Nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra đối với người nộp thuế trong tiến trình hiện đại hoá công tác quản lý thuế ở việt nam hiện nay - Pdf 27

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước, có tác động ảnh hưởng
sâu rộng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế, đóng vai trò quan trọng trong việc huy
động nguồn lực và tạo môi trường đầu tư nhằm đạt các mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội bền vững. Hệ thống chính sách thuế tốt chỉ có thể phát huy tác dụng khi có
một hệ thống quản lý thuế phù hợp, hiệu quả. Mục tiêu chính của hệ thống quản lý
thuế hiện đại trên thế giới là tối ưu hoá các khoản thu thuế và các khoản phải thu
khác, phù hợp với luật pháp đồng thời đảm bảo củng cố được niềm tin của
người nộp thuế (NNT) vào hệ thống thuế. Một mặt của mục tiêu này là tăng
cường các dịch vụ hỗ trợ NNT để nâng cao sự tuân thủ tự giác của NNT; mặt
khác là cơ quan thuế phát hiện các trường hợp không tuân thủ và có các biện
pháp trừng phạt một cách nghiêm minh, đảm bảo công bằng và tạo sự tin cậy
của người nộp thuế.
Trong thời gian qua, ngành thuế Việt Nam đã và đang thực hiện chiến lược
cải cách, hiện đại hoá hệ thống thuế, tiến tới xây dựng ngành thuế Việt Nam
tiên tiến, hiện đại và chuyên nghiệp nhằm đảm bảo thực thi tốt pháp luật thuế;
đảm bảo quản lý thuế công bằng, minh bạch và hiệu lực, hiệu quả; phục vụ tốt
tổ chức, cá nhân nộp thuế và phù hợp với chuẩn mực quốc tế, nâng cao tính tự
giác tuân thủ pháp luật về thuế của tổ chức, cá nhân nộp thuế; tăng cường việc
thanh tra, giám sát của cơ quan thuế; đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà
nước nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Kết quả
của chiến lược cải cách, hiện đại hoá hệ thống thuế đã đem lại những thành
công nhất định cả về cơ chế quản lý, phương pháp quản lý, tổ chức quản lý,
con người quản lý và công cụ quản lý. áp dụng thí điểm cơ chế NNT tự kê
khai, tự nộp thuế từ năm 2004 và thực hiện triển khai toàn quốc từ 01/07/2007
(được luật hoá tại Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006),
ngành thuế đã đề cao trách nhiệm của NNT, tăng cường dân chủ và tính tự chủ
2
của NNT trong việc ủy quyền cho NNT thực hiện chức năng tự đánh giá và kê

kiểm tra thuế.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài đã hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động thanh tra
kiểm tra trong các cơ chế quản lý thuế và tính tuân thủ của NNT trong các cơ
chế đó. Từ nghiên cứu lý luận, đề tài đề cập, đánh giá thực trạng của công tác
thanh tra, kiểm tra thời gian qua, chỉ ra các bất cập và nguyên nhân. Từ đó, kết
hợp giữa lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công
tác thanh tra, kiểm tra trong điều kiện Việt Nam hiện nay.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1

: Thanh tra, kiểm tra thuế và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả
thanh tra, kiểm tra đối với người nộp thuế trong tiến trình hiện đại hoá công tác
quản lý thuế ở Việt Nam.
Chương 2

: Thực trạng về tổ chức hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với
người nộp thuế ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3:

Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra đối với
người nộp thuế trong tiến trình hiện đại hoá công tác quản lý thuế.
4
Chương 1
THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THANH TRA, KIỂM TRA ĐỐI VỚI NNT TRONG TIẾN
TRÌNH HIỆN ĐẠI HOÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ Ở VIỆT NAM
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ
1.1.1 Khái niệm, vai trò của thanh tra, kiểm tra thuế

thuế đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý những hành
vi trái pháp luật'' [1, tr.437]
Tổng hợp các quan niệm trên có thể hiểu :
Kiểm tra thuế, thanh tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với
các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực
hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế,
nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế
xã hội.
Kiểm tra thuế, thanh tra thuế là một trong các chức năng cơ bản của cơ quan
quản lý thuế nhằm phát hiện, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm
pháp luật thuế, bảo đảm tính công bằng trong thực thi pháp luật thuế; đồng thời
làm cho người nộp thuế luôn ý thức rằng có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn
tại, từ đó thúc đẩy họ tự giác tuân thủ pháp luật thuế.
- Những điểm giống nhau giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế là:
+ Về mục đích: Phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật
thuế.
+ Về cách thức tiến hành: Xem xét hoạt động thực tế của đối tượng để phân
tích, đánh giá, phát hiện và xử lý theo quy định pháp luật về thuế.
+ Về nội dung: đều xem xét doanh thu, chi phí, lợi nhuận.
6
+ Về phương pháp: đều phải phân tích xác định rủi ro, truy lần lại việc xử lý
dữ liệu, tính toán lại và xác minh.
- Những điểm khác nhau giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế là:
+ Về đối tượng: Thanh tra áp dụng cho các đối tượng có ngành nghề kinh
doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng, cơ cấu tổ chức phức tạp, hoặc khi có
dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế, hoặc để giải quyết khiếu nại tố cáo hoặc theo
yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ Trưởng Bộ Tài
chính.
+ Về phạm vi nội dung: Thanh tra thường là nội dung rộng, phức tạp, có thể
liên quan đến nhiều đối tượng, lĩnh vực khác nhau.

Việc kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật
thuế là biện pháp hữu hiệu nhất đối với việc phòng ngừa các loại tội phạm có thể
phát sinh trong việc thực hiện pháp luật thuế.
Thứ ba: Thanh tra, kiểm tra người nộp thuế có vai trò quan trọng trong việc
cải cách thủ tục hành chính thuế.
Triển khai thực hiện pháp luật thuế, cũng đồng thời với việc triển khai thực
hiện các thủ tục hành chính thuế. Qua hoạt động thanh tra, kiểm tra phát hiện
những người nộp thuế thực hiện không đúng và không đủ các thủ tục hành chính
thuế để kịp thời chấn chỉnh. Đồng thời phát hiện những khiếm khuyết, những thủ
tục không phù hợp với thực tế để kiến nghị bổ sung hoàn thiện, nâng cao hiệu lực
pháp luật thuế.
1.1.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế không chỉ được xem xét, đánh giá
đơn thuần ở khía cạnh vật chất (hiệu quả kinh tế) mà còn được xem xét, đánh giá
dưới giác độ hiệu quả xã hội, chính trị. Vì vậy, các tiêu chí đánh giá hiệu quả công
tác thanh tra, kiểm tra thuế được chia 2 nhóm là:
- Các tiêu chí định lượng: Các tiêu chí định lượng thể hiện ở kết quả thực tế
8
của nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra đã được tiến hành. Đó là kết quả cụ thể của việc
thực hiện nhiệm vụ được giao hoặc kết quả đem lại của các nghiệp vụ thanh tra,
kiểm tra. Các tiêu chí này thường gồm:
+ Tình hình thực hiện kế hoạch thanh tra về từng chỉ tiêu định lượng của kế
hoạch: Đánh giá tiêu chí này thường dựa vào các chỉ tiêu như: Tỷ lệ hoàn thành kế
hoạch về số đối tượng thanh tra, kiểm tra so với kế hoạch năm; Tỷ lệ hoàn thành
kế hoạch về số thời gian thanh tra, kiểm tra so với kế hoạch năm; Tỷ lệ hoàn thành
kế hoạch về số vụ việc khiếu tố giải quyết được so với kế hoạch năm; Tỷ lệ thanh
tra, kiểm tra hàng năm so với tổng số đối tượng thanh tra, kiểm tra
+ Tình hình vi phạm pháp thuế đã phát hiện qua thanh tra, kiểm tra: Đánh giá
tiêu chí này thường dựa vào các chỉ tiêu như: Tỷ lệ vi phạm pháp luật thuế/tổng số
đối tượng thanh tra, kiểm tra; Tổng số tiền thuế truy thu qua thanh tra, kiểm tra;

+ Tác dụng trong việc phòng chống tham nhũng trong nội bộ cơ quan quản lý
thuế và tạo lòng tin của nhân dân vào hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế. Có thể
đánh giá tác dụng này thông qua xem xét tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật
trong thanh tra, kiểm tra; tỷ lệ cán bộ thuế vi phạm pháp luật bị xử lý (chia theo
hình thức); những vụ việc vi phạm quan trọng và nhạy cảm được phát hiện và xử

Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả thanh tra, kiểm tra được đánh giá theo kỳ
(quý, năm) và được chia theo sắc thuế; theo hình thức thanh tra; theo loại đối
tượng nộp thuế và từng nội dung thanh tra, kiểm tra tương ứng.
1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả công tác thanh tra, kiểm
tra thuế
1.1.3.1 Điều kiện kinh tế xã hội và trình độ dân trí
Xu thế hội nhập, liên kết kinh tế trong khu vực tiến tới toàn cầu hoá kinh tế là
tất yếu khách quan. Theo đó hội nhập quốc tế về thuế ngày càng sâu rộng, nhằm
khuyến khích đầu tư, tự do hoá thương mại trong khu vực và trên toàn thế giới.
10
Hệ thống luật pháp sẽ dần được hoàn thiện, xây dựng hệ thống chính sách thuế
tương thích, công tác quản lý thuế phải được cải cách và hiện đại hoá theo các
chuẩn mực quản lý thuế quốc tế, cơ sở trang thiết bị vật chất kỹ thuật ngày càng
được hiện đại hoá và số lượng người nộp thuế không ngừng tăng lên nhanh
chóng Tất cả những biến đổi trên đều tác động lớn tới hiệu quả công tác thanh
tra, kiểm tra thuế.
Hệ thống pháp luật thuế đồng bộ, hoàn thiện, phù hợp với tình hình kinh tế xã
hội của đất nước sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng để hoạt động thanh tra, kiểm tra
thuế đi vào khuôn khổ, đồng thời nó cũng giúp cho người nộp thuế hiểu và
nghiêm túc thực hiện theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, đầu tư trang bị cơ sở
vật chất kỹ thuật hiện đại cũng hỗ trợ cho công tác thanh tra, kiểm tra thuế được
tiến hành thuận lợi, có tính chính xác và hiệu quả cao hơn.
Cùng với sự gia tăng về số lượng người nộp thuế sẽ là sự đa dạng hoá các loại
hình doanh nghiệp và các hình thức kinh doanh, kèm theo đó là sự phức tạp, tinh

mỗi sắc thuế.
Mô hình này có tính chuyên môn hoá theo sắc thuế cao nên nó phát huy hiệu
quả cao nhất trong trường hợp thanh tra một sắc thuế nhưng đối với thanh tra một
đối tượng nộp thuế nộp nhiều loại thuế khác nhau lại xảy ra hiện tượng chồng
chéo về chức năng thanh tra giữa các phòng, ban. Vì phòng quản lý theo sắc thuế
có chức năng thanh tra đối với các ĐTNT có phát sinh sắc thuế do phòng quản lý.
Chức năng thanh tra, kiểm tra nằm ở tất cả các phòng trong hệ thống quản lý thuế
cấp cơ sở. Mặt khác, ở phòng, ban nào cũng có các bộ phận nghiệp vụ thực hiện
các công việc như nhau, dẫn đến biên chế quản lý lớn, làm cho chi phí quản lý thu
tăng lên, chi phí tuân thủ cao Trong khi đó rủi ro thất thu thuế vẫn cao do các
chức năng, nghiệp vụ quản lý thuế được khép kín, độc lập trong một phòng, ban
riêng biệt, không có sự liên kết nào giữa các phòng, ban nên hiện tượng thông
đồng để trốn thuế giữa ĐTNT và cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế khó phát hiện.
12
Ngoài ra, trình độ chuyên môn của cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế không được
toàn diện do kỹ năng của họ là một sắc thuế. Do vậy, hiệu quả của công tác thanh
tra, kiểm tra thuế không cao.
Thứ hai, mô hình quản lý theo chức năng
Theo mô hình này, bộ máy quản lý thuế được tổ chức theo các nhóm chức
năng, mỗi bộ phận thực hiện một công việc nghiệp vụ cụ thể có liên quan đến tất
cả các sắc thuế như: Đăng ký thuế, Xử lý tờ khai thuế và Kế toán thuế, Thanh tra,
kiểm tra thuế, Thu nợ Bộ phận thanh tra, kiểm tra được tổ chức theo mô hình
chuyên môn hóa cao. Mỗi phòng (Tổ) thanh tra thực hiện một chức năng riêng
biệt, chỉ thực hiện một chức năng cụ thể của hoạt động thanh tra. Cùng với mô
hình này đòi hỏi thanh tra viên ngoài việc a, hiểu sâu sắc chế độ kế toán pháp luật
thuế còn phải có kỹ năng về tin học, kỹ năng sắp xếp, phân loại dữ liệu, phân tích
đánh giá rủi ro, tạo điều kiện thuận lợi cho việc cập nhật kịp thời các tiêu chí lựa
chọn đối tượng thanh tra.
Mô hình này thích ứng với mọi sự thay đổi về ĐTNT và tạo ra sự kiểm tra
chéo giữa các cán bộ thuế ở các bộ phận khác nhau, hạn chế tiêu cực nên giảm

mô hình quản lý thuế phù hợp theo đặc điểm chính trị - kinh tế - xã hội và trình độ
quản lý của mình, có thể là một trong số các mô hình cơ bản hoặc mô hình quản lý
thuế kết hợp 2 hoặc cả 3 mô hình cơ bản trên.
1.1.3.3 Cơ chế quản lý thuế
Để tiến hành công tác thu nộp thuế, người ta thường chọn một trong hai cơ
chế: Cơ quan thuế tính và ra thông báo nộp thuế và cơ sở sản xuất, kinh doanh tự
khai tự nộp thuế.
Thứ nhất, cơ chế cơ quan thuế tính và ra thông báo nộp thuế
Theo cơ chế này, căn cứ vào tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và các
quy định của pháp luật thuế, định kỳ các ĐTNT phải kê khai thuế và nộp tờ khai
14
cho cơ quan thuế. Cơ quan thuế nhận tờ khai, kiểm tra và tính thuế, sau đó thông
báo số thuế phải nộp cho ĐTNT. ĐTNT có trách nhiệm nộp đầy đủ tiền thuế theo
thông báo vào Kho bạc nhà nước trong thời gian quy định. Cơ quan thuế kiểm tra,
đối chiếu số thuế mà đối tượng đã nộp vào ngân sách với thông báo. Cơ chế này
đảm bảo việc tính toán chính xác số thuế phải nộp vào NSNN của các ĐTNT. Tuy
nhiên, cơ chế quản lý này có một số nhược điểm ảnh hưởng đến công tác thanh
tra, kiểm tra sau:
- Cơ quan thuế làm thay các chức năng thuộc trách nhiệm của NNT như: tính
toán xác định mức thuế để ra thông báo thuế, xác định mức miễn, giảm thuế
gây lãng phí nguồn nhân lực, tài chính của cơ quan thuế. Hiệu quả quản lý của cơ
quan thuế thấp do phải làm thay các công việc cho ĐTNT, không đủ điều kiện tập
trung thời gian, nhân lực và tài chính để thực hiện các chức năng chủ yếu của
mình: các hoạt động tuyên truyền - hỗ trợ, công tác thanh tra, kiểm tra thuế . . .
- Một số quy định còn rườm rà, phức tạp, chưa rõ ràng, minh bạch gây khó
khăn, tốn kém chi phí cho cả NNT và cơ quan thuế, dễ phát sinh tiêu cực trong
việc chấp hành nghĩa vụ thuế.
- Nghĩa vụ, trách nhiệm của NNT không cao do số thuế họ phải nộp được xác
định theo thông báo của cơ quan thuế. ĐTNT có thể tính toán số thuế phải nộp
một cách qua loa, đại khái, nếu cơ quan thuế kiểm tra, tính toán không kỹ thì có

dẫn nguời nộp
thuế (NNT)
NTT lưu giữ sổ sách kế toán
NNT +nh thuế
NNT lập tờ khai thuế
NNT nộp tờ khai đúng hạn
NNT nộp thuế theo mức tự +nh
Kiểm tra đơn giản
Thanh tra thuế đối với một số
trường hợp chọn lọc
Nhiệm vụ
của người
nộp thuế
Nhiệm vụ
của cơ
quan thuế
16
Tự kê khai, tự nộp thuế là cơ chế quản lý thuế trong đó người nộp thuế tự giác
tuân thủ thực hiện các nghĩa vụ thuế: người nộp thuế căn cứ các quy định tại các
Luật thuế để xác định nghĩa vụ thuế của mình, kê khai chính xác, nộp tờ khai thuế
và nộp thuế đúng thời hạn. Cơ quan thuế không can thiệp vào việc thực hiện nghĩa
vụ thuế của người nộp thuế nếu NNT tự giác tuân thủ nghĩa vụ. Cơ quan thuế có
trách nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để người nộp thuế hiểu rõ và tự giác
thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế
của NNT và thông qua công tác kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý kịp thời,
đúng đắn những hành vi gian lận, trốn thuế của NNT.
Trong cơ chế TKTN thuế, ĐTNT phải hiểu biết đầy đủ về các quyền và nghĩa
vụ của mình, tự kê khai, tự tính số thuế phải nộp và nộp tờ khai thuế cho cơ quan
thuế trên cơ sở kết quả sản xuất kinh doanh của mình và chính sách chế độ về thuế
mà không cần sự xác nhận trực tiếp của cơ quan thuế. Trên cơ sở số thuế đã kê

cao trách nhiệm, tính chủ động của ĐTNT trong việc thực hiện pháp luật thuế và
giảm phiền hà, tôn trọng, khuyến khích các ĐTNT tuân thủ nghiêm túc pháp luật
thuế. Để đáp ứng yêu cầu này, cơ quan thuế đã thực hiện chính sách thanh tra,
kiểm tra dựa trên phương pháp quản lý rủi ro tuân thủ. Theo đó, trên cơ sở thu
thập đầy đủ thông tin về ĐTNT, tiến hành phân tích, đánh giá và phân loại ĐTNT
theo mức độ rủi ro vi phạm về thuế để lựa chọn đối tượng cần thanh tra, kiểm tra
theo nguyên tắc:
- Tập trung thanh tra, kiểm tra thường xuyên đối với ĐTNT có dấu hiệu vi
phạm nghiêm trọng pháp luật thuế; thanh tra, kiểm tra bộ phận hoặc hướng dẫn,
nhắc nhở ĐTNT vi phạm không nghiêm trọng; hạn chế tối đa thanh tra, kiểm tra
đối với ĐTNT chưa phát hiện vi phạm pháp luật thuế.
- Tăng cường thực hiện hình thức kiểm tra tại cơ quan thuế; hạn chế thanh tra,
kiểm tra tại cơ sở ĐTNT.
18
- Hạn chế thanh tra, kiểm tra toàn diện, tập trung thanh tra, kiểm tra theo
chuyên đề và nội dung vi phạm (thanh tra, kiểm tra chuyên sâu theo nhóm ngành,
nghề, theo lĩnh vực và theo sắc thuế).
Với những nội dung trên, có thể thấy rằng phương thức quản lý thuế mới có
tính khách quan hơn và khắc phục được những hạn chế của cơ chế cơ quan thuế
tính và ra thông báo nộp thuế và tác động tích cực đến hiệu quả công tác thanh tra,
kiểm tra thuế.
1.2 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ THANH TRA,
KIỂM TRA ĐỐI VỚI NNT TRONG TIẾN TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA CÔNG
TÁC QUẢN LÝ THUẾ Ở VIỆT NAM
1.2.1 Nội dung hiện đại hoá công tác quản lý thuế
Chiến lược cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế đã được Bộ Chính trị thông
qua vào tháng 8/2004 và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
201/2004/QĐ-TTg về việc phê duyệt các Chương trình cải cách hệ thống thuế
theo từng cụ thể nội dung, lộ trình triển khai cụ thể. Trong xu hướng hiện nay,
cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngành Thuế đang rất nỗ lực thực hiện

hoá đơn chứng từ để hạch toán đúng kết quả kinh doanh và xác định đúng nghĩa
vụ thuế đối với Nhà nước, mở rộng diện nộp thuế theo hình thức kê khai, thu hẹp
dần phương pháp nộp thuế theo hình thức khoán. Đối với các đối tượng còn phải
nộp thuế theo hình thức khoán cần hoàn thiện quy trình xác định mức khoán bảo
đảm công khai, dân chủ, công bằng giữa các hộ được khoán. Chống các hành vi
tiêu cực trong việc xác định mức khoán đối với hộ kinh doanh nộp thuế khoán.
Đề cao trách nhiệm và nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế trong việc tự tính, tự
khai và tự nộp thuế vào Ngân sách Nhà nước, đồng thời tăngcường trách nhiệm,
quyền hạn kiểm tra, kiểm soát của tổ chức quản lý thu và các cơ quan quản lý nhà
nước trước, trong và sau khi nộp thuế để đảm bảo các luật thuế được thực thi
nghiêm chỉnh.
20
- Thường xuyên và đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra về thuế, kiểm tra
sau thông quan nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi
phạm về thuế.
Trong công tác thanh tra phải phân loại các đối tượng để thanh tra theo cấp độ
vi phạm: Đối với trường hợp chấp hành nghiêm chỉnh chính sách thuế chưa mắc
sai phạm thì tối thiểu trong 5 năm phải kiêể tra 1 lần; Trường hợp đã có vi phạm
nhưng không thường xuyên và không nghiêm trọng thì tối thiểu trong 1 năm phải
kiểm tra 1 lần. Phân loại các đối tượng nộp thuế như trên sẽ không gây phiền
hàcho người nộp thuế mà ngược lại sẽ làm cho các đối tượng nộp thuế chấp hành
nghiêm chỉnh chính sách thuế, đồng thời sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan bảo vệ
pháp luật phát hiện và xử lý kịp thời vi phạm chính sách thuế.
Áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý hoá đơn, kiểm tra đối chiếu hoá đơn
để việc thanh tra, kiểm tra đạt hiệu quả cao.
Tăng cường quyền hạn cho cơ quan quản lý thu: quyền cưỡng chế, điều tra
khởi tố cá vụ vi phạm về thuế.
Xây dựng và áp dụng các chế tài xử lý và cưỡng chế thuế đối với các hành vi
gian lận, chây ì, trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế
- Đẩy mạnh triển khai công nghệ tin học để áp dụng vào hầu hết các khâu

a. Mục tiêu tổng quát:
- Xây dựng tổ chức, bộ máy và đội ngũ cán bộ thanh tra thuế chuyên sâu,
chuyên nghiệp và hiện đại; trong sạch, vững mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả
của hoạt động thanh tra thuế, hướng tới mục tiêu người nộp thuế tự giác tuân thủ
pháp luật thuế, góp phần thực hiện nhiệm vụ thu của ngành do Chính phủ, Bộ Tài
chính giao hàng năm.
- Đảm bảo thống nhất công tác thanh tra thuế trong toàn ngành, thiết lập mối
quan hệ chặt chẽ giữa các cơ quan thanh tra thuế các cấp.
22
b. Mục tiêu cụ thể:
- Kiện toàn bộ máy tổ chức và bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho
hệ thống thanh tra thuế phù hợp với luật pháp và thực tiễn hoạt động của ngành
thuế.
- Tăng cường đội ngũ cán bộ thanh tra thuế; nâng cao năng lực, trình độ
nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ thanh tra thuế theo yêu cầu chuẩn hoá, có phẩm chất
đạo đức tốt, ứng xử văn minh, lịch sự, đáp ứng yêu cầu đặt ra trong công tác thanh
tra thuế; giải quyết khiếu tố về thuế, gian lận thuế của người nộp thuế.
- Hoàn thiện các quy trình, nghiệp vụ thanh tra thuế phù hợp với luật pháp và
thực tiễn hoạt động của đoàn thanh tra.
- Tăng cường trang thiết bị và ứng dụng tin học phục vụ cho hoạt động thanh
tra thuế; cải tiến phương pháp công nghệ thanh tra đảm bảo tương đồng với các
nước và phù hợp điều kiện Việt Nam.
1.2.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thanh tra, kiểm tra đối với
NNT trong tiến trình hiện đại hoá công tác quản lý thuế.
- Kiểm tra, thanh tra là một trong những chức năng quan trọng của cơ quan
thuế và luôn được quy định trong các luật thuế. Đặc biệt, trong điều kiện Việt
Nam hiện nay, khi thực hiện cơ chế quản lý thuế NNT tự kê khai, tự nộp thuế thì
chức năng kiểm tra, thanh tra là một trong những trọng tâm của quản lý thuế với
mục tiêu chính là kiểm soát việc tuân thủ và chấp hành luật thuế của NNT.
Do yêu cầu phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cải

đã thúc đẩy sự phát triển một cách sâu rộng hơn và toàn diện hơn quá trình "toàn
cầu hoá". Cùng với sự tiến bộ vượt bật của công nghệ thông tin thì công nghệ
Internet ra đời và phát triển nhanh chóng, đã chuyển từ thế giới "một mạng, một
dịch vụ" sang thế giới "một mạng, nhiều dịch vụ" và trở thành công cụ quan trọng
nhất thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng quá trình "điện tử hoá" - từ thương mại
điện tử, quản trị điện tử, thanh toán điện tử, đến Chính phủ điện tử trên toàn cầu.
24
Ngày nay, điện tử hoá càng trở thành xu hướng chủ yếu trong phương thức
kinh doanh quốc tế và thay đổi căn bản cấu trúc thương mại toàn cầu. Các doanh
nghiệp đã và đang nhanh chóng tái cấu trúc lại chính họ để chuyển từ phương
thức kinh doanh truyền thống sang phương thức trao đổi cung ứng trên Internet -
thương mại điện tử. Các quốc gia đang tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng thông tin
hoá, tri thức hoá và tham gia vào kết mạng toàn cầu, phổ cập Internet. Đồng thời
với việc xây dựng Chính phủ điện tử để theo kịp quá trình điện tử hoá về kinh tế
và xã hội đang diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc trên toàn cầu. Trong quá trình xây
dựng Chính phủ điện tử, các nước đặc biệt coi trọng việc điện tử hoá công tác
quản lý thuế (còn gọi là hiện đại hoá công tác quản lý thuế).
Khảo sát kinh nghiệm từ các quốc gia trong hiệp hội SGATAR (gồm
Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Singapo, Malaixia, Thái
Lan, Philippin, Việt Nam, Hồng Công, Inđonêxia, Niudilân) cho thấy mô hình
hiện đại hoá công tác quản lý thuế bao gồm 4 thành phần chủ yếu: Chiến lược, Tổ
chức nhân sự, quy trình tác nghiệp và công nghệ. Trong đó Chiến lược là yếu tố
cơ bản của quá trình hiện đại hoá; với mục tiêu, chương trình và kế hoạch thực
hiện cụ thể, rõ ràng và thống nhất gắn với từng nhiệm vụ cụ thể của từng bộ phận
trong cơ quan thuế. Tổ chức nhân sự phải thay đổi phù hợp với mục tiêu mới; thay
đổi nhận thức mới, phong cách làm việc mới của cán bộ công chức, tập trung đào
tạo kỹ năng chuyên sâu, phương pháp nghiệp vụ mới cho tất cả cán bộ thuộc cơ
quan thuế. Quy trình nghiệp vụ phải thay đổi theo hướng hiện đại, quản lý bằng kỹ
thuật rũi ro. Công nghệ là trụ cột cơ bản của quá trình hiện đại hoá cơ quan thuế;
vấn đề thiết yếu là công nghệ phải phù hợp và đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ, phù

bản qui phạm pháp luật về thương mại điện tử, về xác nhận chữ ký điện tử, bảo vệ
bí mật; giao dịch hợp đồng trong môi trường thương mại điện tử phi biên giới;
xây dựng, bổ sung và sửa đổi các văn bản qui phạm liên quan tới thanh toán, giao
dịch ngoại hối, chuyển tiền điện tử; quy định về kế toán điện tử, chứng từ thanh

Trích đoạn TỔ CHỨC HỆ THỐNG THANH TRA, KIỂM TRA ĐỐI VỚI NNT Ở VIỆT NAM THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG THANH TRA, KIỂM TRA ĐỐI VỚI NNT Ở VIỆT NAM ĐỒNG NAI 12,220 367 43 31 72 336 91 30 61 48 TÂY NINH3,327100192513275 2 Thực trạng thanh tra, kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, sổ sách, chứng từ, hoá đơn Thực trạng thanh tra, kiểm tra việc kê khai, tính thuế và nộp thuế a Về kê khai thuế:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status