BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
DƯƠNG THU THỦY
QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA
HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC
VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
Chuyên ngành:
Mã số:
Văn học Việt Nam
62 22 34 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS TRẦN HỮU TÁ
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
DƯƠNG THU THỦY
QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA
HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC
VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
Chuyên ngành:
Mã số
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................... 03
2. Mục đích nghiên cứu .............................................................................. 04
3. Lịch sử vấn đề ........................................................................................ 04
4. Giới hạn của đề tài.................................................................................. 12
5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 16
6. Đóng góp của luận án ............................................................................. 16
7. Cấu trúc luận án ..................................................................................... 17
NỘI DUNG
Chương 1 - Những tiền đề cơ bản của quá trình hiện đại hóa hoạt động
nghiên cứu văn học Việt Nam .............................................. 18
1.1. Tiền đề lịch sử - xã hội...................................................................... 18
1.2. Tiền đề văn hóa - văn học ................................................................. 25
1.3. Tiền đề vật chất - kỹ thuật ................................................................. 48
Chương 2 - Những chặng đường phát triển của hoạt động nghiên cứu
văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX ................................. 54
2.1. Giai đoạn 30 năm đầu thế kỷ XX ...................................................... 55
2.1.1. Ảnh hưởng của quan niệm cổ điển trong hoạt động nghiên cứu
văn học ..................................................................................... 55
2.1.2. Bước khởi đầu của quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu
văn học ..................................................................................... 58
2.2. Giai đoạn 1930 - 1945 - Những chuyển biến trong quá trình hiện đại
hóa hoạt động nghiên cứu văn học ................................................... 71
1
2.2.1. Nghiên cứu văn học sử - Thành tựu và hạn chế ........................... 72
2.2.1.1. Những công trình riêng về từng thời kỳ, từng lĩnh vực văn học
......................................................................................................... 72
2.2.1.2. Những công trình khái quát cả quá trình văn học ............... 103
2.2.2. Nghiên cứu văn học nước ngoài - Thành tựu và hạn chế............ 129
nhóm Lê Quý Đôn, Văn học Việt Nam (1900 - 1945) (1999) do Phan Cự Đệ
chủ biên, Lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945 (1976), Văn học Việt Nam
giai đoạn 1930 - 1945 (1981), Văn học Việt Nam thế kỷ XX (Những vấn đề
lịch sử và lý luận) (2004),... của các tập thể tác giả, và một số cuốn sách khác
như bộ sách Lược khảo văn học (1963, 1968) của Nguyễn Văn Trung, Việt
Nam văn học sử giản ước tân biên (1965) của Phạm Thế Ngũ, bộ sách Bảng
lược đồ văn học Việt Nam (1967) của Thanh Lãng, Văn học sử thời kháng
Pháp 1858 - 1945 (1972) của Lê Văn Siêu, ... đều có đề cập ít nhiều đến
thành tựu của hoạt động nghiên cứu văn học bên cạnh các thành tựu của sáng
tác văn học đầu thế kỷ XX.
Tuy nhiên, việc tổng kết riêng về lĩnh vực nghiên cứu văn học, đặc biệt
là giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, vẫn chưa được quan tâm thỏa đáng. Những
cuốn sách tổng kết riêng về lĩnh vực nghiên cứu văn học Việt Nam nói chung
và đối với giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX nói riêng hầu như rất hiếm. Không
thoả mãn với những thành tựu của lĩnh vực nghiên cứu văn học phần lớn mới
3
chỉ được nhắc đến bên cạnh những thành tựu về sáng tác trong các cuốn lịch
sử văn học, chúng tôi cho rằng chỉ có việc nghiên cứu chuyên biệt để tổng kết
riêng các thành tựu nghiên cứu văn học thì mới đánh giá được thỏa đáng hoạt
động của lĩnh vực này. Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Quá trình hiện
đại hoá hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX” để
thực hiện luận án nhằm đáp ứng phần nào mối quan tâm về quá trình hiện đại
hóa và sự đóng góp của hoạt động nghiên cứu văn học trong quá trình hiện
đại hóa nền văn học dân tộc nói chung.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Quá trình hiện đại hoá hoạt động nghiên cứu văn
học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX”, chúng tôi nhằm hướng đến những mục
đích sau:
đóng góp không nhỏ vào quá trình hiện đại hóa văn học đương thời và đặt nền
móng quan trọng cho hoạt động nghiên cứu văn học của giai đoạn sau này.
Tuy nhiên, cho đến nay, bên cạnh những thành tựu về sáng tác, lý luận, phê
bình đang được giới nghiên cứu quan tâm, có thể nói, chưa có một công trình
khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện về những thành tựu và hạn chế
của quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam giai đoạn
nửa đầu thế kỷ XX.
Từ trước năm 1945, lĩnh vực nghiên cứu, phê bình cũng đã được nhiều
nhà nghiên cứu đề cập đến. Các vấn đề như quan điểm, phương pháp, thể loại,
tác giả, tác phẩm đã được các tác giả Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Thạch Lam,
Kiều Thanh Quế, Diệu Anh Đinh Gia Trinh, Nguyễn Văn Tố… đem ra bàn
bạc. Toàn bộ hoạt động nghiên cứu văn học giai đoạn này đều được các nhà
nghiên cứu gọi chung là: phê bình văn học. Và như thế là xuất hiện một kiểu
“phê bình của phê bình”. Trong Nhà văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan,
chúng ta thấy tác giả đã có ý xếp riêng những nhà văn viết phê bình và nghiên
5
cứu vào cùng một phần để đánh giá và phê bình các tác giả đó.
Từ sau năm 1945 đến 1975, các bộ lịch sử văn học đều dành sự quan
tâm khảo sát giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX. Bên cạnh phần nói về hoạt động
sáng tác, các công trình đều có đề cập ít nhiều đến hoạt động nghiên cứu văn
học. Tuy vậy, các công trình phần lớn đều xem hoạt động nghiên cứu văn học
giai đoạn này như là một hình thức của phê bình văn học. Có thể kể những
công trình tiêu biểu có đề cập đến hoạt động phê bình, nghiên cứu văn học
giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX như: Lược thảo văn học Việt Nam (tập 3, 1957,
Nhóm Lê Quý Đôn soạn); Bảng lược đồ văn học Việt Nam (Nxb Phong trào
Văn hóa, Sài Gòn, 1967) và Phê bình văn học thế hệ 1932 - 1945 (Nxb Phong
trào Văn hóa, Sài gòn, 2 tập, 1972 - 1975) của Thanh Lãng; Việt Nam văn học
sử giản ước tân biên 1862 - 1945 (Nxb Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1965)
phê bình và các loại tác gia phê bình. Theo tác giả, giai đoạn này có năm quan
niệm phê bình: Phê bình ấn tượng chủ quan giáo điều (Đào Duy Anh, Thiếu
Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Trương Chính), Phê bình giáo khoa (Trần
Thanh Mại, Lê Thanh, Kiều Thanh Quế, Dương Quảng Hàm…), Phê bình
luân lý (Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng,
Hải Triều, Mộng Sơn, Thái Phỉ, Lê Thanh…), Phê bình phân tâm học
(Nguyễn Văn Hanh, Trương Tửu), Phê bình xã hội (Hải Triều, Nguyễn Bách
Khoa)...
Ngoài những công trình vừa nêu, rải rác trong cuốn sách Văn học sử thời
kháng Pháp 1858 - 1945 (Nxb Trí Đăng, Sài Gòn, 1972), Lê Văn Siêu có đề
cập đến vấn đề biên khảo và phê bình, cũng như có giới thiệu qua các nhà phê
bình, nghiên cứu văn học như Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Phan Văn Hùm,
Hồ Hữu Tường, Trần Thanh Mại, Hoài Thanh, Trương Tửu.
Sau 1975, các công trình nghiên cứu về hoạt động phê bình, nghiên cứu
văn học giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX ngày càng được quan tâm. Bên cạnh các
7
bộ Lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn 1900 - 1930 (Nxb Giáo dục, Hà Nội,
1981) và Lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 do Huỳnh Lý,
Nguyễn Trác, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành Khung, Hoàng Dung biên
soạn chỉ dành một số trang viết khiêm tốn về hoạt động phê bình, nghiên cứu
văn học so với hoạt động sáng tác, thì gần đây, chúng ta thấy có nhiều bài
viết, sách chuyên khảo, luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ đề cập riêng đến
thành tựu nghiên cứu và phê bình của một số nhà nghiên cứu - phê bình đã
sống qua cả hai thời kỳ. Luận văn thạc sĩ của Phạm Thị Mến: Những đóng
góp về mặt lý luận phê bình của Hoài Thanh trước Cách mạng tháng Tám
(Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội, 2001); luận án tiến
sĩ của Trần Hạnh Mai: Sự nghiệp phê bình văn học của Hoài Thanh (Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội, 2000, Nxb Giáo dục, 2003); luận văn thạc
Trần Mạnh Tiến đã khái quát một cách toàn diện và có hệ thống về tình hình,
đặc điểm và thành tựu lý luận phê bình văn học 30 năm đầu thế kỷ. Tác giả đã
nêu lên một số đặc trưng của văn học, các mối quan hệ cơ bản của văn học,
tác dụng của văn học; quan niệm về tác phẩm văn học và đề cập đến hai thể
loại chính là thơ và tiểu thuyết; về phê bình văn học, Trần Mạnh Tiến nêu ra
hai khuynh hướng trong phê bình văn học đầu thế kỷ là phê bình truyền thống
và phê bình mới, giới thiệu các quan điểm cũng như những đánh giá về cuộc
tranh luận Truyện Kiều giữa những năm 20 của thế kỷ XX. Tóm lại, cuốn
sách trên chỉ đề cập về lý luận phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Cũng nghiên cứu về phê bình văn học, Nguyễn Thị Thanh Xuân trong
công trình Phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (1900 - 1945) đã
khái quát sự hình thành và phát triển của phê bình văn học Việt Nam giai
đoạn nửa đầu thế kỷ XX, đồng thời giới thiệu 12 tác giả phê bình tiêu biểu ở
giai đoạn này là: Phạm Quỳnh, Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Trần Thanh Mại,
9
Trương Chính, Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Hải Triều, Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa, Đặng Thai Mai, Lê Thanh, Kiều Thanh Quế. Theo tác
giả, phê bình văn học giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX là một nền phê bình văn
học “đã có cơ sở lý luận tuy chưa hoàn chỉnh”, phê bình văn học giai đoạn
này đã phát triển một cách nhanh chóng về nhiều mặt, trong đó rõ nhất là
ngôn ngữ phê bình. Và cuốn sách cũng tập trung đề cập đến mảng phê bình
của ngành nghiên cứu văn học.
Gần đây, trong cuốn Phương pháp luận nghiên cứu văn học (Nxb Khoa
học Xã hội, Hà Nội, 2004), Nguyễn Văn Dân cũng đã đánh giá sự đóng góp
về mặt phương pháp nghiên cứu của một số tác giả thời trước Cách mạng như
Trần Thanh Mại, Hoài Thanh và Trương Tửu - Nguyễn Bách Khoa, đồng thời
chỉ ra những hạn chế về quan điểm phương pháp luận của họ. Nhưng đây vốn
là một cuốn sách bàn về Phương pháp luận nên tác giả chỉ chủ yếu nêu lên
những đóng góp cũng như những hạn chế về phương pháp nghiên cứu của các
phẩm tiêu biểu, kèm theo vài lời nhận định hết sức ngắn gọn.
Chuyên luận Lý luận, phê bình văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến
1945 (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2005) do Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên
đã giới thiệu 27 bài viết về hoạt động lý luận, phê bình nửa đầu thế kỷ của các
tác giả: Nguyễn Ngọc Thiện, Hà Công Tài, Cao Kim Lan, Trịnh Bá Đĩnh, Tôn
Thảo Miên, Nguyễn Đăng Điệp, Đinh Thị Minh Hằng. Cuốn sách ngoài phần
mở đầu (Khái quát: Động lực lớn của lý luận - phê bình văn học Việt Nam
nửa đầu thế kỷ XX) và phần kết luận (Sự phát triển tiếp nối của lý luận, phê
bình văn học nửa đầu thế kỷ XX đến nay) có ba chương. Chương một và
chương hai, nghiên cứu về sự phát triển của lý luận và phê bình văn học Việt
Nam nửa đầu thế kỷ XX. Chương ba giới thiệu mười tác gia lý luận, phê bình
văn học tiêu biểu gồm: Phan Khôi, Thiếu Sơn, Hải Triều, Hoài Thanh, Trần
Thanh Mại, Trương Chính, Trương Tửu - Nguyễn Bách Khoa, Lê Thanh, Vũ
11
Ngọc Phan, Đặng Thai Mai. Tóm lại, nội dung chính của cuốn sách là nghiên
cứu về lý luận, phê bình văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945.
Ngoài các cuốn sách nói trên, ta còn có thể tìm gặp những ý kiến nhận
xét, đánh giá về từng tác gia, hay từng tác phẩm phê bình, nghiên cứu văn học
giai đoạn này trên nhiều sách, bài báo, tạp chí của các nhà nghiên cứu, nhà
văn có uy tín. Tuy nhiên, hầu như chưa có một cuốn sách nào tập trung khảo
sát và tổng kết về quá trình hiện đại hoá hoạt động nghiên cứu văn học ở giai
đoạn nửa đầu thế kỷ XX. Đây vẫn còn là một lĩnh vực cần phải bổ khuyết, và
đề tài Quá trình hiện đại hoá hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam
nửa đầu thế kỷ XX của chúng tôi sẽ cố gắng đóng góp cho công việc tổng
kết này.
4. Giới hạn của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là các công
trình nghiên cứu văn học ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX đã có độ lùi thời gian
khứ, khảo sát nó như một quá trình, hoặc khảo sát một trong số các thời đoạn
của quá trình đó; Phê bình văn học chú ý đến trạng thái hiện tại của văn học
đương thời, nó cũng chú ý lý giải văn học quá khứ từ quan điểm những vấn
đề xã hội và nghệ thuật hiện thời. Ở trình độ phát triển cao và tính chuyên
môn sâu, nghiên cứu văn học là tên gọi chung cho nhiều bộ môn nghiên cứu
cụ thể, tương đối độc lập, tiếp cận cùng một đối tượng nghiên cứu là văn học
từ những góc độ khác nhau.
Căn cứ vào những nội hàm khái niệm vừa nêu, chúng ta thấy rằng phê
bình văn học và nghiên cứu văn học là hai bộ phận có mối quan hệ gần gũi
nhưng là hai bộ phận khác nhau. Phê bình văn học có tính chất khen chê
những tác phẩm mang tính thời sự, kịp thời; trong khi nghiên cứu văn học
nhìn một cách toàn diện, thấy được bản chất bên trong và ngoài của đối tượng
thường là đã ổn định. Từ phê bình văn học chuyển sang nghiên cứu văn học
13
chỉ là một bước đơn giản. Chẳng hạn: Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam,
Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại, nghiên cứu về những nhà văn, nhà thơ
đương thời vừa có chất phê bình nhưng giá trị nghiên cứu vẫn rõ nét vì chất
khái quát của người viết. Nghiên cứu văn học và phê bình văn học đều phải
lấy lý luận làm nền. Sự phát triển mạnh mẽ của nghiên cứu nằm chung trong
hệ thống nghiên cứu, lý luận, phê bình chứng tỏ nền văn học dân tộc đã phát
triển tới mức toàn diện.
Trên cơ sở tích hợp và tiếp biến những khái niệm nghiên cứu văn học
trong các công trình đã nêu trên, chúng tôi quan niệm: hoạt động nghiên cứu
văn học là quá trình xem xét, tìm hiểu, đánh giá một cách hệ thống, toàn diện
các tác gia, tác phẩm, hiện tượng văn học quá khứ hoặc đương thời đã có độ
lùi thời gian nhất định (kể cả văn học trong nước và nước ngoài).
4.3.2. Khái niệm “Quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn
học”
ra liên tục không ngừng. Ở giai đoạn ba mươi năm đầu thế kỷ (từ 1900 đến
1930) là bước chuẩn bị cho sự chuyển mình của văn học, trong đó mười năm
cuối của giai đoạn này, công cuộc hiện đại hóa văn học đã đạt được một số
thành tựu đáng ghi nhận. Giai đoạn từ 1930 đến 1945, quá trình hiện đại hóa
nền văn học được đẩy lên một bước mới với nhiều cuộc cách tân văn học sâu
sắc và toàn diện, đặc biệt là sự ra đời các thể loại văn học mới. Đến đây, sự
đổi mới đã thể hiện một cách toàn diện, triệt để. Nền văn học Việt Nam lúc
này, nhìn tổng thể, đã mang tính hiện đại từ nội dung đến hình thức, không
còn lạc điệu trong văn học của thế giới hiện đại.
Đặt vào bối cảnh chung của quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam
giai đoạn này, theo chúng tôi: hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học là
sự thay đổi về tư duy của các nhà nghiên cứu để từ đó có sự đổi mới trong
cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu nhằm
15
đánh giá đối tượng một cách khách quan, khoa học và toàn diện. Đó là một
quá trình diễn ra liên tục, không ngừng, khiến văn học nói chung và hoạt động
nghiên cứu văn học nói riêng dần dần mang những đặc điểm và tính chất
riêng của văn học đương thời so với văn học thời trung đại.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Đây là đề tài nghiên cứu một giai đoạn trong lịch sử nghiên cứu văn học
Việt Nam, nhằm tổng kết và đánh giá những thành tựu và hạn chế của công
cuộc hiện đại hoá hoạt động nghiên cứu văn học, do vậy, phương pháp chủ
yếu được sử dụng trong luận án này là phương pháp nghiên cứu văn học sử.
Sử dụng phương pháp này đòi hỏi người thực hiện phải đặt đối tượng nghiên
cứu trong mối quan hệ với môi trường văn hóa, xã hội, lịch sử giai đoạn nửa
đầu thế kỷ XX, đồng thời phải xem xét và khảo sát chúng trong sự vận động
chung của văn học Việt Nam trong thời điểm nghiên cứu.
5.2. Ngoài phương pháp chủ yếu nói trên, chúng tôi đã sử dụng các phương
cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Chương 3- Những đổi mới về phương pháp nghiên cứu
17
NỘI DUNG
Chương 1 - NHỮNG TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CỦA QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA
HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM
1.1. Những tiền đề lịch sử - xã hội
1.1.1. Quá trình xâm lăng của thực dân Pháp và những chuyển biến về
thể chế chính trị
1.1.1.1. Năm 1858, thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên ở Đà Nẵng, báo
hiệu cuộc xâm lược chính thức nước ta. Tính từ khi đồn Kỳ Hòa thất thủ
(1861), Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông (1862) rồi chiếm cả sáu tỉnh Nam Kỳ
(1867), cho đến hòa ước Patenôtre (1884) thì Việt Nam hoàn toàn mất hết độc
lập chủ quyền. Từ đó đã dẫn đến nhiều chuyển biến cực kỳ quan trọng trong
xã hội: nước Việt Nam phong kiến nông nghiệp trở thành nước thuộc địa nửa
phong kiến với hai tầng áp bức: thực dân Pháp và vua quan, địa chủ phong
kiến. Chính biến cố trọng đại này đã làm biến đổi sâu xa mọi phương diện,
trong đó có văn học nghệ thuật, của đất nước ta.
Ngay sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân Nam Kỳ đã
không ngừng đứng lên chống Pháp, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của
Trương Định, Hồ Huân Nghiệp, Nguyễn Hữu Huân, Võ Duy Dương, Nguyễn
Trung Trực… Trong hoàn cảnh bấy giờ, tuyệt đại đa số nhân dân không hợp
tác với chính quyền địch. Có nhiều nơi, người dân tự tay đốt nhà cửa, vườn
tược. Những người không có điều kiện đi theo nghĩa quân thì họ cũng “tị địa”
ra khỏi “đất quỷ” (vùng đất bị Pháp chiếm - Dương Thu Thủy).
Tuy nhiên, các phong trào kháng Pháp lần lượt đi vào bế tắc, thất bại.
Tĩnh Túc (Cao Bằng), bạc ở Ngân Sơn (Bắc Cạn), vàng ở Bồng Miêu (Quảng
Nam)… đều được bổ sung thêm vốn, nhân công và đẩy mạnh tiến độ khai
thác. Giao thông vận tải, đã được thực dân Pháp đầu tư xây dựng ngay từ
đầu, nay được tiếp tục đầu tư vốn và kỹ thuật. Ngoài các tuyến đường sắt ở
19
miền Nam, thực dân Pháp tiếp tục xây dựng các tuyến đường sắt như Vinh Đông Hà, Đồng Đăng - Na Sầm. Đường bộ cũng tiếp tục được xây dựng. Nếu
như đường sắt, đường bộ có vị trí quan trọng trong kinh tế đối nội, thì đường
thủy đóng vai trò chủ đạo trong kinh tế đối ngoại. Vì thế, cùng với các hải
cảng đã xây dựng trong đợt khai thác thuộc địa lần thứ nhất như cảng Sài
Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng, thực dân Pháp tiếp tục cho xây dựng các hải cảng
mới như Hòn Gai, Bến Thủy... Mạng lưới vận tải đường sông vùng châu thổ
sông Hồng và sông Cửu Long cũng được khai thác triệt để.
Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn lợi dụng quyền thống trị về chính trị để
duy trì bộ máy quan liêu, cường hào và những luật lệ của chế độ phong kiến
để ra sức chiếm đoạt ruộng đất, tăng cường bóc lột sưu thuế, sưu dịch, làm
phá sản nông dân và thợ thủ công, tạo ra nguồn nhân công rẻ mạt để thực hiện
công cuộc khai thác tại thuộc địa và xuất khẩu lao động sang Pháp. Kết quả
của các chính sách ấy là nền kinh tế cổ xưa bị phân giải, lưu thông hàng hóa
phát triển, nước ta bị kéo vào quỹ đạo chủ nghĩa tư bản. Thực dân Pháp biến
Việt Nam từ một nước đang theo chế độ “quân chủ” thành một nước theo chế
độ “thực dân nửa phong kiến”.
1.1.1.2. Sau khi đặt xong bộ máy chính quyền ở Việt Nam, thực dân
Pháp bắt đầu thực hiện âm mưu và chính sách Pháp hóa đối với dân tộc ta.
Với chính sách chia để trị, thực dân Pháp chia Việt Nam ra làm ba kỳ riêng
biệt (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ). Mỗi kỳ có một chính sách luật lệ riêng,
trong đó Nam Kỳ trở thành xứ thuộc Pháp với những nét riêng về chính trị,
kinh tế, xã hội rộng, thoáng hơn so với Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Pháp tăng cường
tuyển mộ lính và khai thác kinh tế thuộc địa, lập nhiều đồn điền ở Nam Bộ,