Nghiên cứu văn học Việt Nam trong xu thế hiện đại hóa và toàn cầu hóa tri thức - Pdf 28

Nghiên cứu văn học Việt Nam trong xu thế hiện đại hóa và toàn cầu hóa tri
thức
Trần Đình Sử
Nghiên cứu văn học (bao gồm lí luận, phê bình, khảo cứu văn bản, tác giả, biên
soạn lịch sử văn học)
[1]
với tư cách là sự ý thức về văn học có ý nghĩa quan trọng
đối với đời sống của văn học, giáo dục và sinh hoạt văn hoá nói chung của một
dân tộc. Một nền nghiên cứu văn học phát triển sẽ tác động nhiều mặt đến nhà
văn, người đọc, văn hoá, xã hội của một dân tộc và sự giao lưu quốc tế. Trình độ
nghiên cứu văn học trực tiếp ảnh hưởng đến giáo dục văn học của một nước.
Nghiên cứu văn học Việt Nam đang ở vào giai đoạn tiếp xúc văn hoá thế giới
rộng rãi nhất của thời đại hội nhập, toàn cầu hoá tri thức, đang mở ra nhiều triển
vọng, có nhiều trách nhiệm và thách thức chưa từng có.
Nghiên cứu văn học trước hết là một khoa học, khoa học nhân văn
[2]
, khám phá
đời sống tinh thần con người qua các biểu hiện kí hiệu
[3]
, cho nên nó chỉ xuất
hiện khi nào bản chất xã hội của văn học được phát hiện, phương pháp nghiên
cứu đựơc ý thức và được xác lập. Đó chính là lí do vì sao Việt Nam tuy có lịch sử
lâu đời, có hơn mười thế kỉ văn học, song nghiên cứu văn học lại xuất hiện rất
muộn màng. Tuy đã có những tập sưu tập văn chương, thơ phú từ thế kỉ XV, và
có lúc cũng có những lời bình, lời phê về văn chương, song các vấn đề tác giả,
văn bản, dị bản, đặc điểm thể loại,… chưa bao giờ được quan tâm, coi là đối
tượng nghiên cứu văn học
[4]
. Các thể loại tựa, bạt, thư, luận xuất hiện từ thế kỉ
XV, nói một cách chặt chẽ, đều chưa phải là thể loại nghiên cứu văn học. Điều đó
một phần gắn liền với đặc điểm “Tổ tiên ta ít làm lí luận”,

những năm 80 đến hết thế kỉ, đổi mới nghiên cứu chủ yếu dựa trên nền tảng lí
luận phi chính thống của Liên xô cũ. Từ đầu thế kỉ XXI ảnh hưởng Nga nhạt dần,
ảnh hưởng phương Tây đang đậm lên trong thế hệ những nhà nghiên cứu trẻ
biết tiếng Pháp, tiếng Anh, xuất hiện những dấu hiệu của một giai đoạn nghiên
cứu văn học mới, mà hầu hết công trình tập hợp trong sách này đều chỉ nhằm
thể hiện cho xu hướng mới đó. Sự xuất hiện và mức độ hội nhập càng ngày càng
gia tăng của nghiên cứu văn học Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá không
thể đảo ngược về mặt kinh tế cũng như văn hoá, tri thức là điều dễ hiểu.
Nhìn qua lược đồ nêu trên một vấn đề đặt ra là nghiên cứu văn học Việt Nam đã
và đang ở đâu rồi sẽ đi về đâu?
1. Từ đối lập đi đến hội nhập
Nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại hình thành trong bối cảnh cuộc đấu tranh
giành độc lập dân tộc và trong khung cảnh xung đột ý thức hệ toàn cầu, cho nên
đã phân hoá thành hai xu hướng chính: xu hướng hấp thu những thành tựu
nghiên cứu văn học nước ngoài xây dựng nên nghiên cứu văn học dân tộc và xu
hướng hấp thu chủ nghĩa Mác, xây dựng nền nghiên cứu văn học theo hướng
chính trị, phục vụ sự nghiệp cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo. Ngay trong
thời kí hình thành đầu tiên, cuộc hiện đại hoá nghiên cứu văn học đã hình thành
trong thế đối lập. Cuộc đụng độ giữa Phạm Quỳnh với Ngô Đức Kế trong vụ
án Truyện Kiều, cuộc tranh luận nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân
sinh năm 1936 – 1939, cuộc tranh luận văn nghệ Việt Bắc, cuộc đấu tranh chống
nhóm nhân văn giai phẩm, cuộc đấu tranh chông chủ nghĩa xét lại, rôì sau ngày
thống nhát nước nhà cuộc đấu tranh chống văn hoá thực dân mới… đã tách
nghiên cứu văn học làm hai hướng, hướng văn học học phát triển theo hướng
chính trị cách mạng vô sản và hướng nghiên cứu văn học theo nhu cầu phát
triển văn hoá nói chung được mệnh danh là tư sản.
Lí luận văn học mác xít Việt Nam trực tiếp trình bày các quan điểm về văn học
nghệ thuật, tập trung vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chững và duy vật lịch sử
nhằm khẳng định nguyên lí văn nghệ phục vụ chính trị, nghiên cứu văn học
phục vụ cách mạng, đấu tranh chống lại các quan điểm thù địch. Có thể gọi nền

nghĩa tối cao về nhận thức mà tư duy của một người có thể đạt tới, thì ai cũng
biết, căn bản không thể có, căn cứ vào kinh nghiệm có được cho đến hôm nay,
thì những chỗ cần hoàn thiện trong các tư tưởng đó còn nhiều hơn rất nhiều
những chỗ đúng đắn, không cần hoàn thiện của chúng.”
[9]
Điều này đúng với
mọi tư rưởng, kể cả ttư tưởng của Mác. Thực tế không có cái đúng mãi mãi.
Nhiều hiện tượng văn học lớn của dân tộc như thơ Mới, tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn, các công trình nghiên cứu văn học trước 1945… đã được giới nghiên cứu
văn học mác xít ở ta nhìn nhận không đúng, thiên về hạ thấp mà sau này, đến
thời Đổi mới, sau khi lí luận được điều chỉnh, đã được đánh giá lại thoả đáng
hơn. Với quan điểm lí luận văn học mác xít được hiểu theo quan điểm chính trị,
các lí luận văn học phương Tây đều nhất loạt được coi là lí luận tư sản hoặc là
xét lại. Giáo sư Phan Cự Đệ nhận định về các trường phái lí luận phương Tây:
“Lí luận phê bình cũng là một hình thức đấu tranh tư tưởng trên mặt trận văn
nghệ nói riêng, trên lĩnh vực các hình thái ý thức nói chung. Cho nên phương
pháp phê bình văn học gắn liền rất chặt chẽ với những quan điểm chính trị, triết
học và mĩ học của các nhà văn. Những phương pháp phê bình của nền nghệ
thuật tư sản như thực chứng luận của Auguste Comte, phân tâm học của Freud,
chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa cấu trúc, hiện tượng luận…, chạy theo những
quan điểm mĩ học tư sản như lí thuyết nghệ thuật vị nghệ thuật của chủ nghĩa
lãng mạn, mĩ học của Kant, Hegel và Bergson, mĩ học của các nhà hiện đại chủ
nghĩa và các trường phái suy đồi ở phương Tây.”
[10]
Với quan điểm như thế,
nghiên cứu văn học mác xít ở Việt Nam đóng dấu “tư sản” lên hầu hết mọi sáng
tạo văn hoá hiện đại của nhân loại, từ chối nghiên cứu, vận dụng mọi tư tưởng lí
luận được gọi là phi mác xít. Còn nhớ nỗi sợ hãi của những ai vào những năm 60
có hứng thú với thuyết cấu trúc. Và đến năm 1971, mười năm sau khi lí thuyết
mĩ học tiếp nhận đã phổ biến trên thế giới, nhưng ở ta khi có người nêu lên vai

Du và Truyện Kiều, một số chuyên luận nghiên cứu phong trào thơ mới, tiểu
thuyết Việt Nam hiện đại theo các phạm trù như tính chiến đấu, tính nhân dân,
giá trị hiện thực, phương pháp sáng tác… Trong thời gian ấy ở đô thị miền Nam
dưới chính quyền Mĩ nguỵ, bên cạnh khuynh hướng văn nghệ yêu nước, cách
mạng, có bộ phận đã tiếp nhận đủ loại tư tưởng phương Tây từ chủ nghĩa cấu
trúc, chủ nghĩa hiện sinh Sartre, hiện tượng luận Heidegger, chủ nghĩa Freud,
phân tâm học của Bachelard, Ch. Mauron, phê bình chủ đề của Richard, chủ
nghĩa cấu trúc của L. Goldmann, R. Barthes…Lược khảo văn học của Nguyễn
Văn Trung là một giáo trình giới thiệu các khuynh hướng phê bình văn học hiện
đại, nhiều tác giả đã vận dụng các phương pháp mới để nghiên cứu văn học cổ
điển và hiện đại Việt Nam…
Bước sang những năm 80, trong bối cảnh đất nước thống nhất, song song với quá
trình đổi mới nền kinh tế, tư duy văn học cũng được đổi mới, đặc biệt là từ năm
1986. Tư tưởng văn nghệ cơ bản vẫn là lí luận mác xít, song đã có sự mở rộng,
chúng ta đã tiếp thu lí luận văn học của những tác gia chính thống có đổi mới
như Khrapchenco, Xushkov, Pospelov…và phi chính thống trong nền lí luận xô
viết như M. Bakhtin, Ju. Lotman… Phong trào “perestroica” của Nga cũng góp
phần làm thông thoáng tư tưởng văn nghệ ở Việt Nam. Bên cạnh nghiên cứu,
phê bình văn học theo hướng chính trị – xã hội truyền thống đã có thêm hướng
nghiên cứu phong cách học, thi pháp học, phân tâm học đối với văn học Việt
Nam và văn học thế giới. Bước vào những năm 90, khi bắt đầu công cuộc mở cửa
làm bạn với các nước trên thế giới, tham gia hội nhập kinh tế, thông tin, tri thức
một khuynh hướng mới đang bắt đầu trong đời sống tư tưởng và văn nghệ. Rất
nhiều sách văn học, đặc biệt là sách nghiên cứu khoa học xã hội và khoa học
nhân văn được dịch ra tiếng Việt đã góp phần thúc đẩy sự giao lưu nhiều măt,
toàn diện với văn hoá thế giới. Công trình khoa học của các tác giả tư sản nay
được phiên dịch giới thiệu trang trọng, một số bản dịch lưu hành trước đây ở
miền Nam dưới chế độ cũ được in lại. Một số nhà nghiên cứu Việt nam đã
nghiên cứu, giới thiệu những vấn đề lí luận văn học hậu hiện đại. Các sự kiện đó
đánh dấu một quá trình, trong đó sự đối lập gay gắt trước đây đã giảm đi, một

phép biện chứng, nét đặc sắc riêng của mỗi người bị giảm đi. Nhà nghiên cứu
nói chung không quan tâm lựa chọn phương pháp riêng cho mình, mà cốt tìm
hiểu, vận dụng phương pháp chung cho đúng, không rơi vào vũng bùn tư sản,
xét lại là được. Nhiều người mong muốn tìm trong kho tàng kinh điển một ít câu
nói đặc sắc mà chưa ai trích dẫn rồi đem ra diễn giải, vận dụng để được gần hơn
với thê giới quan chung. Họ có vẻ như ít có hoài bão riêng về quan điểm và
phương pháp học thuật, họ chỉ khác nhau chủ yếu về đối tượng và nội dung
nghiên cứu, tôi nghiên cứu thơ, anh nghiên cứu tiểu thuyết, tôi viết lí luận, anh
viết phê bình, khác nhau chỉ về tư liệu (cho nên có hiện tượng ai có tư liệu quý là
đem giấu đi, không cho người khác biết!), về cảm thụ, cá tính và cách trình bày.
Để duy trì mọi người trong khuôn khổ phương pháp chung, nhiều nhà lí luận có
trách nhiệm luôn luôn bàn về phương pháp luận mác xít, phê phán các phương
pháp và phương pháp luận tư sản, duy tâm, đồi truỵ. Kết quả là nhiều bộ lí luận
văn học, lịch sử văn học ở các trường đại học, thuộc các nhóm tác giả biên soạn
gần như na ná nhau, chỉ khác nhau về chi tiết. Đề tài muôn thuở của lí luận văn
học vẫn là tư tưởng của Lênin, thế giới quan và sáng tác, văn học phản ánh hiện
thực, phương pháp sáng tác, chủ nghĩa hiện thực, chức năng giáo dục, tư tưởng,
tính chiến đấu, tính dân tộc của văn học, (Vũ Đức Phúc, Nam Mộc, Hoàng Trinh,
Phương Lựu, Thành Duy…) phê phán các lí thuyết tư sản, xét lại (Tố Hữu,
Hoàng Xuân Nhị, Đỗ Đức Hiểu, Hoàng Trinh, Hoàng Nhân…). Đề tài phê bình
văn học, ngoài việc phê bình các tác phẩm văn học được coi là lệch lạc, có vấn đề
về tư tưởng, đối tượng chủ yếu của phê bình văn học là thơ Tố Hữu, thơ, truyện
và kí Hồ Chí Minh, những tác phẩm từ tuyến đầu Tổ quốc hay những tác phẩm
ngợi ca cuộc sống mới, con người mới (Hoài Thanh, Xuân Diệu, Chế Lan Viên,
Hà Xuân Trường, Lê Đình Kỵ, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Phong Lê, Nhị Ca,
Nguyễn Văn Hạnh, …). Đề tài lịch sử văn học thì phong phú hơn, nhiều hiện
tượng văn học đã được đem soi xét theo quan điểm văn nghệ mác xít. Dù sao tư
liệu, cá tính, sự cảm thụ và cách trình bày cũng trạo nên sự khác biệt trong các
công trình nghiên cứu tiêu biểu đáng nhớ, hình thành một nền nghiên cứu văn
học mác xít có nét riêng của nó (Lê Đình Kỵ, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Đinh

Hoài Thanh nói mỗi nhà thơ mới đều mang trong đầu ba bốn nhà thơ Pháp,
nhưng thơ của họ đều đã hoàn toàn Việt hoá đã chứng tỏ cơ chế “biến khác”
trong sáng tạo các giá trị tinh thần. Chủ nghĩa phương Đông của Said là sản
phẩm của giải cấu trúc, hiển nhiên cũng thừa nhận sự biến khác của Derrida, và
bên trong “sự du hành của lí thuyết” hẳn cũng có cơ chế “diên dị”. Mặt khác, do
ý thức chủ thể, các nhà nghiên cứu thường làm một sự tổng hợp, sáng tạo mới
trong thực tế nghiên cứu. Dĩ nhiên, không phải mọi sự “tổng hợp mới” đều có
hiệu quả như nhau, nhưng nó không giản đơn là vận dụng cái có sẵn. Chẳng hạn
trong Nguyễn Du và Truyện Kiều, Trương Tửu đặt vấn đề nghiên cứu quan hệ tác
phẩm với cá tính nhà văn, mà cá tính được hiểu chủ yếu là phần tiềm thức của
con người, một khái niệm chỉ có trong tư tưởng của phân tâm học Freud, chưa hề
có trong tư tưởng của các nhà thực chứng thế kỉ XIX như Sainte – Beuve,
Hyppolite Taine chẳng hạn. Nhưng khi đi tìm cội nguồn của cá tính thì Trương
Tửu lại viện đến thuyết ba yếu tố của Taine. Như vậy phương pháp nghiên cứu
của Trương Tửu là sự kết hợp vừa phân tâm học Freud của thế kỉ XX, vừa ba
nhân tố của Taine thế kỉ XIX, nhưng ba nhân tố đóng vai trò yếu tố giải thích bên
ngoài, còn giải thích bên trong hình tượng thì lại là tiềm thức, thần kinh bệnh học
Freud. Dó đó lược quy phê bình của Trương Tửu trong Nguyễn Du và Truyện
Kiều vào phương pháp văn hoá lịch sử của H. Taine cũng thiếu xác đáng như quy
phương pháp phê bình của Hoài Thanh vào chủ nghĩa ấn tượng. Đúng là Hoài
Thanh đã sử dụng những thao tác trực giác, ấn tượng khi đi vào tác phẩm văn
chương, nhưng nói ông chỉ ở trong địa hạt văn chương (Nguyễn Văn Trung,
Phan Cự Đệ…), không biết đến xã hội thì không đúng. Chúng tôi đã nói dến vấn
đề này trong một bài viết cách đây trên mười năm
[12]
, phương pháp ấn tượng của
ông gắn với quan niệm về ảnh hưởng của hoàn cảnh, môi trường, ảnh hưởng
văn học nước ngoài, phương pháp văn học so sánh…Chẳng hạn, khi phê bình
Xuân Diệu, sau khi đã ghi nhận ấn tượng về thơ của thi sĩ này, Hoài Thanh viết:
“Nhưng thơ Xuân Diệu chẳng những diễn đạt được cái tinh thần cố hữu của nòi

yếu, một là quan niệm thống nhất nội dung và hình thức, hai là giải thích văn
học bằng xã hội, văn hoá lịch sử và ba là bằng chủ thể sáng tác của nhà văn. Sự
thống nhất hình thức và nội dung đã được Hegel nói đến trong Mĩ học với các
đặc trưng thống nhất hài hoà giữa nội dung và hình thức
[14]
, là sự thống nhất lí
tưởng tiêu biểu cho cái đẹp đích thực của nghệ thuật, trong đó có “sự đồng nhất
hoá thích hợp giữa yếu tố tinh thần và yếu tố tự nhiên”, “trung hoà hai mặt đối
lập”, ở đấy, “yếu tố tự nhiên tự bộc lộ mình một cách lí tưởng, tinh thần tự bộc lộ
mình trong cái tự nhiên và ở trong quan hệ đối với tự nhiên. Khái niệm hình
thức nghệ thuật cổ điển là dựa trên sự thống nhất này.”
[15]
Sự thống nhất hình
thức tự nhiên với nội dung tinh thần (khái quát – TĐS) đó làm cho kinh nghiệm
thẩm mĩ nghệ thuật và kinh nghiệm sinh hoạt hằng ngày thống nhất, thậm chí
đồng nhất với nhau, kí hiệu nghệ thuật chủ yếu lấy thẳng từ thế giới tự nhiên
(gồm cả tự nhiên xã hội), quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong
nghệ thuật thường khăng khít, vững bền. Người đọc thông thường bằng kinh
nghiệm đời thường đều hiểu được nghệ thuật. Sự phân biệt văn học với các hình
thái văn hoá khác chưa đến mức rạch ròi, quyết liệt. Từ sáng tác văn học cổ đại,
văn học Phục hưng đến chủ nghĩa cổ điển, qua chủ nghĩa tình cảm, chủ nghĩa
lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa nghĩa tự nhiên, văn học tuy có khác
nhau về phương pháp sáng tác, nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ hệ hình lí luận
cổ điển trong cấu trúc kí hiệu. Lí luận nghệ thuật cổ điển của Hegel trên thực tế
đã ảnh hưởng đến toàn bộ lí luận và phê bình văn học thế kỉ XIX, đặc biệt là đối
với của các nhà lí luận dân chủ cách mạng Nga, lí luận văn học mác xít. Đọc bất
cứ sách lí luận văn học mác xít nào đều thấy viện dẫn nguyên lí thống nhất nội
dung và hình thức của Hegel theo tinh thần cổ điển. Phản ánh đời sống trong
hình thức của bản thân đời sống, sáng tạo điển hình văn học trong đó cái điển
hình khái quát cao độ thống nhất dưới hình thức cá tính độc đáo không lặp lại, là

làm rối loạn sự thống nhất của văn hoá. Sự rối loạn từ ba hướng, kiến trì sự phân
giới giữa nghệ thuật và đạo đức, đề cao sáng tạo cái mới và coi trọng những tìm
tòi thí nghiêm, và đem cái tôi (cái tôi nguyên sáng và độc đáo) làm chuẩn mực
của văn hoá.”
[16]
Lí luận chủ nghĩa hiện đại nêu ra vấn đề “tính văn học”, “thơ
thuần tuý”, tính hư cấu. Văn học, nghệ thuật một mặt khác biệt với khoa học,
chính trị, triết học, đạo đức, mặt khác phân biệt với các hình thái sinh hoạt đời
thường. Từ quan hệ “võ đoán” giữa kí hiệu âm thanh và ý nghĩa các nhà ngôn
ngữ học đã đập vỡ sự thống nhất tự nhiên, hài hoà giữa hình thức và nội dung,
cái biểu đạt và cái được biểu đạt và xây dựng lại mối quan hệ của chúng. Trên cơ
sở đó R. Jakobson từ góc độ kí hiệu học xem biểu tượng văn văn học có tính tự
biểu đạt. Văn bản văn học trở thành đối tượng nghiên cứu trung tâm. Các bình
diện nội tại của văn bản tiêu biểu cho tính văn học được nghiên cứu, các bình
diện bên ngoài, phi văn chương bị xem nhẹ, gạt bỏ. Chủ nghĩa cấu trúc, một biểu
tượng của hệ hình hiện đại, trong khi muốn khám phá đặc trưng riêng của văn
học đã đi đến xu hướng phản chủ thể, phản lịch sử, phản nhân văn. Tính tự trị
của văn học cũng tạo nên đối lập giữa văn học tinh hoa với văn học thông tục,
tìm tòi những hình thức mới, ngôn ngữ mới mà quay lưng lại với đông đảo bạn
đọc. Tiếp nhận văn học tinh anh là độc quyền của thiểu số người đọc. Chủ nghĩa
tượng trưng, chủ nghĩa hình tượng, chủ nghĩa vị lai, chủ nghĩa siêu thực, tiểu
thuyết dòng ý thức, tiểu thuyết mới, kịch phi lí, kịch tìm tòi đều thể hiện, thái độ
cách ngăn với kinh nghiệm đời thường cũng như sự bất hợp tác của nhà nghệ sĩ
với người tiếp nhận. Quan niệm hiện đại đã đào sâu hơn nhiều phương diện cơ
bản của văn học, song nhược điểm của nó vẫn là niềm tin siêu hình vào chủ
nghĩa bản chất, tính phổ biến, đại tự sự, đặc trưng vĩnh hằng bất biến của văn
học.
Hậu hiện đại lại là một kiểu quan niệm hoàn toàn mới về văn hoá, văn học nghệ
thuật xuất hiện vào nửa cuối thế kỉ XX tiêu biểu cho một hệ hình mới. Nó là sự
phản kháng những cực đoan của hệ hình của chủ nghĩa hiện đại. Nó giải cấu trúc

văn học với phi văn học, văn học triết học hoá để biến thành phi văn học. Nó phá
bỏ huyền thoại trong các hệ hình cũ. Một thời gian dài theo quan niệm hiện đại
người ta tìm cách luận chứng sự khác biệt, đối lập văn học với chính trị và ý thức
hệ thì với lí luận hậu hiện đại bản thân văn học là một hình thái ý thức hệ, một
hình thái quyền lực trong văn hoá có vai trò nhào nặn ý thức con người. Quan
niệm văn học của ta có lúc chủ trương văn nghệ đại chúng hóa, thông tục hoá để
thực thi nhiệm vụ tuyên truyền thì nay tự thân sáng tác văn nghệ sẽ đại chúng
hoá theo nhu cầu hàng hoá, đáp ứng nhu cầu giải trí của đông đảo thượng đế…
Từ quan niệm đó nghiên cứu văn học hậu hiện đại chuyển hướng về phía văn
hoá học, quay lưng với các bình diện nghiên cứu nội tại, mà nghiên cứu văn học
với diễn ngôn, với chủ nghĩa nữ quyền, với lịch sử, tự sự đạo đức, liên văn bản,
trường văn học, nó đề xướng quan điểm lịch sử, cụ thể, tính địa phương trong
không gian xác định, chủ tương xuất phát từ trường hợp cụ thể mà nghiên cứu,
đánh giá, tránh lối nghiên cứu xuất phát từ đại tự sự.
Ở vào quá trình đổi thay nhanh chóng về xã hội, kinh tế, văn hoá hôm nay văn
học Việt Nam cũng bắt đầu chuyển hoá, hệ hình nghiên cứu văn học Việt Nam
truyền thống xuất hiện khủng hoảng, không thể không biến đổi theo. Từ đầu thế
kỉ XX đến những năm 80 thế kỉ XX nghiên cứu văn học truyền thống ở Việt Nam
chủ yếu đều thuộc vào hệ hình cổ điển, những năm cuối thế kỉ tiếp cận hệ hình
hiện đại và sang thế kỉ XXI đã ít nhiều tiếp cận đến hệ hình hậu hiện đại. Phân
biệt như thế không có nghĩa là những gì thuộc cổ điển thì đều không còn thích
hợp, ngược lại, những gì thuộc về hiện đại, hậu hiện đại đều là nên theo. Một hệ
hình mới không bao giờ giản đơn thủ tiêu hệ hình cũ, nó chỉ bắt buộc các nhà
nghiên cứu nhìn lại hệ hình cũ trong tầm nhìn mới, và cái mới cũng phải nhìn từ
phía thời gian, địa vực, truyền thống của người tiếp nhận. Các hệ hình đối thoại
nhau, kích thích làm nảy sinh những tư tưởng mới, lí luận mới. Không có tầm
nhìn mới không có tính hiện đại của nghiên cứu văn học.
Những tìm tòi vươn ra nhiều hướng
Tập sách này tập hợp những bài nghiên cứu đa dạng về đề tài, phương pháp,
song cùng theo những định hướng mới. Chúng tra sẽ thấy ở đây tư tưởng của E.

nhận tư tưởng của Said ở các nước Đông Á với tư liệu rất phong phú. Lí thuyết
của Lukacs được Goldmann dịch sang tiếng Pháp tại Paris, làm cho lí luận biến
khác (diên dị), từ đó Said nêu ra lí thuyết về sự lữ hành của lí thuyết. Tư tưởng
nhà cách mạng xô viết Hungari Lukacs sang nhà sử học của đại học Paris, ngữ
cảnh của Paris đã làm cho ý thức nổi loạn đối địch mãnh liệt của nhà cách mạng
trở thành một thứ ý thức đối ứng, đồng nguồn, bao dung nhau, biến một ý thức
nổi loạn nhất thời thành một ý thức bi kịch. Said không giải thích bằng đọc
nhầm, mà giải thích bằng hoàn cảnh xã hội lịch sử, đối tượng phục vụ khác nhau
dẫn đến sự biến khác. Lí thuyết về sự du hành của lí thuyết bao gôm 4 giai đoạn.
Trước hết phải có một khởi điểm, một hoàn cảnh để cho lí thuyết nảy sinh, sau là
phải có khoảng cách, có kênh riêng để cho lí thuyết du hành, vượt qua các trở
lực; ba là có điều kiện tiếp nạp, hay có thể gọi là một số điều kiện trở ngại không
tránh khỏi, nhưng điều kiện đó làm cho lí luận hay quan niệm dù tỏ ra khác lạ
thế nào cũng được di thực, chấp nhận; bốn là bộ phận hay toàn bộ lí thuyết hay
quan niệm được tiếp nhận và do sử dụng trong thời gian, không gian khác mà bị
thay đổi đi. Các lí thuyết phương Tây như chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa hiện
đại, chủ nghĩa nữ quyền…một khi du hành vào các nước phương Đông thì liền
bị biến đổi ít nhiều tuỳ theo điểm nhấn, phụ thuộc vào ngữ cảnh, bởi chúng
chẳng qua là những công cụ được mượn để tiến hành đấu tranh xã hội, thích
nghi với môi trường mới, và do nảy sinh biến khác mà nó không còn là lí thuyết
nguyên dạng ban đầu nữa. Hiểu được quá trình du hành của lí thuyết chúng ta
sẽ không ngây thơ mà nghĩ rằng lí luận này tức là lí luận kia mà thôi. Chẳng hạn
chủ nghĩa nhân văn ở các nước phương Tây là tư tưởng giải phóng cá tính với
nội dung chống thần học, khẳng định chủ nghĩa tự nhiên, chạy theo lạc thú là
bản tính của con người, một động lực thúc đẩy xã hội tiến bộ, do đó phải ra sức
thực hiện phát triển cá tính một cách tự do và toàn diện. Nhưng chúng ta du
nhập chủ nghĩa nhân văn dể giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, thúc đẩy xã
hội tiến bộ, chống tư tưởng phong kiến và chống chủ nghĩa thực dân. Trong lúc
đó chủ nghĩa cá nhân, một hạt nhân của chủ nghĩ nhân văn thì được hiểu thành
chủ nghĩa vị kỉ, trở thành đối tượng phê phán để bồi dưỡng đạo đức cách mạng.

không đúng, nhưng dịch thành”luận thuật” có lẽ cũng chưa thích hợp, bởi người
Việt Nam nói chung sẽ hiểu là trình bày học thuật. Trước đây trong một bài viết
Hoàng Ngọc Hiến từng dịch là “lời lẽ” và có cuộc tranh biện nhỏ với Hoàng
Ngọc Tuấn, người dịch thuật ngữ ấy thành”diễn ngôn”. Trong một bài viết của
mình tôi dùng chữ “ngôn từ”để dịch từ đó nhưng nay thấy cũng không ổn. Tôi
từng nghĩ, nếu Saussure đặt ra hai cực: ngôn ngữ và lời nói, thì discourse là một
cái gì trung gian, có tính thực tiễn, nên dịch là “ngôn từ”, nó không trừu tượng
như ngôn ngữ, cũng không cụ thể như lời nói, nhưng ngôn từ chưa nói được tính
chất thực tiễn của diễn ngôn. Có người theo cách dịch của người Trung Hoa dịch
thành “thoại ngữ”. Tôi thấy dịch thành “lời lẽ” cũng có lí, vì trong đó có từ ngữ
diễn đạt và có lí lẽ, nhưng ngày nay hầu hết đều quy ước dịch thuật ngữ ấy là
“diễn ngôn” thì theo tôi các nhà nghiên cứu nên tiếp nhận cách dịch ấy, góp phần
chuẩn hoá và quy phạm hoá thuật ngữ, có lẽ không nên thêm một cách dịch mới
là “luận thuật”. Công trình của Hoàng Lương Xá gợi ra một vấn đề bức thiết là
chuẩn hoá, quy phạm hoá thuật ngữ lí luận văn học. Nếu mạnh ai nấy dịch, áp
đặt cách dịch sẽ gây khó khăn cho tiếp nhận và phổ biến lí thuyết.
Lịch sử lí luận, phê bình văn học cũng là một bộ phận của nghiên cứu văn học.
Trước đây khi nói đến nội dung của nghiên cứu văn học người ta chỉ nói có ba bộ
phận: lí luận văn học, lịch sử văn học, phê bình văn học. Một số nhà lí luận văn
học Trung Quốc đề xuất thêm hai bộ phận đã có thật: lịch sử lí luận văn học, lịch
sử phê bình văn học. Loại lịch sử này rất thịnh hành trong nửa cuối thế kỉ XX
với nhiều tác giả nổi tiếng. Trước đây có khi nhìn lịch sử lí luận phê bình văn học
như là thể hiện của lịch sử đấu tranh giai cấp, đấu tranh ý thức hệ trong lĩnh vực
này, người ta thường nghiên cứu theo một tuyến tư tưởng nhất định, rồi áp đặt
các tác giả vào những ô sắp sẵn, cấp cho họ những cái tên cũng có sẵn như phần
tử troskit, nghệ thuật vị nghệ thuật, chủ nghĩa hình thức…Về cách viết, có khi
viết theo lối huyền thoại hoá, đề cao tuyệt đối các giá trị tưởng tượng, có khi hạ
thấp theo mối thiện cảm cá nhân, hoặc là viết theo thể hồi kí, nghĩa là theo ấn
tượng đầu tiên, không đọc lại trên văn bản, mà trí nhớ thường là người bạn phản
trắc. Ngày nay ta hiểu như là lịch sử xuất hiện, vận dụng, sáng tạo của tư tương

phương pháp, mà còn gắn với phương pháp phê bình phương pháp phê bình,
gắn với quyền lực xã hội và cả quyền lực của người viết tự dành cho mình, viết
khách quan không phải dễ. Về năm kết luận về phê bình văn học Việt Nam của
Đỗ Lai Thuý, tuy tán thành với tác giả trên nét lớn, song tôi cũng muốn bàn góp
thêm đôi điều để nhiều người cùng bàn bạc. Tôi nghĩ, so sánh phê bình văn học
Việt Nam với tiến trình phê bình văn học thế giới trước hết, điều dễ thấy là về lí
luận và phương pháp, tuy chúng ta có sáng tạo nhất định, song nền phê bình của
ta chưa phải là nền phê bình có lí luận và phương pháp nguyên sáng, độc sáng
như các nước Pháp, Anh, Nga Đức, Mĩ… Những gì ta có được đều do học tập,
tiếp thu, bắt chước lí luận nước ngoài mà làm trong điều kiện lịch sử có rất nhiều
hạn chế. Thứ hai, là một nền phê bình đi sau, không phải nguyên sáng, tất phê
bình của ta khó có thể nói tới“chuyên canh” được, bởi khi anh vừa đi vào một
phương pháp nào đó thì người ta đã vượt lên phía trước hoặc bỏ phương pháp
ấy mà đi theo lối khác rồi. Ông Trương Tửu đã mấy lần thay đổi phương pháp là
một ví dụ, không phải giản đơn chỉ do tự thân ông ấy. Ở phương Tây thế kỉ XX
cũng có tình hình ấy. Chuyên canh không phải là đức tính bắt buộc của nhà phê
bình văn học hiện đại. Các ông R. Barthes, Tz. Todorov… cũng hơn một lần thay
đổi phương pháp, người ta khó gọi ông Barthes là cấu trúc hay giải cấu trúc, còn
Todorov thì sau cuốn Phê bình phê bình văn học đã chuyến từ nghiên cứu nội tại
sang nghiên cứu văn học và đạo đức, tức là ngoại tại. Một số nhà phê bình văn
học Việt Nam bắt đầu bằng phương pháp xã hội học Mácxít chính thống, về sau
họ đã biến khác. Thứ ba, so sánh thêm nữa sẽ thấy phê bình văn học Việt Nam
thuộc loại hình diễn giải, tức là vận dụng lí luận văn học nước ngoài để diễn giải
văn học dân tộc. Nhiều nhà nghiên cứu văn học Trung Quốc hiện đại, một nền lí
luận phê bình hiện đại đi sau, cũng thiên về xem nghiên cứu văn học của họ như
vây (họ tự gọi là lí luận phê bình “xiển phát tính”. Thứ tư, tiếp tục so sánh sẽ
thấy một sự lệch pha đáng chú ý. Trong công trình Phê bình văn học thế kỉ XX, J. Y.
Tadié nhận định rằng phê bình văn học thế kỉ XX ở phương Tây ra sức gạt bỏ tư
tưởng Thượng Đế và tư tưởng con người, bởi tác giả đã không tồn tại, trong khi
đó cả thế kỉ phê bình ở Việt Nam chủ yếu xoay quanh phạm trù tác giả. Thật vậy,

lâu rồi, chỉ có về mặt lí thuyết nó chưa được thừa nhận, bởi người ta vẫn ảo
tưởng về phê bình khách quan, khoa học, về một kết luận duy nhất đúng đối với
một tác phẩm nào đó. Chính phê bình của Hoài Thanh là lối tiếp cận tác phẩm
điển hình từ người đọc mà nhiều người vẫn la lên là ấn tượng chủ quan đó thôi.
Đóng góp của lí thuyết tiếp nhận chỉ là bằng lí thuyết nó khẳng định sự đọc là đa
nghĩa, rằng không có một cách đọc nào là duy nhất đúng và độc tôn. Lí thuyết
này đưa người đọc lên vị trí thượng đế, thay thế vị trí thượng đế của tác giả
trước đây. Vì thế mỗi phương pháp phê bình trong điều kiện tốt nhất của nó chỉ
có giá trị mở ra một giới hạn mới trong chiếm lĩnh tác phẩm văn học, không có
phương pháp nào độc tôn. Một điểm nữa đáng chú ý là phê bình ngày nay sẽ do
truyền thông làm chủ, phê bình học thuật vẫn có song sẽ nằm ở bên lề. Hướng đi
tới của phê bình văn học sẽ là nghiên cứu văn hoá học, nhưng nó cũng không
phải là duy nhất, không thay thế được những cách tiếp cận truyền thống. Tiểu
luận của Đỗ Lai Thuý có thể nói là bản tổng kết bao quát nhất về lí luận phê bình
thế kỉ XX.
Trong thời đại đẩy mạnh giao lưu, tiếp nhận lí luận văn học nước ngoài hôm nay
đòi hỏi phải biết về đặc điểm của đối tượng. Bài tiểu luận Vài khác biệt trong cách
nhìn lí thuyết văn học giữa “kiểu Mĩ” và “kiểu Pháp” của Cao Việt Dũng là một bài
viết công phu, đề cập tới sự khác biệt trong cách nhìn lí luận văn học ở một tác
giả Mĩ, trong tương quan so sánh với lí luận văn học Pháp, lĩnh vực mà tác giả
am hiểu, gợi ra một vấn đề thú vị là cách nhìn có tính địa phương (hay tính
“trường phái”, tính dân tộc) đối với lĩnh vực lí luận văn học thể hiện trong cách
ứng xử, cách lựa chọn, cách giải thích ở mỗi nước. Đây là vấn đề đang được các
nhà lí luận văn học quan tâm, chẳng hạn lí luận Trung Quốc, họ đặt vấn đề
nghiên cứu lí luận văn học từng nước như Anh, Pháp, Mĩ, Nga, Đức, Tây Ban
Nha, từ đó rút ra tính đặc thù có màu sắc dân tộ trong hình thái lí luận, vấn đề lí
luận và cách giải quyết lí luận ở mỗi nước. Người ta thường viện dẫn bản chất
phổ quát của nhận thức lí luận để phủ nhận tính dân tộc của các nền lí luận,
nhưng xem ra khó phủ nhận tính khác biệt trong tư duy và hình thái lí luận văn
học của các nền lí luận văn học dân tộc. Tuy nhiên cuốn sách Hướng dẫn về lí

chưa làm rõ hình tượng, biểu tượng với cổ mẫu. N. Fry trong sách Giải phẩu phê
bình văn học phân biệt phê bình cổ mẫu với phê bình lịch sử, phê bình luân lí, phê
bình tu từ học, và xem phê bình cổ mẫu có tác dụng khẳng định mối liên hệ
truyền thống giữa các tác phẩm văn học, uốn nắn quan niệm phổ biến coi tác
phẩm chỉ là sáng tác thuần tuý cá nhân. Đó là phê bình khám phá những biểu
tượng thơ vượt ra ngoài phạm vi một tác phẩm và xác lập mối liên hệ truyền
thống của văn học.
[23]
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân có thiên hướng đi theo
hướng nghiên cứu của Gaston Bachelard, nhưng theo tôi, Bachelard không hẳn
là người nghiên cứu cổ mẫu, mà là người nghiên cứu sức tưởng tượng của con
người đối với các nguyên tố vật chất như lửa, nước, đất, khí. Trong sách của. J. Y.
Tadié đã dẫn ở trên
[24]
Bachelard được xếp vào mục “phê bình hình ảnh khách
thể” với các đệ tử của ông. Trong Phân tâm học về lửa, tất nhiên là Bachelard
không phân tích tâm lí của lửa, bởi đó là vật chất, làm gì có tâm lí mà phân tích,
ông chỉ nghiên cứu tâm lí trong tri thức của con người về lửa
[25]
. Sang cuốn Nước
và những giấc mơông đã không dùng cái nhan đề “phân tâm học” nữa, hình như
ông đã ngộ ra cái việc mình làm không phải là phân tâm học, mà chỉ là nghiên
cứu về trí tưởng tượng của con người đối với nước. Tác giả của chúng ta mở đầu
bài nghiên cứu bằng những câu rất thi vị kiểu Bachelard: “Có mặt trên vũ trụ
này, Nước được xem là một thực thể khởi nguyên làm nên nhiên giới và nhân
giới…” Như thế là lấy nước, một nguyên tố vật chất của vũ trụ làm đối tượng
nghiên cứu, thiết nghĩ đó không phải là đối tượng của nghiên cứu cổ mẫu. Cổ
mẫu là sản phẩm của vô thức tập thể, tập thể dân tộc hay tập thể nhân loại, thì
đối tượng phải là chủ thể, con người (tập thể). Tác giả sau khi đưa ra các cách
hiểu khác nhau về biểu tượng đã không nêu cách hiểu riêng của mình về biểu

cấu trúc sinh ra do sự dịch chuyển của cơ cấu xã hội trong lí thuyết của
Bourdieu vào trường hợp Trần Dần, phân tích những lựa chọn của ông và ý
nghĩa của lựa chọn ấy. Tác giả cho thấy sự di chuyển vào trung tâm của thơ trữ
tình chính trị và giữ vai trò chi phối. Trường văn học cách mạng trực thuộc
trường chính trị và được tạo dựng từ hai không gian: bóng tối và anh sáng, công
khai và bị phủ nhận, những tranh chấp trong trường văn học dưới tác động của
trường quyền lực, sự dịch chuyển vị trí của các nhà thơ – người hành động trong
trường có khi người thắng lại thua, còn người thua lại có cơ thắng. Tác giả cho
thấy một trường văn học chuyển động và những nhân vật hành động thường
xuyên thay đổi vị trí.
Hai công trình của Phạm Xuân Thạch và của Phùng Ngọc Kiên vận dụng xã hội
học văn hoá, tuy còn mang tính chất thử nghiệm, nhưng sẽ có nhiều hứa hẹn
trong việc nhìn nhận những vấn đề văn học sử, mặc dù những ý kiến hoài nghi
cái mới có thể nghĩ rằng, nếu không sử dụng các thuật ngữ ấy người ta vẫn có
thể đi đến những kết luận mà các tác giả trên rút ra.
Giống như N. Frye có lần đã khẳng định, tác phẩm văn học tuyệt đối không phải
là sản phẩm sáng tạo thuần tuý cá nhân. Trong văn học có thể có hiện thực, đời
sống, kinh nghiệm, tự nhiên, tưởng tượng… nhưng bản thân văn học không phải
do các yếu ttố đó tạo thành. Thơ ca chỉ có thể nảy sinh bằng thơ ca, tiểu thuyết
chỉ nảy sinh từ tiểu thuyết, hình thức văn học chỉ nảy sinh từ bản thân nó. Thơ
hiện đại của Trần Dần không phải là bịa đặt, mà là nảy sinh từ đồng dao. Công
trình của Trần Ngọc Hiếu nghiên cứu về đồng dao trong thơ Trần Dần đã khảo
sát công phu, kĩ lưỡng sự vận dụng, tiếp biến đồng dao theo nguyên tắc trò chơi
trong cách tân thơ hiện đại của nhà thơ, “đặt nền móng cho sự hình thành của
dòng thơ ngôn ngữ trong thơ Việt hiện đại.” Cách giải thích sự hiện diện của
đồng dao trong thơ Trần Dần khá hợp lí, một ngôn ngữ thơ ở vị trí ngoại biên, ít
được chú ý thường là chất liệu cho sự sáng tạo mới. Dòng thơ ngôn ngữ là một
cố gắng để mở rộng không gian thơ, một đột phá để làm mới thi ca, nhưng vị thế
của nó trong lòng công chúng đang là một vấn đề còn để ngỏ.
Như đã nói ở trên nghiên cứu văn học thế giới từ đầu thế kỉ XX đã có bước

khá thú vị về phong trào cải cách văn thể, tâm thái sĩ phu và động hình (chữ này
có lẽ không thích hợp TĐS) của văn chương cuối thế kỉ XVII, thế kỉ XVIII. Cụ thể
là qua khảo sát phong trào cải cách văn thể (khái niệm văn thể ở đây, theo nhiều
từ điển của Trung Quốc, nên hiểu không đơn giản là thể văn, mà chính là phong
cách của thể văn
[27]
), thể hiện qua mấy bài khải chống lại sự sa sút phẩm chất, rơi
vào hình thức bề ngoài thiếu thực chất, nhà nghiên cứu cho thấy tâm trạng bất
mãn của tầng lớp sĩ phu dẫn đến sự đổi thay về sáng tác văn học trong văn học
thế kỉ XVIII. Hướng nghiêncứu của Nguyễn Kim Sơn mở ra hướng nghiên cứu
xã hội học về những chuyển động trong tâm thái nhà nho và sáng tác của họ,
một khâu còn rất yếu trong nghiên cứu lịch sử văn học trung đại.
Tổng quan toàn bộ tập nghiên cứu chúng ta có thể nhận thấy hầu hết thế hệ các
nhà nghiên cứu văn học trẻ (so với thế hệ chúng tôi, thực ra về tuổi đời nhiều
người đã không còn thật trẻ) đã tìm tòi đi theo những đường lối mới, thoát khỏi
những lối mà người trước đã di. Những đường lối ấy nằm trong xu thế chung
của nghiên cứu văn học thế giới hiện nay, chủ yếu là nghiên cứu văn học theo
hướng văn hoá học, góp phần phát hiện nhiều mối quan hệ văn học với xã hội và
lịch sử. Hầu hết các tiểu luận đều tìm đường vượt qua lối nghiên cứu văn học
nội tại, tự thân, mà khảo sát văn học trong nhiều mối quan hệ với xã hội, lịch sử,
quan hệ quyền lực, hướng tới một chất lượng nghiên cứu mới theo hướng hậu
hiện đại. Tất nhiên phương hướng nghiên cứu mới trên thế giới rất rộng mở, trên
đây chỉ mới là một ít trong số đó mà thôi. Chúng ta còn chưa có nghiên cứu theo
hướng hậu thực dân, nữ quyền, tân lịch sử, phê bình sinh thái học, thiết chế văn
học, văn học trong thời đại nghe nhìn, văn học mạng đang bắt đầu được chú ý,
văn học và phương tiện truyền thông…
Học tập các tư tưởng nghiên cứu văn học mới là một công việc nghiêm túc, đòi
hỏi thời gian, điều kiện và nghị lực. Các tiểu luận tuy đã có thành tựu bước đầu,
song muốn mở ra một thời kì mới còn phải phấn đấu để làm chủ các lí thuyết
mới, phương pháp mới, và hơn thế, người nghiên cứu không chỉ học tập, hiểu,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status