Đại học quốc gia h nội
trờng đại học khoa học x hội v nhân văn
Kim Jong Ouk
MT S BIN I LNG X CHU TH SễNG HNG
T U TH K XIX N GIA TH K XX
(QUA TRNG HP LNG M TRè)
Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam cổ cổ i v trung đại
Mã số : 62 22 54 01
TểM TT Luận án tiến sĩ lịch sử
Luận án sẽ được bảo vệ trư
ớc Hôi đồng cấp nhà nước chấm luận án tiến sĩ họp
tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, 336 Nguyễn Trãi, Quận
Thanh Xuân - Hà Nội vào hồi giờ ngày tháng 2009 Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Vi
ệt Nam
- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Qu
ốc gia Hà Nội
NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN
1. 김종욱 (1998), “베트남의 민간종교 : 조상숭배 (Tôn giáo dân gian ở
Việt Nam: thờ cúng tổ tiên)
”, 『종교로 본 동양문화 (Văn hoá
phương Đông nhìn qua tôn giáo
)』, pp. 130~150.
2. Kim Jong Ouk (1999), “Tình hình sở hữu ruộng đất ở làng Mễ Trì
(tỉnh Hà Đông) nửa đầu thế kỷ XX”, Nghiên cứu lịch sử, (6), tr.
29-42.
3. Kim Jong Ouk (2000), “The Vietnamese Woman’s Family Values
연구 (
Nghiên cứu Đông Nam châu Á)』, 14(1), pp. 247~283. 1
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây hớng tip cn lịch sử từ i sng ca quần chúng ang thu hút sự quan tâm đặc biệt
của rất nhiều học giả. Thực ra, những khái niệm nh "lịch sử quần chúng" hoặc "lịch sử nông dân" không hẳn
là hoàn toàn mới. Trong giới nghiên cứu lịch sử Việt Nam đã có khá nhiều học giả đề cập đến những vấn đề
liên quan đến quần chúng, đến nông dân và họ cũng đã thu đợc không ít những thành quả đáng trân trọng.
Dự vy, đại bộ phận các công trình đó chỉ dựa trên một số lý thuyết và phơng pháp nghiên cứu nhất định. Do
ch yu tp trung nghiên cứu một số nội dung cơ bản nh đấu tranh giai cấp, nông thôn và các đặc trng văn
hoá nông thôn, sự mất cân bằng trong phát triển giữa đô thị và nông thôn Nờn cỏc cụng trỡnh ú thng a
li một sự hiểu biết mang tính phổ quát, những kết luận khoa học thờng đúng trong mọi trờng hợp, không
lm bt tính đa dạng của lịch sử, cha làm rừ tính chất riêng, đặc sắc của từng vùng, từng địa phơng cụ thể.
Trong bối cảnh ú, cách tiếp cận mới với xuất phát điểm là quần chúng nhân dân ở một vùng nông thôn cụ
thể có thể là một hớng đi mới có thể dn n những kết luận lịch sử thú vị.
Nghiên cứu lịch sử nông thôn, cụ thể là nghiên cứu về làng xã Việt nam, chúng ta sẽ đợc tiếp cận và xử
lý các nguồn tài liệu địa phơng phong phú và đa dạng nh gia phả, văn bia, hồi tởng, ký ức, th từ, các đồ
dựng trong gia đình, các chuyện tranh chấp, trả thù, văn khế mua bán ruộng đất, ca dao, phong tục tập
quán v.v. Nguồn t liệu này có giá trị rất lớn trong việc bổ sung nâng cao sức thuyết ph
c của các tài liệu
chính sử cũng nh các nguồn tài liệu hiện có ở các trung tâm lu trữ trong và ngoài nớc.
Một trong những vấn đề nờn lm rừ l nội dung lịch sử của khái niệm xó hi thuộc địa nửa phong kiến.
Trc nay, hầu nh cha có một công trình nào nghiên cứu kỹ quá trình chuyển biến của Việt Nam từ thời
mạt kỳ phong kiến sang thời kỳ thuộc địa. Vụ hỡnh trung, nhận thức về lịch sử Việt Nam giai đoạn u thế kỷ
XIX- gia thế kỷ XX vẫn bị cắt rời thành hai mảng: hoặc là quy những vấn đề thuộc vào thời trung đại, hoặc
226], Việt Nam thời kỳ Pháp đô hộ [168]. Thit ngh, chúng ta không thể không nhắc ti công lao của các nhà
khoa học nh Phan Huy Lê (Đại học Tổng hợp Hà Nội), Trn Huy Liu (Viện Sử học) - những ngời đã tận
tâm với sự
nghip nghiên cứu lch sử Vit Nam núi chung v lnh vc nụng thụn v rung t núi riờng.
Bớc sang những năm 80 và 90, những hoạt động nghiên cứu có liên quan đến mảng đề tài mà chúng tôi
lựa chọn đã tăng lên cả về mặt số lợng và chất lợng, m rng cả về không gian và thời gian. Có thể tm
phân thnh 4 loại sau:
Các công trình nghiên cứu mang tính khái quát
Loạt công trình thuc loi ny cú th k n Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại [227, 228]. Các
giá trị truyền thống và con ngời Việt Nam hiện nay [192, 193] và Cơ cấu xã hội trong quá trình phát triển của
lịch sử Việt Nam [164], C cu kinh t - xó hi Vit Nam thi thuc a (1858-1945) [173] v Kinh tế hộ trong
2
nông thôn Việt Nam 223], New Lamps for Old [263], Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trớc cách mạng tháng
Tám năm 1945 [118] và Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử của [187]
Các công trình nghiên cứu về một làng xã gắn với một chủ đề cụ thể
Về mảng công trình này có thể kể ra đây những bài báo đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử [150, 151],
[108], [198, 199], [170, 171, 172], [2]; loạt bài viết trên tạp chí dân tộc học [230], L lng phộp nc [109] và
Tỡm hiu ch rung t Vit Nam na u th k XIX của [233]
Các công trình nghiên cứu về một số làng hoặc một số vùng nông thôn.
Đó là những tác phẩm đăng tải trên Nghiên cứu Lịch sử [237], [112, 112], [230], [150, 151], [166], [171]. Ngoài
ra còn cú: Chế độ phụ canh của Đông Quan- Thái Bình đầu thế kỷ XIX qua địa bạ Gia Long [143]. Mt s lng
buụn ng bng Bc B th k XVIII-XIX [162]
Các công trình nghiên cứu về một làng với các vấn đề ít nhiều liên quan đến đề tài luận án
Chúng tôi xin liệt kê vài trờng hợp tiêu biểu: Làng Nguyễn [114] và Revolution in the Village: Transition
and Transformation in North Vietnam, 1935-1988 [254], Một làng Việt cổ truyền ở nông thôn đồng bằng Bắc
Bộ [152]. Đặc biệt, The Village as Pretext: Ethnographic Praxis and the Colonial State in Vietnam của John
Kleinen [254] có thể đợc coi là một trong những công trình áp dụng thành công những phơng pháp nghiên
cứu mới để tìm hiểu một không gian nhỏ ở nông thôn một cách sâu sắc và khoa học. Trong một không khí
nhiờn v môi trờng sinh thái ở lng xó châu thổ sông Hồng từ đầu thế
kỷ XIX đến gia thế kỷ XX
Chơng 2. Sự biến đổi của bộ máy quản lý ở làng xã châu thổ sông Hồng từ đầu thế kỷ XIX đến gia thế
kỷ XX.
Chơng 3. Sự biến đổi của tỡnh hỡnh sở hữu ruộng đất ở làng xã châu thổ sông Hồng từ đầu thế kỷ XIX
đến gia thế kỷ XX
Chơng 4. Sự biến đổi của nền giáo dục ở làng xã châu thổ sông Hồng từ đầu thế kỷ XIX đến gia thế kỷ
XX 3
CHNG 1
S BIN I IU KIN T NHIấN V MễI TRNG SINH THAI LNG X
CHU THễ SễNG HNG T U TH K XIX N GIA TH K XX
1.1. c im chung ca iu kin t nh ờn vựng chõu th sụng Hng
1.2. Nhng tỏc ng ca iu kin t nhiờn v mụi trng sinh thỏi n quỏ trỡnh phỏt trin chõu th
sụng Hng
Đặc điểm khí hậu và địa hình l nhõn t tỏc ng thun chiu cho sản xuất nông nghiệp v đời sống c
dân. Đó là những điều kiện thuận lợi để cho cây cối xanh tốt bốn mùa, chủng loại cây trồng phong phú đa
dạng, đặc biệt là cây lúa nớc. Tuy nhiờn, bên cạnh những tỏc ng có tính tích cực nh trên, vùng châu thổ
sông Hồng cũng phải hứng chịu những tác động tiêu cực t các yếu tố tự nhiên, nh thiờn tai v dch bnh, vỡ
đê, lụt lội, hạn hán
1.3. Nhng iu ki
n t nhiờn v mụi trng sinh thỏi M Trỡ.
1.3.1. Địa hình và đất đai
Làng Mễ Trì địa hình không bằng phẳng. Chệnh lệch giữa nơi cao nhất và thấp nhất của làng lên tới 10m.
Về thổ nhỡng, đất đai của Mễ Trì không ng u giữa các thôn. Đất ở đây có độ PH rất cao nên hầu nh tất
cả những giống cây mới mang về trng đều bị biến đổi đặc tính. Dự vy, ngời dân ở đó vẫn có thể sng da
vo nụng nghip. Cú một điều cũng rất đáng lu ý là ở Mễ Trì sự tồn tại xen kẽ cả đất tốt và không tốt. Lợng
S BIN I CA B MY QUN Lí LNG X CHU THễ SễNG HNG T U TH K
XIX N GIA TH K XX
2.1. Tớnh t tr ca b mỏy hnh chớnh lng xó trc khi thc dõn Phỏp xõm lc
Khi đi sâu vào mối quan hệ giữa làng và nớc ở Việt Nam có những điều cn chú ý. Đó là ý thức tự trị,
muốn tồn tại một cách độc lập với các tổ chức hành chính quốc gia. Quyền tự trị này của làng xã truyền thống
đã liên tục đợc duy trì v cng c, nht l trong thời gian bị phong kiến phơng Bắc cai tr. Thực chất, mọi
triều đại phong kiến Việt Nam đều hiểu rất rõ cái vị thế của làng xã và không triều đại nào lơ là với việc
quản lý các đơn vị cơ sở này. Quyền tự trị của làng xã c gia c qua nhiều thời kỳ đã cú sc sng mnh m
v iu quan trng l ó trở thành điều có thể chấp nhận đợc i vi nh nc.
2.2. Ci lng hng chớnh lng xó di ch thc dõn Phỏp
Với ý thống trị gián tiếp thông qua cải cách công cụ hành chính Việt Nam, chính quyền thực dân Pháp đã
triển khai nhiều chớnh sỏch và đã phần nào đạt đợc thành công trong công cuộc cải cách hành chính. Tuy nhiên,
những nỗ lực này đã không mang lại đợc những kết quả nh mong muốn do những hạn chế c hu của chính
quyền thực dân. Trờn thc t
, chính quyền thực dân đã gặp rất nhiều khó khăn khi họ quyết định và thực thi chính
sách. Họ đã vấp phải sự đối lập thờng xuyên giữa chủ nghĩa đồng hoá và chủ nghĩa giao hoà. Công cuộc cải cách
hành chính do chính quyền thực dân Pháp thực hiện ở vùng Bc K từ năm 1921 đã đợc tiến hành trong bối cảnh
nh vậy.
2.2.1. Ci lng hng chớnh ln th I (1921)
Thông qua Nghị định của Ton quyn Monguillot ngày 12 tháng 8 năm 1921, thực dân Pháp đã thực hiện
cuộc cải lơng hơng chính lần th I, Theo tinh thần của Nghị định này, thành viên của Hội đồng Tộc biểu
phải từ 18 tuổi trở lên và phải là ngời sở hữu một số tài sản nhất định. Những quy định mới liên quan đến
phơng thức bầu cử Hội đồng Tộc biểu - đợc vận dụng nội dung của những khái niệm của chủ nghĩa dân chủ
phơng Tây - chủ trơng rằng những dòng họ càng có nhiều thành viên thì sẽ có đợc nhiều đại biểu trong
Hội đồng Tộc biểu.
Cuộc cải lơng hơng chính năm 1921 có tầm cỡ và quy mô lớn hơn bất cứ cuộc cải cách nào trớc ú.
Nhng, cuộc cải lơng hơng chính đã gây ra mối bt hoà giữa một bên là tầng lớp thống trị cũ ở địa phơng và
tầng lớp trí thức mới trong làng xã. Thực dân Pháp chủ trơng điều chỉnh sao cho chỉ những thành phần thân
Pháp mới có thể tham gia vào bộ máy cai trị hành chính làng xã. Sự thay đổi này là một mối đe doạ hiện hữu với
quyền lợi của nhóm chức sắc cũ trong làng xã. Việc không nắm bắt đợc những mối quan hệ giằng co đặc thù
đã hn ch
đợc hin tng lối thoả thuận miệng giữa các chức sắc của xã. Dù đó có thể chỉ là s ngăn chặn
mang tính hình thức, nhng dù vậy nó cũng đã ít nhiều mang lại sự lnh mnh trong công vic hành chính ở
xã Mễ Trì.
Vic xoá bỏ rồi sau đó lập lại Hội đồng Kỳ mục trong khi thực hiện cải cách hơng chính tại Bắc Kỳ cng
5
ó tr thnh một chủ đề gây không ít tranh cãi trong giới học giả. Liên quan đến xã Mễ Trì, vấn đề này cũng
khú a ra kết luận n gian là thành hay bại. Ti a bn xó Mễ Trì, những thành quả đạt đợc từ cải lơng
hơng chính không thể nói là hoàn toàn tốt đẹp. Những thành tựu ở đây nếu có thì cũng đơn thuần ch mang
tính hình thức. V thực chất những mâu thuẫn nội bộ, những lề thói làm việc cũ vẫn tiếp tục tồn tại. Cú th núi,
cải lơng hơng chính đã không thành công trong việc thay đổi phơng thức truyền thống trong bầu chọn bộ
máy qun lý làng xã ở Mễ Trì.
2.3.2. Nhng nh hng ca Ci lng hng chớnh ln th II
Núi chung, nhng nh hng ca cải lơng hơng chính ln th II n lng M Trỡ cũng nh các chính
sách khác ca Pháp đều có những thành công và th
t bại nhất định. Vic thực hiện chớnh sỏch ny ở xã Mễ Trì
đã din ra mt cnh ht sc khú khn. Nhng bin i ca M Trỡ sau hng lot chớnh sỏch ci cỏch ny cú
th coi nh s thớch ng vi hon cnh lch s mi theo cỏch riờng ca lng xó Vit Nam. Nú khụng thay i
mt cỏch cn bn m trờn cỏi nn vn hoỏ truyn thng tớch hp vo mỡnh nhng nhõn t mi. 6
CHNG 3
S BIN I CA TèNH HèNH S HU RUNG T LNG X
CHU TH SễNG HNG T
U TH K XIX N GIA TH K XX
3.1. Tỡnh hỡnh s hu rung t lng xó trc khi thc dõn Phỏp xõm lc
các hộ trong làng Mễ Trì đợc thực hiện.
Bản đồ 3-1: Phân thửa ruộng đất của làng Mễ Trì (1938)
7
3.3.1. Tỡnh hỡnh phõn b rung t
Chủ
sở
hữu
Thửa
Công
điền
T điền
Tỉ
lệ
(%)
Mễ Trì 1 5
33.2.02.
0
Mễ Trì
Thợng
1401
40.7.13.
0
Làng
Mễ Trì Hạ 1 331
32.4.06.
3
8.9
Ruộng từ van 3 25 2.6.11.0
Ruộng chùa 1 3 0.2.07.0
Ruộng họ 3 27 5.3.08.0
Ruộng giáp 13 101 10.6.01.0
Chủ phức 4 153
23.3
Tổng cộng 1.027 9.575 109.5.09.0 1.073.8.12.0 100
Qua Bảng 3-2, có một điểm đáng chú ý là sự xuất hiện loại quyền sở hữu của chủ kộp, tức là 2~4 ngời
đồng sở hữu một diện tích ruộng đất. Đây cần đợc coi nh một loại hình sở hữu ruộng đất mới, xuất hiện
trong
bối cảnh có sự can thiệp của chính quyền thực dân Pháp vào làng xã Việt Nam.
Chúng tôi xin phân tích thêm về quy mô sở hữu ruộng đất. Theo Sổ Địa chính năm 1940, quy mô sở hữu
ruộng đất ở làng Mễ Trì rất đa dạng, dao ng từ mức 1 thớc cho tới hơn 40 mẫu. Xin xem bng 3-3 di õy.
8
Bảng 3-3: Tình tình phân bố quy mô sở hữu ruộng đất của làng Mễ Trì
Chủ sở hữu Diện tích sở hữu
S thửa
Quy mô
sở hữu
Số
Tỷ
lệ %)
Diện tích
Tỉ lệ
(%)
Tha
41 Tộc biểu - -
Ngô Duy Túc 26 Tộc biểu 8 0.3.07.0
Nguyễn Hữu Dực 63 Tộc biểu - -
Nguyễn Hữu Thỉnh 62 Tộc biểu - -
Nguyễn Thảo Phơng 61 Tộc biểu - -
Nguyễn Bá m
50 Tộc biểu 11 0.9.14.0
Nguyễn Hữu Kỷ 49 Tộc biểu 12 1.1.11.0
Đỗ Huy Thịnh 49 Tộc biểu 3 0.2.08.0
Đỗ Quang Ược 47 Tộc biểu - -
Nguyễn Hữu Thịnh 44 Tộc biểu 1 0.0.04.0
Đỗ ức Uyên
38 Tộc biểu 54 6.3.11.0
Nguyễn Viết Thiện 36 Tộc biểu 57 8.5.08.0
Nguyễn ang Trản
39 Tộc biểu 19 1.4.03.0
Đỗ Hữu Giới 46 Tộc biểu 1 0.0.05.0
Đào Tang Bốn 36 Tộc biểu 1 0.0.06.0
Nguyễn ình Chúc
35 Tộc biểu 8 0.8.00.0
Ngô Công Thang 37 Tộc biểu 2 0.1.07.0
Nguyễn Doanh Khoa 47 Lý trởng 2 0.2.12.0
Đỗ Quang Phàn 60 Thủ quĩ - -
Ngô Chí Chu 44 Thủ quĩ 18 2.1.01.0
Nguyễn Hữu Cơng 45 Trơng tuần 6 0.6.01.0
Nguyễn Thạch Thủ 46 Trơng tuần - -
Tổng cộng 250 28.6.04.0
Bảng 3-4 cho thấy tầng lớp thống trị mới ở làng xã không sở hữu nhiều ruộng đất. Chính s khác biệt về sở hữu
ruộng đất này đã là c s để chính quyền thực dân đa ra tiêu chí tuyển chọn uỷ viên Hội đồng Tộc biểu.
Bảng 3-5: Tình trạng phân bố ruộng đất và sở hữu của làng Mễ Trì
Diện tích Tỉ lệ (%)
Cự Đà, Thanh Oai 26 46.4 1.636 77.8 214.6.06.0 78.3
Hữu Thanh Oai 6 10.7 167 7.9 20.4.12.0 7.5
Trung Kính 6 10.7 26 1.3 2.6.11.0 0.9
Nhân Mỹ 2 3.6 11 0.5 0.5.14.0 0.2
Thiệu Xuân, Sơn Tây 1 1.8 1 0.03 0.1.06.0 0.02
Ngọc Hà, Hoàn Long 4 7.1 137 6.5 17.8.11.0 6.6
Đại Mỗ 1 1.8 3 0.1 0.2.01.0 0.08
Phùng Khoang 1 1.8 2 0.07 0.3.08.0 0.1
Hoè Thị 1 1.8 7 0.3 0.9.04.0 0.3
Hà Trì 1 1.8 3 0.1 0.4.10.0 0.2
Hà Nội 6 10.7 65 3.1 9.4.03.0 3.4
Đại Từ 1 1.8 46 2.3 6.5.04.0 2.4
Tổng cộng 56 100 2.104 100 274.2.130 100
Theo Sổ ịa chính năm 1940, một phần ruộng đất không nhỏ của làng Mễ Trì đã thuộc quyền sở hữu của
các chủ sở hữu ở làng khác.
Vấn đề sở hữu đất đai của phụ nữ làng Mễ Trì thời bấy giờ cho thấy về mặt chủ sở hữu mà nói thì mặc dù
chỉ chiếm có 1/5 trên tổng số chủ sở hữu ruộng đất trong làng, nhng ph n đã thực sự là một lực lợng có vị
trí và có tầm quan trọng nhất định trong cộng đồng làng (xem bng 3-7, 3-8, 3-9)
Bảng 3-7: Tình trạng sở hữu ruộng đất của phụ nữ làng Mễ Trì (1940)
Chủ sở hữu Thửa Diện tích sở hữu
TT
Số
ngời
Tỉ lệ Số cái
Tỉ lệ
(%)
Số (m.s.th)
Tỉ lệ
(%)
Diện tích
Tỉ lệ
(%)
Số
(cái)
Tỉ lệ
(%)
Nữ cha kết hôn 37 19.2 7.4.12.0 8.9 72 10.4
Đã kết hôn(chồng có đất) 64 33.2 24.3.06.0 29.4 208 29.9
Đã kết hôn(chồng không có đất)
33 17.1 11.4.06.0 13.8 109 15.7
Quả phụ 45 23.3 36.6.02.0 44.3 277 39.8
Thừa kế 14 7.2 2.9.02.0 3.6 29 4.2
Tổng công 193 100 82.7.13.0 100 695 100
Thông qua cỏc bảng này, điều độc đáo mà chúng ta có thể nhận thấy, đó là: thứ nhất, có tới 50% số lợng
chủ sở hữu là phụ nữ sau khi kết hôn vẫn sở hữu ruộng đất đứng tên mình. Đặc biệt, có tới 33% trờng hợp
mặc dù ngời chồng cũng có ruộng đất, nhng sở hữu ruộng đất chung với vợ mình. Đây là chi tiết cho thấy
sự kế thừa tài sản ở cả hai bên dòng tộc là một đặc điểm mang tính phổ biến ở thời kỳ cận đại. Thứ hai, có một
số phụ nữ sở hữu đất đai để phục vụ cho nhu cầu sinh tồn của bản thân.
10
CHNG 4
S BIN I CA NN GIO DC LNG X CHU TH SễNG HNG T U
TH K XIX N GIA TH K XX
4.1. Giỏo dc truyn thng lng xó Vit Nam trc khi thc dõn Phỏp xõm lc
.
Trong lịch sử Việt Nam, trờng học xuất hiện đầu tiên trong thời kỳ Bắc thuộc
.
Thời nhà Lý việc lấy giáo dục để đào tạo nhân viên quản lí xã hội đã đợc bắt đầu tiến hành vào cuối thế
sinh
Trờng
Học
sinh
TT
Làng xã (thầy đồ) Huyện (Huấn đạo) Phủ (Giáo thụ) Tỉnh (Đốc học)
9-8-1901 568 4475 5 246 4 486 1 250
23-12-1901 585 4528 5 255 4 491 1 305
2-7-1902 585 4528 5 255 4 491 1 305
3e-1903 184 1335 5 519 4 1071 1 400
1e-1904 336 2445 5 519 4 1071 1 400
Chính quyền Pháp ở Đông Dơng bắt đầu tiến hành cuộc cải cách giáo dục ở Bắc kỳ vào năm 1906. Với
các Nghị định ban hành ngày 8-3-1906 và 16-5-1906, Toàn quyền Pôn Bô đã đa ra một kế hoạch cải cách
giáo dục sâu rộng. Theo đó, hệ thống giáo dục phổ thông đợc chia ra 3 bậc : sơ cấp (hay ấu học), đệ nhị cấp
(hay tiểu học), đệ tam cấp (hay trung học). Năm 1906, Toàn quyền Bô cũng đã ký Nghị định thành lập Đại
học Đông Dơng.
Chính sách cải cách này có ý nghĩa nh một cái mốc đánh dấu quá trình biến đổi từ nền giáo dục truyền
thống phong kiến sang nền giáo dục thực dân nói chung và tác động không nhỏ đến sự chuyển biến của giáo
dục ở nông thôn.
Số liệu trong bảng cho thấy, trớc khi Ton quyn Pôn bô bắt đầu công cuộc cải cách, ở tỉnh H ụng đã
xuất hiện chiều hớng giảm dần số trờng học và số học sinh trờng t. Từ năm 1901 đến năm 1904 đã giảm
11
xuống khoảng 40%. Cùng với đó là chiều hớng gia tăng các trờng công ở tỉnh, phủ và huyện. Trớc và sau
năm 1903, cả số trờng học và số lợng học trò ở cấp phủ và huyện đã tăng lên gấp khoảng hai lần. Trong khi
vẫn giữ nguyên quy mô và số lợng học sinh ở trờng cấp tỉnh do Đốc học phụ trách, thì một số lớn trờng
học t và số học sinh của trờng t đã chuyển nhập vào các trờng công. Chúng tôi cho rằng xét về mục tiêu,
những biến đổi này cần đợc coi là những thành công của cải cách giáo dục mà thực dân Pháp đã tiến hành.
Sự biến đổi giáo dục ở các làng xã diễn ra không đều giữa các vùng. Nếu so sánh giữa các phủ và huyện
3e-1903 310 290 261 42 903 256 69 210 92 60 687
7-1902 130 60 261 40 491 70 60 65 32 28 255
12-1901 130 60 261 40 491 70 60 65 32 28 255
8-1901 130 55 261 40 486 70 60 58 30 28 246
Bảng 4-3: Số trờng và học sinh trờng t của làng ở phủ Hoài Đức (1901~1904)
Bảng 4-4: Số lợng học sinh tai các trờng cấp Tổng ở tỉnh Hà Đông (1918~1923)
4.2.2. Ci cỏch giỏo dc thc dõn ln th II (1917) Sau chiến thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp đã tích cực triển khai cải cách giáo dục lần thứ II. Ngày 21-
12-1917 Toàn quyền Xarô đã ký một Quy chế mới về giáo dục (văn bản này thờng đợc coi là sự khởi đầu
của cải cách giáo dục lần thứ II). Bản Quy chế cải cách lần này đã phản ánh một sự thật quan trọng là định
Tổng
cộng
Đồng ấu
118 104 174 41 224 41 54 102 88 53 999
Dự bị
96 133 54 47 79 62 47 47 54 28 647
1
9
1
Sơ đẳng
60 53 37 34 69 31 44 32 69 13 442
Trờng Làng (Thầy đồ)/ Số học sinh
TT
Hoài
Đức
ứng
Hoà
Thờng
Tín
Mỹ
Đức
Thanh
Oai
Đan
Phợng
Thanh
Trì
Phú
Xuyên
Chơng
7-1901 883 758 659 315 616 314 468 305 157
12
8
tng cng
274 280 265 132 366 134 145 181 241 94 2088
Đồng ấu
108 112 265 37 249 26 56 79 88 58 1078
Dự bị
92 126 121 43 124 83 47 43 53 20 752
Sơ đẳng
61 54 110 35 59 34 44 39 61 13 510
1
9
1
9
tng cng
261 292 496 115 432 143 147 161 202 91 2340
Đồng ấu
148 110 96 132 154 43 68 96 91 32 970
Dự bị
49 57 69 80 142 32 47 25 69 23 593
Sơ đẳng
10 19 13 32 51 - 22 15 40 9 211
1
9
2
1
tng cng
Bảng 4-5: Số lợng các loại trờng, học trò và thày giáo ở Mễ Trì 1907~1909
TT
Trờng
Công
Trờng
T
Hơng s và
Thầy đồ
Số học sinh trên
biên sổ đăng ký
Số học sinh
đi học
Công
1 Tú Tài Phạm Đồ Huỳnh 20 26
1 Nguyễn Trung Lợng 10
1907
1 Nguyễn Hữu Lập 10
46
1 Tú Tài Phạm Đồ Huỳnh 25 20
1908
1 Nguyễn Trung Lợng 20 15
35
1909
1 Tú Tài Phạm Đồ Huỳnh 25 20 20
Một điều đáng lu ý là hệ thống giáo dục mới ra đời và đi vào hoạt động trở thành một tác nhân làm cho
truyền thống giáo dục cũ suy yếu, khiến nó mất dần địa vị độc tôn trong giáo dục ở các làng xã. Bảng thống
kê dới đây (bng 4-6) cho thấy số học trò của các trờng t thục giảm xuống khá nhiều theo thời gian.
Bảng 4-6: Số lợng các loại trờng học và học trò ở tổng Dịch Vọng 1907~1909
T
T
0
Học trò 8 23 26 11 68
13
Trờng t 1 1 2 2 6
7
Học trò 20 15 20 45 100
Trờng
Công
1 1 1 1 1 5
Học trò 15 15 13 23 20 68
Trờng t 1 1 1 3 1 7
1
9
0
8
Học trò 30 10 15 23 6 84
Trờng
Công
11 11 1 5
Học trò 13 10 15 20 10 68
Trờng t 1 1 2 4
1
9
0
9
Học trò 28 12 49 89
Sự giảm bớt số thầy giáo và học trò ở làng Mễ Trì không phải là hiện tợng cá biệt, mà là tình trạng chung
ở cả tổng Dịch Vọng.
Gia
Cổ
Nhuế
Đại
Mỗ
Phơng
Canh
Thợng
Hội
Yên
Lũng
Tây
Tựu
Thợng
ốc
Hạ Trì Tổng
cộng
A 7 17 8 7 3 3 9 12 14 6 13 12 7 118
B 8 4 14 11 3 4 7 10 8 3 8 9 7 96
C 6 4 5 - 4 3 5 6 6 3 5 9 4 60
1
9
1
8
Cộn
g
21 25 27 18 10 10 21 28 28 12 26 30 18 274
A 6 9 8 7 3 3 8 12 14 6 13 12 7 108
B 7 4 14 11 3 4 7 10 8 3 5 9 7 92
C 6 4 5 - 4 3 5 6 6 3 6 9 4 61
Bảng thống kê 4-8 cho thấy trờng sơ đẳng Dịch Vọng - một tổng có hàng nghìn trẻ em ở độ tuối đến
trờng mà chỉ có 21 học sinh theo học thì đó là con số vô cùng ít ỏi. Điều này chứng tỏ cải cách giáo dục lần
hai cũng cha mang đến cho các em ở các làng một cơ hội giáo dục tốt, đồng thời chế độ giáo dục này cũng
không hấp dẫn đợc mấy ngời theo học.
Trong thời kỳ này, ở làng Mễ Trì các trờng t thục vẫn tiếp tục đảm đơng chức năng giáo dục những trẻ
em con nhà bình dân, cách thức tổ chức lớp học có hơi khác trớc. Tuy nhiên, về cơ bản việc dạy và học cũng
vẫn theo lối truyền thống.
Trong những năm đầu của giai đoạn này, tình hình cụ thể ở Mễ Trì cho thấy, trờng tiểu học đặt tại các
tổng dần dần phát triển thành một hệ thống, nhng đại đa số trẻ em bình dân vẫn ít có cơ hội theo học mà chủ
yếu chúng vẫn học tại các lớp do các thầy đồ tự tổ chức và giảng dy. Khi đợc xây dựng lại vào năm 1921,
trờng tiểu học (thờng gọi là trờng làng hoặc trờng công) của Mễ Trì chỉ là một ngôi nhà tranh. Đến năm
14
1937, làng mới xây dựng trờng mới ở cạnh đình thôn Hạ (hiện nay ngôi trờng này vẫn còn đợc sử dụng
làm hội trờng của thôn Mễ Trì Hạ). Số học sinh dao động trong khoảng từ 20 đến 40 ngời. Lúc đó, dù nhà
giàu hay nhà nghèo đều cho con đi học. Những học trò nghèo theo học với mục đích để biết chữ, học xong lại
về làm ruộng. Những trẻ em thuộc diện này đều phải đóng học phí. Tất cả những ai đi học đều đợc miễn thuế
thân. Tiền trả cho thầy giáo làng lấy từ quỹ ruộng công, ruộng quan. Các chức dịch trong làng có trách nhiệm
mời thầy và trả lơng cho thầy.
Đánh giá giáo dục thời kỳ này là vấn đề không đơn giản. Các nhà nghiên cứu nh Vũ Ngọc Khánh và
Nguyễn Anh thì đã chỉ ra và nhấn mạnh những mặt tiêu cực của giáo dục thực dân. Theo đó thì hệ thống giáo
dục này chứa đựng rất nhiều mâu thuẫn. Các tác giả cho rằng hệ thống đào tạo do Pháp thiết kế cha hoàn
chỉnh và không phù hợp với hoàn cảnh nông thôn Bắc bộ nên con em nông dân hầu nh không thể học lên
cao. Thay cho việc tiếp tục học theo chơng trình thiết kế, nhiều em lại phải trở về quê để học tiếng Hán. 15
ang lõm vo thi k b tc ca giai on phong kin suy tn.
V phng din kinh tế, những ci cỏch m thực dân Pháp tiến hành ở các làng xã Bắc Bộ đã đem lại cơ
hội phát triển mới cho ch t h
u rung t - mt nhõn t tớch cc cho s phỏt trin ca nông nghiệp Việt
Nam. Trong lĩnh vực giáo dục, nhng ci cỏch ca chính quyền thực dân cũng đã thay đổi giáo dục truyn
thng trong cỏc làng xã Việt Nam. Trc ht ú l s chm dt tỡnh trng tu tin, manh mỳn thiu h thng
vn cú ca giỏo dc lng xó. Thay cho tớnh t phỏt da trờn tinh thn hiu hc, ngi Phỏp ó a ra mt h
thng giỏo dc thng nht ton quc vi cỏc b
c hc t thp lờn cao. Mặc dù nội dung và phng thc giáo
dục cũn nhiu vn phi bn nhng nhng chuyn bin trờn õy cú th coi l tớch cc. ú l cha k tỏc
ng ca ci cỏch giỏo dc cũn em li nhng i thay rừ rt v phơng tiện và trang thiết bị giáo dục xây
dựng trờng học kiờn c ở các làng xã, lp hc cú bảng đen, bàn học, bản đồ thế giới, hc sinh dựng bút st,
mc khụng phi mi, vở vit khụng phi l giy dú và sau nữa là những môn học mới đợc đa vào giảng
dạy nh: lịch sử thế giới, triết học, toán, vệ sinh, thể dục. Về mặt tổ chức đào tạo, chng trỡnh học đợc tiến
hành theo thi khoa biu nh sn khin thy v trũ u ch ng, hc sinh n lp phải đợc điểm danh, kết
quả học tập đợc lu lại trong bảng điểm Đây là những điểm cha từng có trong giáo dục làng xã Việt Nam
truyn thng. Đây không đơn thuần chỉ là những biến đổi v hỡnh thc mà cú th coi l nhng bc phát triển
nhy vt. Sau ny khi cỏch mng Thỏng Tỏm thnh cụng, nhng phỏt trin giỏo dc ny đã đợc vận dụng
làm nền móng để xõy dng mt nn giỏo dc hin i tại Việt Nam.
3. Cựng vi nh
ng ỏnh giỏ v h qu cui cựng ca nhng chuyn bin nụng thụn Vit Nam do cỏc ci
cỏch thc hin bi chớnh quyn thc dõn mang li, bc tranh v thi k quỏ ny cũn cho thy quỏ trỡnh
chuyn bin din ra khỏ chm chp v khụng ng u gia cỏc vựng, min, gia cỏc lng xó ca mt vựng,
mt tnh, thm chớ mt huyn. Thc t ú cú nguyn nhõn t c hai phớa thc dõn Phỏp v lng xó. Th
c dõn
Phỏp ó xõy dng k hoch tham vng nhm to nh hng nhanh v mnh n tn cỏc n v lng xó, nhng
trờn thc t, h li khụng chun b nng lc v nhng tri thc cn thit v nụng thụn Viờt Nam nờn khi
trin khai ó phi i mt vi khụng ớt khú khn, thm chớ b chng i quyt lit. Chớnh ph Phỏp hu nh
khụng cú nhng chớnh sỏch di hn i v
i thuc a. ó vy, ngun nhõn lc v vn u t li thiu nghiờm
thành những trở ngại trong việc phát triển giáo dục.
4. Mt trong những nguyên nhân lm hn ch kt qu nhng chớnh sỏch ci cỏch ca thc dõn Phỏp nhm
biến đổi làng xã ở ng bng Bc b l sự khác biệt về văn hoá và sự thiu hiu bit ca chớnh quyn thc dõn
v nụng thụn Vit Nam truyn thng. Muốn tạo ra những thay đổi lớn trong thi gian ngn hon ton khụng
n gin. Khụng th ph nhõn nhng mt u vi
t ca ch hnh chớnh mi tuy do thc dõn em n nhng
l sn phm ca cỏch mng t sn. H thng ú mang tớnh cht ca dõn ch t sn i hi cụng khai, v tuõn
th theo h thng lut phỏp cú tớnh n ý kin ca ngi dõn.
Tuy nhiờn nhng biu hin dõn ch cũn rt hn ch y ngi Phỏp li u thỏc gn nh ton b cho h
th
ng cai tr trung gian nm trong tay ngi Vit phc v Phỏp. Nhng ngi ny thng ch quan tõm n
li ớch ca bn thõn v li ngi Phỏp nờn ớt khi thc hin ỳng nhng qui trỡnh ci lm khụng ci bao gi
cng gii quyt tt nhng vn ny sinh gia thc dõn Phỏp v lng xó. Mt khỏc, do tp quỏn qun lý lng
xó vn duy trỡ gn nh nguyờn vn nhng quan h hnh chớnh truyn thng vi c trng
m, phi cụng
khai, tu tin, khụng cú k hoch, nờn lng xó xut hin mt hin tng ph bin l nhng ngi cú th
lc hp nhau li trờn mi cỏch chng i tng lp trớ thc mi c o to qua trng lp ca Phỏp gia nhp
vo b mỏy qun lý hnh chớnh lng xó. Mt khỏc, lc lng ny chm lo cng c hng ng tiu triu
ỡnh duy trỡ th l
c v quyn li ca mỡnh. Ngi Phỏp mun xoỏ b hon ton nhng tp quỏn ó hỡnh
thnh v tn ti lõu i nh vy xõy dng mt nn hnh chớnh theo li phng Tõy dng nh l iu
thụng thng.
Về phơng diện rung đất, chớnh sỏch ca Phỏp to iu kin thun li cho s phỏt trin ca ch t
hu, nhng li khụng can thip trc tip đất đai. Về cơ bản
cu trỳc rung t lng xó không có sự biến đổi
lớn. Sự thay đổi trong quan hệ sở hữu ruộng đất thời kỳ này ch yu chịu ảnh hởng t chớnh sỏch tụ thu ca
thực dân Pháp. Di tỏc ng ca chớnh sỏch ny, rung t cng nhanh chúng tp trung vo tay a ch giu
cú. Trong hoàn cảnh nh vậy, việc hình thành cơ sở của mối quan hệ sở hữu đất đai mới theo hình thức chủ
nghĩa t bản đã cú nhng bc phỏt trin mnh nụng thụn.
Trong thời kỳ quá độ từ ch phong kin sang xã hội cận đại, ging nh cỏc lng xó khỏc, xã Mễ Trì