh doanh, sinh hoạt văn
hóa - xã hội, tổ chức không gian nhà ở, đường phố, khu phố…
Có thể nói, từ thực tế lịch sử, con người và thời gian đã có những tác động
William Dampier, Alexandre De Rhodes Vào những năm cuối thế kỷ XIX và
đầu thế kỷ XX, đi cùng với đoàn quân Pháp xâm lược là một số nhà nghiên cứu
người Pháp đã dành nhiều thời gian ghi chép, khảo cứu về Hà Nội. Đáng chú ý là
Ch.Labarthe với Hà Nội - thủ đô của Bắc Kỳ (1883); G.Doumoutier với Các ngôi
chùa Hà Nội (1887); Hà Nội - thủ đô của Bắc Kỳ (J.Boissiere, 1894); Hà Nội và
vùng phụ cận (Cl.Madrolle, 1912), Hà Nội 1873-1888 (André Masson)… Những
khảo cứu của các tác giả người Pháp đã định vị hình ảnh đô thị Hà Nội trước khi
có những đổi thay quan trọng của quá trình đô thị hóa được tiến hành vào những
năm cuối cùng của thế kỷ XIX, diễn ra mạnh mẽ vào đầu thế kỷ XX dưới chính
sách quy hoạch của người Pháp.
Nửa đầu thế kỷ XX, để phục vụ cho nhu cầu quy hoạch và xây dựng Hà
Nội thành “thủ phủ của liên bang Đông Dương”, Sở kiến trúc Đông Dương do
Ernest Hébrard
1
đứng đầu, sau đó là Louis Georges Pineau đã tiến hành nghiên
cứu các đặc trưng trong cấu trúc không gian đô thị, từ đó tiến hành tổ chức phân
vùng chức năng đô thị cho phù hợp với nhu cầu thống trị của người Pháp ở Đông
Dương. Cùng thời gian này, những nghiên cứu của cá nhân như L.Bezacier, Trần
Huy Bá, Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm có những giá
trị tham khảo nhất định về Hà Nội.
b) Từ 1945 đến nay
Trong những thập kỷ 50 đến 70 của thế kỷ XX, hướng nghiên cứu Hà Nội
tiếp tục được triển khai bằng việc quan tâm khảo cứu tên phố, vị trí các di tích
hiện tồn với nhiều hướng tiếp cận khác nhau. Hướng tiếp cận từ nguồn sử liệu
vật thật, khảo cứu các di tích, di vật khảo cổ ở Hà Nội thể hiện trong các công
trình của giáo sư Trần Quốc Vượng như: Xác định địa điểm Đông Bộ Đầu (1965),
Bàn thêm về thành Thăng Long thời Lý Trần (1965); các công trình của Trần Huy
Bá như Vị trí Thăng Long đời Lý (1959), Vị trí phủ chúa Trịnh (1960), Nội thành
Thăng Long đời Lý (1966) Trần Văn Giáp có bài Tìm hiểu kho tàng Hán Nôm
Hà Nội (1970); Hoa Bằng tiếp cận Hà Nội qua sử liệu và văn học dân gian với các
Đa và gò Đống Đa (1989), Tìm về bản sắc văn hóa dân tộc của văn hóa Hà Nội
(1993), Hà Nội nghìn xưa những nghịch lý của phát triển (1994)
Những kết quả khảo cổ học tại Đoan Môn, Hậu Lâu, đường Hoàng Văn Thụ,
đường Trần Phú góp phần tích cực giúp cho việc nghiên cứu các di tích lịch sử
trong khu phố cổ Hà Nội. Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu về Hà Nội cũng
đã được xuất bản hoặc tái bản lại. Đáng chú ý là công trình Làng nghề, phố nghề
Thăng Long Hà Nội (Trần Quốc Vượng và Đỗ Thị Hảo chủ biên, 2000), Di tích lịch
sử văn hóa trong khu phố cổ và xung quanh Hồ Hoàn Kiếm (Sở VHTT Hà Nội,
2002), Địa bạ cổ Hà Nội (huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận) (Phan Huy Lê chủ biên,
Nxb Hà Nội 2005, 2008) Trong số những công trình này, chúng ta không thể
không nhắc đến công trình khảo sát thực địa tương đối quy mô Hà Nội nửa đầu
thế kỷ XX của Nguyễn Văn Uẩn. Bộ sách gồm 3 tập, xuất bản năm 1995 và tái bản
năm 2000. Đây là bộ sách viết về lịch sử Hà Nội trong 50 năm đầu của thế kỷ XX,
trong đó nghiên cứu khá cụ thể về lịch sử khu phố cổ.
Đồng thời, nhiều luận án tiến sĩ nghiên cứu về Hà Nội cũng đã được thực
hiện như Thăng Long - Hà Nội thế kỷ 17 - 19 (diện mạo kinh tế, xã hội của một
thành thị trung đại Việt Nam) (Luận án Phó Tiến sĩ Lịch sử của Nguyễn Thừa Hỷ,
năm 1985, xuất bản năm 1993), Một số định hướng quy hoạch cải tạo phố cổ Hà
Nội (Luận án Tiến sĩ khoa học kỹ thuật của Tô Thị Toàn, năm 1997)
Di sản kiến trúc Pháp ở Đông Dương, đặc biệt là Hà Nội cũng được nghiên
cứu nhằm tìm hiểu những ảnh hưởng của kiến trúc, mô típ trang trí, cách thức tổ
chức không gian làm việc, sinh hoạt, công cộng tới diện mạo kiến trúc Hà Nội
trong thế kỷ XX. Đáng chú ý là công trình Hà Nội - chu kỳ của những đổi thay,
hình thái kiến trúc và đô thị là tập hợp các bài nghiên cứu của các kiến trúc sư
người Pháp và Việt Nam đã bổ khuyết lĩnh vực này của Hà Nội.
Ngoài ra, nhiều Hội thảo khoa học về Bảo tồn, tôn tạo phố cổ Hà Nội được tổ
chức, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.
Trong những công trình của các học giả nước ngoài gần đây, đáng chú ý là
tác giả Philippe Papin với Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Ấn Độ và Viễn Đông: Des
“villages dans la ville” aux “villages urbains”. L’espace et les formes du pouvoir
phông tư liệu khác như Phông Sở địa chính Hà Nội, Phông Toà đốc lý Hà Nội và
các tài liệu khác nhằm dựng lại diện mạo phố cổ Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX.
3.2. Điều tra, khảo sát thực địa, đánh giá thực trạng 4 phố Hàng Bạc, Mã
Mây, Tạ Hiện, Lương Ngọc Quyến hiện nay trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và quy hoạch tổng thể bảo tồn và tu tạo khu phố cổ Hà Nội, cùng với tư
liệu về quản lý địa chính hiện tại để thấy sự biến đổi về diện mạo của phố cổ so
với những năm đầu thế kỷ XX.
3.3. Tìm ra những nét đặc trưng, những dấu ấn đặc biệt tạo nên điểm nhấn
cho khu phố cổ, từ đó đề xuất định hướng, giải pháp cơ bản cho việc bảo tồn, tôn
tạo, nhằm phát huy tác dụng của di sản văn hóa Thủ đô trong giai đoạn hiện nay,
tiến tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là diện mạo phố Hàng Bạc -
Mã Mây - Tạ Hiện - Lương Ngọc Quyến. Luận văn nghiên cứu các vấn đề về sở
hữu nhà đất nửa đầu thế kỷ XX, quy mô và cơ cấu đất đai, quy hoạch và bố trí
không gian, giá trị kiến trúc (di tích, nhà cổ)…Nhìn chung, đó là tất cả các yếu tố
có liên quan đến không gian sản xuất, không gian xã hội, không gian kiến trúc,
không gian tâm linh…
4.2. Phạm vi nghiên cứu là ô phố: Hàng Bạc - Mã Mây - Tạ Hiện - Lương
Ngọc Quyến. Đây là một ô phố mang tính đặc trưng về dân cư, văn hóa và kinh tế
với một quy mô không quá lớn và cũng không quá nhỏ cả về diện tích lẫn số dân;
có điều kiện thuận lợi về nhiều mặt. Vị trí của 4 phố tạo thành một ô phố tương
đối khép kín. Mục đích của nghiên cứu nhằm “đạt tới những tri thức tổng hợp về
một không gian, trong đó mối liên hệ mật thiết giữa các lĩnh vực hoạt động của
con người và quan hệ tương tác giữa con người và điều kiện tự nhiên được nghiên
cứu một cách đầy đủ. Khu vực học đòi hỏi phải nghiên cứu toàn diện và hệ thống
tất cả các vấn đề trong khu vực như địa hình, địa vật, môi trường sinh thái, lịch sử
hình thành và phát triển của con người, cộng đồng, các đặc điểm đời sống kinh tế,
văn hoá, xã hội, tín ngưỡng nghĩa là tất cả các đặc điểm của tự nhiên và của đời
sống con người trên vùng đất đó”[22; 80].
thấy được mối liên hệ giữa định lượng và định tính, qua đó kết quả rút ra sẽ có khả
năng thuyết phục hơn bởi những con số cụ thể đã được xử lý.
Phương pháp mô tả lịch sử được xây dựng trên những cứ liệu có tính chất
đương thời nhằm tái hiện những hình ảnh của khu vực, nhằm mang đến cho người
đọc những hình dung, cụ thể hoặc tương đối về đối tượng nghiên cứu là ô phố
Hàng Bạc, Tạ Hiện, Lương Ngọc Quyến, Mã Mây.
Ngoài ra, một trong những phương pháp quan trọng nữa phải kể đến đó là
phương pháp thực địa. Phương pháp này nhằm mục đích nhận thức toàn thể trên
cơ sở quan sát cảnh quan và tiếp xúc với địa bàn, đối tượng nghiên cứu.
6. Bố cục của luận văn
Cùng với Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung chính
của luận văn tập chung vào 3 chương:
Chương 1: Diện mạo phố cổ Hà Nội trước thế kỷ XX
Chương 2: Diện mạo phố cổ Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX qua tư liệu địa
chính (ô phố: Hàng Bạc - Mã Mây - Tạ Hiện - Lương Ngọc Quyến)
Chương 3: Không gian tín ngưỡng phố cổ Hà Nội qua tư liệu địa chính (ô
phố: Hàng Bạc - Mã Mây - Tạ Hiện - Lương Ngọc Quyến)
CHƢƠNG 1
DIỆN MẠO PHỐ CỔ HÀ NỘI TRƢỚC THẾ KỶ XX
1.1. Khu phố cổ Hà Nội trƣớc thế kỷ XIX
Nằm trong vùng trung tâm của Thăng Long - Hà Nội, phố cổ có lịch sử
hình thành và phát triển gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của Thăng
Long - Hà Nội. Lịch sử của Thăng Long - Hà Nội được bắt đầu từ một cộng đồng
tụ cư quanh ngã ba sông Tô Lịch - Nhĩ Hà. Với vị trí đường thủy thuận lợi, vùng
đất hợp lưu giữa “đất và nước” nhanh chóng trở thành một khu vực đông đúc, kinh
đô của nước Vạn Xuân thế kỷ VI thời Lý Nam Đế, thủ phủ của chính quyền đô hộ
nhà Đường (thế kỷ VI, VII đến thế kỷ IX). Trải qua thời gian và những biến
phối sự phát triển Hà Nội trong lịch sử, trước hết là sự tập hợp và chuyển hóa một
số lượng nhất định các làng nghề thủ công và nông nghiệp truyền thống ở ngoại ô
bao quanh. Và “nếu thành phần thứ nhất chi phối sự phát triển đô thị bởi giá trị
biểu tượng quyến rũ, thì thành phần thứ hai, bởi tính hấp dẫn của các hoạt động
sinh tồn” [76; 19].
Hoàng thành - biểu tượng của quyền lực phong kiến - từng là một yếu tố cơ
bản như điểm nhấn chế ngự không gian thành phố với những dãy tường thành,
những cung điện dinh phủ nguy nga. Bên trong Hoàng thành là nơi tập trung chính
quyền trung ương quan trọng nhất, là nơi ở của vua và hoàng tộc với tên gọi Cấm
thành. Từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX, trải qua các triều đại trong lịch sử, Hoàng
thành được xây dựng kiên cố rồi tu sửa, xây đắp nhiều lần với nhiệm vụ đảm bảo
an ninh và đề cao quyền lực của vua chúa phong kiến. Với tư cách là nơi tập trung
quyền lực cao nhất của vương triều, Hoàng thành đã ảnh hưởng trực tiếp tới sự
phát triển của toàn bộ thành phố bởi chính giá trị biểu tượng quyền lực tập trung
tạo nên dạng bố cục đặc trưng của đô thị phong kiến Việt Nam.
Khu phố buôn bán truyền thống mà ngày nay gọi là khu vực “36 phố
phường” là một bộ phận khá tách biệt với khu thành hành chính quan liêu. Nằm ở
phía đông Hoàng thành, khu vực này trải dài từ cổng thành phía đông tới sát bờ
sông Hồng. Đây là một trung tâm kinh tế mà thương mại đóng vai trò quan trọng
hơn sản xuất (thủ công nghiệp). Dưới góc độ tổ chức hành chính và quy hoạch
không gian, khu 36 phố phường ứng với hai yếu tố tạo nên tên gọi truyền thống
của nó, đó là phố và phường. Yếu tố thứ hai được coi là một đơn vị cơ bản đặc
trưng của một xã hội đô thị truyền thống Việt Nam. Năm 1230, nhà Trần chia đặt
61 phường, nhưng không có tư liệu nào ghi chép lại các phường đó. Một số ghi
chép trong sử biên niên cho biết tên một số phường như: Giang Khẩu, Kim Cổ,
Khúc Phố, Đông Hà Các phường này tập trung ở khu đông và khu tây của thành
Thăng Long với các nghề thủ công như dệt, nhuộm, gốm, sứ, đúc đồng, mộc
Khu phố cổ là khu vực dân cư đông đúc với các hoạt động thương mại tấp nập
nhất của Kinh thành Thăng Long thời đó. Cửa Đông Hoàng thành thời Lý, Trần
mở ra khu vực buôn bán - là điểm nối kết các khu vực trong thành với khu kinh tế
chợ ở Thăng Long thế kỷ XVII - XVIII được Samuel Baron miêu tả: “vào ngày 1
và 15 âm lịch, tức ngày của phiên chợ họp, dân chúng những làng lân cận túa đến
với vô số hàng hóa đủ loại. Nhiều đường phố khang trang rộng rãi, khi ấy cũng kẹt
cứng người đi lại, đôi khi mất cả nửa giờ mới tiến len lỏi được trăm bước. Mọi
loại hàng hóa đem bán nơi đây đều có đường phố dành riêng cho từng thứ. Mỗi
phố là nơi độc quyền mở cửa hàng của một hay nhiều làng nghề giống nhau, tổ
chức y như hội buôn hay nghiệp phường của Âu châu vậy” [30; 16].
Thăng Long nằm giữa vùng đồng bằng đông dân, trù phú, lại ở vào vị trí
đầu mối của những đường giao thông trọng yếu, đặc biệt là hệ thống sông ngòi
thuận tiện nên sự giao lưu buôn bán giữa kinh thành Thăng Long với các địa
phương ngày càng chặt chẽ. Việc buôn bán trên sông Hồng lúc ấy rất nhộn nhịp.
Giáo sĩ Marini đã từng sống ở kinh thành Thăng Long vào đầu thế kỷ XVII, có
viết: “Sông bọc lấy thành thị (Thăng Long) trong một khuỷu rộng, nên việc buôn
bán được dễ dàng, thuyền bè luôn luôn đi lại trên sông cho nên việc chuyên chở
các hàng hóa và làm cho việc buôn bán giữa các tỉnh ngoài với kinh thành được
thuận tiện” [53; 72]. Sông Tô Lịch và khu vực cửa sông thông với sông Hồng
cũng là nơi thuyền bè buôn bán ra vào tấp nập. Thăng Long - Kẻ Chợ là trung tâm
buôn bán của các tuyến đường dài trong nước, nối liền trung tâm Thăng Long với
vùng thượng du, vùng Thanh Nghệ, Phố Hiến Từ đó, các mặt hàng như gạo,
muối đã được đưa lên mạn thượng du, ngược lại các mặt hàng trâu, bò, lâm sản
được đưa xuống Kẻ Chợ. Sự phát triển của kinh tế hàng hóa, chủ yếu là ở các trấn
xung quanh, một mặt đã đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của kinh đô, mặt khác
tạo tiền đề kinh tế để duy trì và thúc đẩy sự phồn vinh của Thăng Long trong quá
trình phát triển ở các thế kỷ sau.
Vị thế thuận lợi của Thăng Long đã khiến kinh kỳ trở thành một trung tâm
hấp dẫn đối với các địa phương xung quanh, đặc biệt là các làng thủ công nghiệp
và các vùng phụ cận, dẫn đến nhiều đợt di cư lớn đến đây. Trong 2 thế kỷ XVII -
XVIII, số lượng người di cư từ các vùng miền xung quanh ra Thăng Long - Kẻ
Chợ ngày một tăng lên. Họ phần lớn là những thương nhân, thợ thủ công mang
theo kỹ thuật và công cụ sản xuất, lên định cư tập trung ở một phố phường, làm
Sự xuất hiện và tồn tại trong vài chục năm của các thương điếm của Công
ty Đông Ấn Hà Lan (1645 - 1700), Công ty Đông Ấn Anh (1683 - 1697) ở Thăng
Long (được xây dựng trên bờ sông Nhị phía ngoài thành Đại La, khoảng phía nam
chân cầu Long Biên hiện nay, ngay trước khu phố cổ) như một đại lý thu mua
nguyên liệu và hàng hóa, đã đóng một vai trò kích thích, thúc đẩy các luồng hàng
hóa từ các địa phương thuộc tứ trấn chuyển về Kinh thành. Hai mặt hàng quan
trọng được các thương nhân ngoại quốc quan tâm hàng đầu là tơ sống và các loại
lụa.
Diện mạo của các phố thế kỷ XVII - XVIII được mô tả “những đường phố
chính ở Kẻ Chợ đều rất rộng rãi cho dù có một vài con đường chật hẹp” [101; 25].
Những con đường này “phần lớn đều được lát đá hay đúng hơn là rải những hòn
đá nhỏ nhưng rất cẩu thả. Về mùa mưa các phố này rất lầy lội và ngay cả trong
mùa khô cũng có rất nhiều ao tù và các hố tràn đầy một thứ bùn đen tỏa mùi rất
khó chịu trong thành phố” [101; 25].
Quay mặt ra phố là những dãy nhà liền sát nhau, Dampier đến Kẻ Chợ vào
năm 1688 đã ước tính “Kẻ Chợ có khoảng gần 20.000 nóc nhà” [101; 25]. Những
ngôi nhà này thường “thấp, tường trát bùn và mái lợp rơm. Tuy vậy, cũng có một
số ngôi nhà xây bằng gạch và lợp ngói. Phần lớn các ngôi nhà này có một khoảnh
sân hoặc một khoảng trống phía sau nhà” [101; 25].
Vì chủ yếu là nhà lợp mái rơm nên rất thường xuyên xảy ra hỏa hoạn, đặc
biệt là trong những khu phố đông dân, nhà cửa san sát. Do vậy, tất cả mọi nhà ở
đây đều xây một cái vòm cuốn trong khoảnh sân, cao khoảng gần 2m và cửa nằm
ngay sát mặt đất và “được làm bằng gạch, mở từ trên xuống dưới và bốn bên đều
trát bùn đất…công dụng của chiếc lò này để chứa những đồ quý giá khi xảy ra hỏa
hoạn” [101; 25].
Có thể nói, thế kỷ XVII - XVIII là thời kỳ Thăng Long chứng kiến và đón
nhận sự bùng nổ về dân cư, sự phát triển mạnh mẽ của các nghề thủ công truyền
thống, sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa cũng như quan hệ ngoại thương. Đó
cũng là thế kỷ bước ngoặt, thể nghiệm và thử thách của xã hội Đại Việt nói chung
và của Thăng Long - Kẻ Chợ nói riêng khi tiếp xúc và ứng xử với sự xâm nhập
cũng như chất lượng hàng hóa được sản xuất ra ngày càng nhiều và tinh xảo. Đại
Nam nhất thống chí ghi: “Thành thị là nơi tụ họp công thương, có lẫn cả người
nước Thanh, tập tục thích xa hoa…nguyên trước có 36 phố phường, nay ở quanh
phía đông nam tỉnh thành gồm 21 phố, nhà ngói như bát úp, tụ họp các mặt hàng,
nhân vật cũng phồn thịnh” [25; 165]. Trong thế kỷ XIX, khu phố buôn bán đón
nhận sự xuất hiện đông đảo của tầng lớp thương nhân Hoa Kiều. Không gian sinh
hoạt cũng như hoạt động buôn bán của tầng lớp thương nhân Hoa Kiều đã mang
lại cho ta những cái nhìn đối sánh, khác biệt giữa hai khu phố Tàu và khu phố An
Nam. Điều đó, phần nào tạo nên sự đa dạng trong diện mạo của khu phố buôn bán
ở thời điểm này.
Khu phố buôn bán được bảo vệ bởi hệ thống tường vây hoặc các cổng chia
cắt nhỏ các phố ra. Bác sĩ Hocquard đã viết: “Các phố Hà Nội hoàn toàn ngăn
cách nhau bởi những chiếc cổng lớn choán hết chiều ngang phố và được đóng lại
vào ban đêm. Hai bên cổng dán các thông báo của lính tuần và lệnh của tổng đốc”
[2; 104]. Và ông cũng đã mô tả khá chi tiết về những chiếc cổng này: “Một bức
tường đá chạy ngang từ bên này sang bên kia phố. Trên bức tường đó trổ ra một
chiếc cửa hình chữ nhật bao quanh bởi bốn thanh gỗ vững chắc đẽo vuông. Thanh
trên và thanh dưới của chiếc khung đó khoét những lỗ cách đều nhau dùng để tra
những thanh gỗ tròn thẳng đứng song song nhau. Các lỗ ở trên khá sâu để có thể
kéo các gióng từ dưới lên vừa đủ để đầu dưới thoát ra lấy lối cho mọi người qua”
[2; 104-105]. Cổng của các khu phố Tàu “được khoét lỗ châu mai giống như ở các
tường thành. Các cổng này cực kỳ vững chắc và người ta bố trí ở phía trên một
hành lang nhỏ cho người canh gác. Một khi các cổng này đóng lại thì không thể
nào vào được các phố Tầu” [2; 105]. Các cổng phố này là một phần có tác dụng
bảo vệ an ninh trật tự cho khu phố, kiểm soát và hạn chế việc đi lại một cách có
hiệu quả. Mặt khác, nó cũng chính là những hàng rào hữu hình, khuôn việc sản
xuất và buôn bán của từng phường vào một khu vực nhất định, làm cản trở các
hoạt động giao lưu và trao đổi hàng hóa trên quy mô toàn khu vực.
Về đường phố “nói chung khá hẹp, được lát theo kiểu Tàu, tức là chỉ lát
phần giữa đường trên một chiều rộng khoảng một mét và những viên gạch lát
Một số gia đình khá giả nếu xây thêm tầng lầu thì phải tuân thủ những nguyên tắc
nghiêm ngặt của triều đình lúc đó là không trổ cửa sổ ở mặt tiền ngôi lầu. Trong
bài ghi chép Từ Paris đến Bắc Kỳ, Paul Bourde đã viết về khu phố của Hà Nội vào
năm 1884: “Các khu phố cổ, theo các tục lệ nước Nam, vẫn giữ được diện mạo
thật đặc biệt: luật pháp đi tới mức cấm trổ cửa quay ra mặt phố nơi có thể một
ngày nào đó ông ta (nhà vua) đi qua. Không chỉ cấm không cho trổ cửa ở mặt tiền
các tầng lầu mà luật còn bắt phải che các mặt tiền bằng các mái hiên chìa ra khiến
bề rộng của chúng sẽ thu hẹp lại lối đi, làm cho khúc đường hẹp bị nghẽn lại, và
nơi ấy đôi khi khó có thể qua lại được bằng ngựa” [18; 30].
Về cách thức trang trí của ngôi nhà, Paul Bourde mô tả: “Những mặt tiền
chật hẹp của các ngôi nhà chen chúc kề cận nhau; những mặt tiền đó được viền bởi
các bức tường xây giật cấp dựng trên các mái và được tô điểm bởi các trang trí
cành hoa lá. Những cửa ô to hoành tráng có hai hoặc ba mái uốn cong chắn lối ra
vào các phố chính mà tên phố được ghi bằng chữ Hán trên trán tường. Những chữ
Hán khác kề sát nhau trên những khung cửa, biểu đạt ước nguyện hay những lời
khuyên theo thị hiếu như sau: “dân chúng hãy yên tĩnh trong phố này” hoặc “nếu
dân yên tĩnh, chẳng cần phải đóng cổng nữa” [18; 32].
Bên cạnh những ngôi nhà xây gạch, những con đường lớn nhỏ ngang dọc -
biểu hiện đặc trưng của quy hoạch đô thị, của mức độ đô thị hóa, thì ngay tại khu
buôn bán - thủ công (khu phố cổ) người ta vẫn còn thấy nhiều dấu ấn đặc trưng
của nông thôn được duy trì. Điều đó được minh chứng bởi sự tồn tại của những
cây cổ thụ, những hàng tre, những hồ ao và cả những cột đá được dựng lên làm
mốc giới… Một vài ví dụ ghi chép trong địa bạ cổ Hà Nội có thể cho ta hình dung
về khung cảnh khu phố cổ giữa thế kỷ XIX:
Mô tả về giáp giới thôn Dũng Thọ (Hàng Bạc, Tạ Hiện):
Đông giáp… đường nhỏ thôn Gia Ngư và ao thôn Ngư Võng cùng quan
lộ…
Tây giáp… ao thôn Ngư Võng bản tổng và quan lộ…
Bắc giáp… địa phận ao thôn Ngư Võng bản tổng, lấy dân cư bản thôn dọc
theo bờ ao làm giới…[52; 63].
Trong khi chính quyền phong kiến tìm cách rời xa Hà Nội, thì ngay từ đầu
thời kỳ chiếm đóng, người Pháp đã chọn Hà Nội làm thủ đô không chỉ của riêng
miền Bắc mà của toàn cõi Đông Dương. Tầm quan trọng về vị trí chiến lược cũng
như tính tượng trưng nhờ vào lịch sử của thành phố, một kinh đô cổ kính, đã lý
giải tại sao người Pháp tiếp tục chọn Hà Nội làm trung tâm chính trị - hành chính
trong thời thuộc địa.
Năm 1873, đoàn quân của Francis Garnier khởi hành từ Nam Kỳ ra Bắc mở
đầu chiến dịch xâm thực Hà Nội. Phải mất 15 năm (1873 - 1888) với những tổn
thất nặng nề, thực dân Pháp mới thiết lập được sự thống trị ở Hà Nội. Bắt đầu từ
đây, thực dân Pháp tiến hành kế hoạch bình định và khai thác thuộc địa. Tại Hà
Nội, vào những năm cuối thế kỷ XIX, chính quyền thực dân Pháp bước đầu áp
dụng một số biện pháp xây dựng và quy hoạch thành phố. Trong giai đoạn này, Hà
Nội đã trải qua sự chuyển đổi từ thành lũy, phường thị phong kiến sang thành phố
quy hoạch kiểu châu Âu khiến cho bộ mặt đô thị có nhiều biến đổi.
Việc du nhập phương thức quy hoạch đô thị kiểu phương Tây cùng với
chính sách đô hộ đã dẫn đến sự hình thành một khu phố của người Pháp. Quá trình
này bắt đầu từ những hoạt động phá bỏ một số công trình quan trọng như thành
Vauban (1894 - 1897) và các công trình lịch sử khác quanh hồ Hoàn Kiếm (1883 -
1886). Trong những năm đó, người Pháp đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của Hà
Nội truyền thống. Trong cấu trúc đô thị Hà Nội đã dần dần hình thành những khu
chức năng riêng biệt: khu thương nghiệp, dịch vụ trung tâm trên trục đường Hàng
Khay; khu hành chính - chính trị ở phía đông hồ Hoàn Kiếm và trong khu thành
cũ; khu phố Pháp ở phía Nam hồ Hoàn Kiếm và các khu vực kho tàng, nhà máy
nằm rải rác trong thành phố; khu buôn bán thủ công vẫn là khu thương mại - dịch
vụ truyền thống.
Trong chính sách quy hoạch của người Pháp, khu vực “36 phố phường”
được bảo tồn, giữ nguyên để nhằm khai thác nguồn lợi kinh tế qua hệ thống thuế.
Tuy nhiên, thực dân Pháp cũng tiến hành một một số hoạt động quan trọng làm
biến đổi về cơ bản diện mạo của khu vực này.
Phá bỏ hệ thống tường thành
Pháp, phố Phùng Hưng được hình thành, song đến năm 1910 phố mới chỉ có hai
đoạn ngắn ở hai đầu phố phía bắc và phía nam tức là đã có nhà cửa và có cả ở hai
bên mặt đường, còn lại vẫn là bãi đất trống. Phải từ sau chiến tranh thế giới thứ
nhất, cùng với đà mở mang Hà Nội, phố Phùng Hưng mới được xây dựng nhanh
chóng. Đến năm 1920, diện mạo của phố Phùng Hưng được hình thành cơ bản.
Ngoài ra, khi cửa Chính Đông, tường thành và hào nước không còn, người
Pháp đã cho mở một con đường mới thẳng từ Cổng Tỉnh (chiếc cổng sắt lớn thay
cho Chính Đông Môn) ra khu phố cũ. Con đường mới này được đặt tên là Rue
Géneral Bichot (nay là phố Cửa Đông). Phố Cửa Đông có đặc điểm là “một đường
phố mới mở ở sát khu quân sự trong thành, lại là chỗ tường và hào cũ, nên đất ở
đây là đất công đem phát mại, chủ đất hầu hết là người Tây và một số người Hoa
Kiều làm giàu nhờ có Tây sang” [100; 823]. Con phố này tuy chỉ dài có vài trăm
mét nhưng mang bóng dáng của một khu phố Tây bởi “đường phố rộng rãi hiện
đại… đường có trải đá, có vỉa hè xây gạch, có cây bóng mát, có cống thoát nước
và có đèn đường” [100; 822] .
Như vậy, sau khi thành Hà Nội bị phá hủy, ngoài việc hình thành những
con phố mới như phố Phùng Hưng, phố Cửa Đông, Phạm Phú Thứ thì những
xóm nhà có sẵn cũng được cải tạo theo quy hoạch thành phố, đó là phố nhà Hỏa,
Cống Đục, Lò Rèn, Hàng Chai Các con phố này trở thành những khu phố mới,
xây dựng theo kiểu hiện đại (có vỉa hè, lòng đường, xây xanh, hệ thống cống rãnh
thoát nước ).
Dỡ bỏ cổng phố
Phố phường Hà Nội xưa là một không gian thuần nhất với nhà cửa hai bên
giữa là mặt đường bằng đất, lát gạch ở giữa và mỗi phường có các cổng ngăn cách
biên giới chạy suốt chiều ngang của phố. Cổng mở thông ban ngày và đóng kín vào
ban đêm. Đó là công trình mang dấu ấn của các làng quê, một công trình tự vệ, bao
trong đó không gian sống của một cộng đồng cùng chung quê quán, cùng chung
ngành nghề…Một mặt, nó đảm bảo an ninh trật tự; mặt khác, nó tạo ra tính khép
kín, hạn chế việc giao thương.
Khi người Pháp làm chủ Hà Nội, họ đã cho tiến hành phá dỡ hết các cửa ô