Làng xã thanh trì ( ngoại thành hà nội ) đầu thế kỷ XIX qua tư liệu địa bạ gia long 4(1805) - Pdf 51

MỤC LỤC




Trang
Mở đầu

2

Chương 1: Vài nét về địa bàn nghiẽn cứu

8

1.1. Vài nét về huyện Thanh Trì

8

1.2. Vài nét về nguồn tư liệu

17

Chương 2: Bức tranh khái quát làng xã Thanh Trì đầu thế kỷ
XIX qua địa bạ
2.1. v ể đơn vị hành chính - cộng đồng làng - xã

27
27

2.2. Quy mô làng xã



3.4. Hiện tượng phụ canh

64

Kết luận

67

Tài liệu tham khảo

69

Phụ lục

74


Mỏ ĐẦU

1. Hằng số của văn minh Việt Nam là nông thôn - nông nghiệp - nông
dân. Việt Nam hiện vẫn là một nước nông nghiệp. Đến nay, trên 75% dân số
Việt Nam vẫn là nông dân, hầu hết trong số đó đang sống ở khu vực nông
thôn, trong các làng xã, hoạt động kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp. Mục
tiêu phấn đấu mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra là đến năm 2020 Việt Nam
phải cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Như vậy, công nghiệp hoá, hiện
đại hoá là nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng Việt Nam trong thời gian tới,
trong đó công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn có một vị trí
cực kỳ quan trọng. Làng xã, nông dân, nông nghiệp, nông thôn vừa là chủ
thể, vừa là đối tượng của công cuộc cải biến lớn lao này.

cứu là huyộn Từ Liêm và một số làng xã xung quanh Hà Nội và đặc biệt là
lỉnh Th.íi Bình2.
ở miên Nam, học giả Nguyễn Đình Đầu và những cộng tác viên là
những người đầu tiên khai thác tư liệu địa bạ. Công viộc được bắt đầu từ
những năm tám mươi và hiện vẫn đang được tiếp tục. Địa bạ được khai thác
tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía nam và hiện đã có nhiều công trình nghiên
cứu có giá trị được công bố. Tuy nhiên cũng phải thấy một thực tế là, mặc dù
khối lượng địa bạ mà học giả Nguyễn Đình Đầu và các cộng tác viên khai
' Nguyên Đức Nghinh: Tình hình phân phối ruộng đất ở x ã M ạc Xú giữa hai thời điểm
1789 - ỉ 805, NCLS, số 157, 1974
2 Có thể kể: Tình hình phâ n p h ố i ruộng đất của thôn Đ ịnh C ông giữa hai thời điểm 1790 1805 (NCLS, số 161, 1975J,- v ề tải sản ruộng đất của m ột sô' chức dịch trong làng x ã
thuộc huyện T ừ Liêm vào cuối th ế kỷ XVỈỈỈ đẩu th ế kỷ XIX (NCLS, số 165, 1975J; Xã
Thượnệ P húc giữa hai thời điểm 1790 - 1805 (NCLS, số 173, \9 1 1 ); M ấ y tư liệu ruộng
đất công lùng x ã dưới triêu T ây Sơn (NCLS,sỗ 175, 1977J; Ruộng đất công miên Đ ông
Thái Bìnlị. vào những năm cuối th ế kỷ XVỈỈỈ đầu th ế kỷ XIX (NCLS, số 256, 1991); M ột s ố
tư liệu ruộng đất vùng K iến XiSơỉig - Thái bình m ẩy năm đầu thé kỷ XIX (NCLS, số 244,
1989 - viết chung với Nguyễn Thị Thanh Nhàn); M ấ y tư liệu ruộng đất Ở T húi N inh (Thái
B ình) cuối tliề kỷ XV III đầu th ế k ỷ X IX (NCLS, số 250, 1990 - viết chung với Bùi Thị Minh
Hiên)...

3


thác là rất lớn (hầu hết các làng xã từ Nam Bộ trở ra cho đến Trung Trung
Bộ), nhưng mới chỉ bao gồm những thông tin hết sức cơ bản, hay phần lớn
thông tin vẫn chưa được khai thác3.
Ngoài ra còn có một số học giả khác cũng chú ý khai thác và sử dung
tư liệu địa bạ trong các chuyên khảo của mình (như Trương Hữu Quýnh,
Nguyễn Cảnh Minh, Bùi Quý Lộ, Đào Tố Uyên, Nguyễn Hải Kế...). Gần đây
xu hướng của các nhà khoa học là ngày càng chú ý đến nguồn tư liệu này khi

Tuy nhiên, ngay cả với những nghiên cứu thuộc loại thứ nhất thì việc
khai thác địa bạ cũng mới chỉ dừng lại chủ yếu ở việc tìm hiểu về các quan
hộ sở hữu ruộng đất, trong khi đó tư liệu địa bạ có nội dung hết sức phong
phú. Đành rằng vấn đề đất đai là nội dung chủ yếu của địa bạ nhưng nếu khai
thác triột để nguồn tư liệu này chúng ta có thể vẽ lên bức tranh tương đối
toàn cảnh của các làng xã trên nhiều phương diện, nhất là có sự kết hợp khai
thác với các nguồn tư liệu khác. Đề tài khoa học này sẽ triển khai việc
nghiên cứu theo hướng trên.
Đối với trường hợp huyện Thanh Trì, bài viết Tình hình phân phối
ruộng đất của thôn Định Công giữa hai thời điểm 1790 - 1805 của Nguyễn
Đức Nghinh đến nay gần như vãn là nghiên cứu duy nhất được công bố khai
thác nguồn tư liệu địa bạ (thôn Định Công thuộc tổng Khương Đình huyện
Thanh Trì).
3.

Sưu tập địa bạ mà chúng ta hiện còn là hết sức phong phú, được lưu

trữ chủ yếu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Cục lưu trữ Nhà nước với
18.519 đơn vị, trong đó, tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm là 1.635 đơn vị, tại
Cục lưu trữ Nhà nước là 16. 844 đơn vị (chủ yếu tại Trung tâm lưu trữ quốc
gia I, Hà Nội). Có thể nói, phần lớn các làng xã được thành lập từ thế kỷ XIX
về trước đều có địa bạ.
Theo quy định của Nhà nước, khi lập địa bạ mỗi làng xã phải làm
thành ba bản (gọi là giáp, ất, bính). Bản giáp nộp cho triều đình, bản ất lưu
giữ ở trấn, tỉnh, bản bính do làng xã quản lý. Sưu tập địa bạ tại Viện Nghiên
cứu Hán Nôm hầu hết đều là những bản sao do Viện Viễn Đông bác cổ Pháp
tiến hành vào đầu thế kỷ XX từ các bản lưu tại địa phương (tỉnh hoặc làng
xã). Địa bạ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm cũng chỉ bao gồm các làng xã từ
Hà Tĩnh trở ra. Địa bạ tại Cục lưu trữ Nhà nước đều là những bản chính, là
bản giáp lưu trữ tại triều đình và phần lớn còn giữ lại được đến ngày nay (hầu

nghiên cứu, nhằm vào mục đích được xác định nêu trên, các phương pháp
nghiên cứu cụ thể sẽ được kết hợp sử dụng một cách linh hoạt.
5. Kết cấu công trình gồm 3 chương.
Chương I. Vài nét địa bàn nẹhìên cứu và nẹuầũ tư liệu
Chương II. Bức tranh làn ạ xã Thanh Trì dầu th ế kỷ XlXqua địa bạ

6


Chương III. C h ế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất và tình hình phân hoá
xã hội.
Công trình được hoàn thành với sự động viên thường xuyên của Ban
Chủ nhiộm khoa Lịch sử trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà
Nội, của TS Trần Kim Đỉnh, nguyên Trưởng phòng Khoa học trường Đại học
KHXH&NV, những ý kiến đóng góp về chuyên môn của GS Phan Đại Doãn,
PGS.TSKH Vũ Minh Giang, PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc. Nhân đây xin
được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc.
Hoàn thành công trình này các tác giả gặp không ít khó khăn, đặc biệt
là việc tiếp cận tư liệu (khối lượng tư liệu lớn, thông tin phong phú nhưng
phức tạp, lại phải chuyển từ chữ Hán sang chữ Việt...). Chúng tôi đã hết sức
cố gắng song chắc vẫn còn, và không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót, nhiều
hạn chế. Rất mong nhận được sự chỉ bảo và những ý kiến đóng góp của các
nhà khoa học.
Hà Nội, 10. 2002

Các tác giả

7



người Việt thời Tiền Lý. Đầm Mực gắn với truyền thuyết vể người học trò
thuỷ thần của thầy giáo nổi tiếng Chu Văn An thế kỷ XIV và gắn liền với
5 Nguyền Trãi: T oàn tậ p , Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976

8


chiến thắng vĩ đại của quân và dân Đại Việt trong trận đại phá Mãn Thanh
sáng mồng 5 Tết Kỷ Dậu (1789) dưới sự chỉ huy của anh hùng dân tộc
Quang Trung - Nguyẽn Huệ...
Vì có nhiều sông ngòi, hồ, đầm cho nên trong cơ cấu đất đai huyện
Thanh Trì công châu thổ và các loại đất bãi ven sông, loại công pha, công
pha trì chiếm một tỷ lệ đáng kể và vì thế nó cũng đóng một vai trò nhất định
trong đời sống cư dân, dù không phải làng xã nào cũng có các loại đất đai
trên.
Huyện Thanh Trì xưa có tên là Long Đàm. Tên gọi Long Đàm (Đầm
Rồng) - như nhiều người giải thích - có lẽ xuất phát từ chỗ vùng đất này có
nhiéu đầm hồ rộng lớn (như hổ - đầm Linh Đường hay Linh Đàm, đầm
Thanh Liệt hay Đầm Sét, đầm Vạn Xuân, Đầm Mực...). Tên gọi Long Đàm
mới thấy xuất hiộn lần đầu trong các bộ sử ghi chép về thời Trần (1226 1400), bấy giờ là huyộn Long Đàm thuộc châu Thượng Phúc lộ La Thành
(sau đổi thành lộ Đông Đô). Thời thuộc Minh (đầu thế kỷ XV) đổi huyện
Long Đàm thành huyện Thanh Đàm thuộc châu Phúc Yên (tên mới của châu
Thượng Phúc - Đông Đô), đến năm 1419 sáp nhập vào huyện Đông Quan
(kinh thành Thăng Long - Đông Đô thời Lý - Trần - Hổ). Đến đòi Lê Thánh
Tông, niên hiệu Quang Thuận (1460 - 1469) huyện Thanh Đàm lại tách ra, lệ
vào phủ Thường Tín thuộc đạo thừa tuyên (sau là xứ, rồi trấn) Sơn Nam (sau,
đến năm 1741 tách ra thành hai trấn Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ,
huyện Thanh Trì phủ Thường Tín thuộc Sơn Nam Thượng). Tinh hình này
được duy trì cho đến đầu thế kỷ XIX. Năm 1831 vua Minh Mệnh tiến hành
cải cách hành chính lớn, chia đặt các tỉnh. Cả nước được chia thành 29 tỉnh

làm huyện Hoàn Long). Phần còn lại của tỉnh Hà Nội được chia làm hai tỉnh:
tỉnh Hà Nam và tỉnh Hà Đông. Phần còn lại của huyện Thanh Trì thuộc phủ
Thường Tín tỉnh Hà Đông.
Về quy mô, vào đầu thế kỷ XX, huyện Thanh Trì vẫn gồm 12 tổng vói
102 xã thôn, không kể số xã thôn đã sát nhập vào huyện Hoàn Long. Như
vậy, số xã thôn vẫn tăng so với đầu thế kỷ XIX mặc dù một số đã nhập vào
huyện Hoàn Long. Sở dĩ có tình hình này vì trong khoảng trên dưới một thế
kỷ, từ đầu thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, có một số xã, thôn mới được thành
lập trên cơ sở tách ra từ các xã cũ (xem bảng số 1)

6 Nguyễn Trãi : Toàn tập, sđd.
7Tên ìàng .xã V iệt NíHìì đầu th ế kỷ XIX thuộc các tỉnh từ N ghệ Tĩnh trỏ ra, Nxb Khoa học
xã hội, Hà N ội, 1981.

10


Danh sách làng xã huyện Thanh Trì
(so sánh hai thời điểm đầu th ế kỷ XIX và đầu th ế kỷ XX)
Bảng l 8
TT

Tổng

Xã thôn

Xã thôn

(đầu XIX)


Tế Trường

Nay thuộc Thanh Trì

4

Thanh Trì

Nam Dư

Nam Dư

Nay thuộc Thanh Trì

5

Thanh Trì

Khuyến Lương

Khuyến Lương

Nay thuộc Thanh Trì

6

Thanh Trì

Yên Duyên


Yên Lương

Nay thuộc Thanh Trì

-

Nay thuộc quận Hai Bà

9

Thanh Trì

sờ Yên Duyên
10

Hoàng Mai

Hoàng Mai

Trưng
11

Hoàng Mai

Tương Mai

Tương Mai

Nay thuộc quận Hai Bà
Trưng


Giáp Nhị
(Thịnh Liệt)

8 Một số tổng đổi tên vào đầu thế kỷ XX: tổng Hoàng Mai đổi thành tổng Thịnh Liệt, tổng
Quang Liệt đổi thành Thanh Liệt, tổng VTnh Hưng Đặng đổi thành VTnh Ninh.

11


15

Hoàng Mai

Giáp Tứ

Giáp Tứ

Nay thuộc Thanh Trì

Giáp Lục

Nay thuộc Thanh Trì

-

Nay thuộc Thanh Trì

Giáp Bát


Hoàng Mai

Phương Liột

Đa
20

Khương Đình

t. Lý

-

(Nhân Mục Môn)
21

Khương Đình

Quan Nhân

Xuân
Quan Nhân

(Nhân Mục Môn)
22

Khương Đình

t. Trung



(Nhân Mục Môn)
27

Nay thuộc quận Thanh
Xuân

(Nhân Mục Cựu)
26

Nay thuộc quân Thanh
Xuân

(Nhân Mục Cựu)
25

Nay thuộc quận Thanh
Xuân

(Khương Đình)
24

Nay thuộc quận Thanh
Xuân

(Khương Đình)
23

Nay thuộc quận Thanh



Nay thuộc Thanh Trì

30

Khương Đình

Cự Lộc

Cự Lôc

Nay thuộc quận Thanh

12


(Nhân Mục Môn)

Xuân

31

Khương Đình

-

Giáp Nhất

Nay thuộc quận Hai Bà


35

Quang Liột

Pháp Vân

Pháp Vân

Nay thuộc Thanh Trì

Tứ Kỳ

Nay thuộc Thanh Trì

Linh Đàm

Nay thuộc Thanh Trì

Đại Từ

(Nhập vào tổng

Nay thuộc Thanh Trì

(Linh Đường)

Khương Đình)

(Hoằng Liệt)
36


CỔ Điển

Cổ Điển

Nay thuộc Thanh Trì

41

Cổ Điển

Văn Điển

Văn Điển

Nay thuộc Thanh Trì

42

Cổ Điển

Cương Ngô

Cương Ngô

Nay thuộc Thanh Trì

43

CỔ Điển


Lưu Phái

Lưu Phái

Nay thuộc Thanh Trì

47

Cổ Điển

Bảo Thị

Lạc Thị

Nay thuộc Thanh Trì

Ngọc Hồi

Nay thuộc Thanh Trì

ích Vịnh

Nay thuộc Thanh Trì

Huỳnh Cung

Nay thuộc Thanh Trì

(Vĩnh Trung)


Nay thuộc Thanh Trì

52

Nam Phù Liột

Tự Khoát

Tự Khoát

Nay thuộc Thanh Trì

Việt Yên

Nay thuộc Thanh Trì

Mỹ Liệt

Nay thuộc Thanh Trì

(Nam Pliìi Liột)
53

Nam Phù Liệt

Yên Việt
(Nam Phù Liệt)

54

Đông Trạch

Đông Trạch

Nay thuộc Thanh Trì

58

Nam Phù Liột

Hoa Ả

Mỹ Ả

Nay thuộc Thanh Trì

59

Nam Phù Liệt

Văn Uyên

Văn Uyên

Nay thuộc Thanh Trì

60

Nam PliCi Liộl


Đại Áng

Đại Áng

Nay thuộc Thanh Trì

64

VTnh Hưng Đặng

Vĩnh Bảo

VTnh Thịnh

Nay thuộc Thanh Trì

65

Vĩnh Hưng Đặng

Nguyệt Áng

Nguyệt Ang

Nay thuộc Thanh Trì

66

Vĩnh Hưng Đặng



Hoàng Xá

Hoàng Xá

Nay thuộc Hà Tây

Liễu Nội

Nay thuộc Hà Tây

Liễu Ngoại

Nay thuộc Hà Tây

(Hà Liễu)
70

Hà Liễu

Liễu Nội
(Hà Liễu)

71

Hà Liễu

Liễu Ngoại
(Hà Liễu)



Nay thuộc Hà Tây

(Hà Liễu)
75

Hà Liễu

Dư Dụ

Dư Dụ

Nay thuộc Hà Tây

76

Hà Liễu

Dụ Tuyển

Dụ Tiền

Nay thuộc Hà Tây

77

Hà Liễu

Cửa Am


Gia Dụ

Nay thuộc Hà Tây

81

Hà Liễu

-

Vĩnh Thị

Nay thuộc Hà Tây

82

Ninh Xá

Ninh Xá

Ninh Xá

Nay thuộc Hà Tây

83

Ninh Xá

Duyên Trường


Bằng Sở

Nay thuộc Hà Tây

87

Ninh Xá

Thọ Am

Thọ Am

Nay thuộc Hà Tây

88

Ninh Xá

Phúc Am

Phúc Am

Nay thuộc Hà Tây

89

Ninh Xá

Nhị Châu


Phương Nhị

Nay thuộc Hà Tây

93

Vạn Phúc

Vạn Phúc châu

Vạn Phúc châu

Nay thuộc Thanh Trì

94

Vạn Phúc

Yên Mỹ châu

Yên Mỹ

Nay thuộc Thanh Trì

95

Vạn Phúc

-


Thâm Đ ộng

Nay thuộc Hà Tây

15


99

Thâm Thị

Thâm Xuyên

Thâm Xuyên

Nay thuộc Hà Tây

100

ThAm Thị

Thủm Hồ

Thủm Hồ

Nay thuộc Hà Tây

101

TliAm Thị


Thượng (Vân La)

Vân LaThượng

Nay thuộc Hà Tây

105

Vân La

Nội (Van La)

v a n La Nội

Nay thuộc Hà Tây

106

Vân La

Thận Vi

Thuận Vi

Nay thuộc Hà Tây

107

Vân La


-

Phú Mỹ

Nay thuộc Hà Tây

Cộng

102

100

Từ sau Cách mạng tháng Tám thành công đến nay địa giới hành chính
huyên Thanh Trì có nhiều thay đổi. v ể cơ bản cho đến trước đợt điểu chỉnh
lớn về địa giới Thủ đô Hà Nội lần thứ nhất (1961) Thanh Trì vẫn là một
huyện thuộc tỉnh Hà Đông. Tuy nhiên, ngay sau ngày giải phóng miền Bắc,
toàn bộ khu vực phía bắc Thanh Trì được lập thành một quận thuộc về Thủ
đô Hà Nội - quận 7 (bấy giờ Hà Nội gồm 8 quận, 4 quận nội thành và 4 quận
ngoại thành). Ngày 20 tháng 4 năm 1961, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà khoá II, kỳ họp thứ II ra Nghị quyết sáp nhập huyện Thanh Trì vào
thành phố Hà Nội, là một trong bốn huyện ngoại thành, bao gồm phần lớn
các làng xã của huyện Thanh Trì cũ. Số làng xã còn lại gồm tổng Hà Liễu
(14 xã), tổng Vân La (8 xã), tổng Thâm Thị (8 xã), tổng Ninh Xá (7/11 xã),
tổng cộng là 37 xã thôn (đầu thế kỷ XX là 41 xã thôn) được sáp nhập vào
tỉnh Hà tây, chủ yếu là vào huyện Thường Tín, một số vào huyện Thanh Oai
và thị xã Hà Đông. Từ đó đến nay còn một số đợt điểu chỉnh địa giới hành
chính nữa nhưng không lớn, theo đó một số làng xã phía bắc huyện giáp với

16

được lập theo sự chỉ đạo của Nhà nước, việc đo đạc đất đai cũng được thực
hiện dưới sự tổ chức của Nhà nước. Trong lịch sử Việt Nam, lần đầu tiên Nhà
nước lập sổ địa bạ là vào năm 1092 dưới triều Lý, bấy giờ gọi là điền tịch9.
9 Đ ại V iệt sử kỷ toàn thư, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr. 296.

17

DĨÍCvM ĩ'


Thời Lê sơ, ngay sau kháng chiến chống Minh thắng lợi, năm 1428 Lê Lợi
đã ra lệnh cho các địa phương tiến hành điổu tra, khám xót vổ tinh hình sở
hữu ruộng đất, lập lại địa bạ trong 1 năm10. Trong Quốc triều hình luật, điều
437 quy định cứ 4 năm làm lại điền bạ một lần để phản ánh đúng tình hình
ruộng đất của các làng xã. Các thế kỷ về sau công việc lập và tu bổ địa bạ
được tiến hành trong nhiều năm. Đáng tiếc là hiện nay chúng ta mới chỉ tìm
được một số rất ít địa bạ trước thế kỷ XIX (tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm có
2 địa bạ niên đại 1694 và 1695, 2 địa bạ niên đại 1789, 1 địa bạ niên đại
1790 và 1 địa bạ niên đại 1795. Tuy nhiên, điểu chắc chắn là trong dân gian
vẫn còn giữ được nhiêu địa bạ có niên đại trước thế kỷ XIX.
Nhà Nguyễn sau khi bình định xong cả nước (1802) đã ý thức ngay
được tầm quan trọng của việc lập địa bạ. Năm 1803, tức chỉ 1 năm sau khi
lên ngôi, Gia Long đã sai lập địa bạ các trấn thuộc Bắc Hà, tức vùng Đàng
Ngoài thuộc quyền cai trị của chúa Trịnh trước đây. Công việc cơ bản hoàn
thành vào năm 1805 (trừ hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận thuộc phủ
Hoài Đức, nay thuộc nội thành Hà Nội và ba trấn đạo Ninh Bình, Thanh Hoá
và Nghệ An). Năm Gia Long thứ 9 (1810) quyết định triển khai công việc tại
các tỉnh từ Quảng Bình vào đến cực nam Trung Bộ. Tuy nhiên việc lập địa bạ
ở đây tiến hành có vẻ chậm nên phải tới những năm cuối thời Minh Mệnh
mới xong. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) tiến hành lập địa bạ ba trấn Ninh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status