Khuyng hướng phê bình Mac- xít ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX - Pdf 28


1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

*********
HỒ VI THƯỜNG KHUYNH HƯỚNG
PHÊ BÌNH MÁC-XÍT
Ở VIỆT NAM
NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX
(1900 - 1945) Chuyên ngành : VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số : 62.22.34.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS: NGUYỄN THỊ THANH XUÂN
3
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa ........................................................................................................ 1
Lời cảm ơn ........................................................................................................ 2
Mục lục ........................................................................................................ 3
DẪN LUẬN ........................................................................................................ 5
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ PHÊ BÌNH MÁC-XÍT VÀ PHÊ BÌNH
MÁC-XÍT Ở VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX
1.1. Tổng quan về phê bình Mác-xít ................................................................. 18
1.1.1. Khái niệm phê bình Mác-xít ............................................................. 18
1.1.2. Những nguyên tắc cơ bản................................................................... 20
1.1.2.1. Về nguồn gốc và bản chất của văn học..................................... 20
1.1.2.2. Về chức năng của văn học và vai trò của văn nghệ só ............. 25
1.1.2.3. Về thế giới quan và phương pháp sáng tác ............................... 28
1.1.3. Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của phê bình
Mác-xít trên thế giới ..................................................................... 36
1.2. Khái quát về phê bình Mác-xít ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX ............... 51
1.2.1. Cơ sở xã hội - lòch sử ......................................................................... 51
1.2.2. Quá trình hình thành và phát triển ..................................................... 54
Chương 2. CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA KHUYNH HƯỚNG PHÊ BÌNH
MÁC-XÍT Ở VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỈ XX
2.1. Các đặc điểm về nguyên tắc thẩm mỹ....................................................... 66
2.1.1. Khái niệm văn học ............................................................................. 67
2.1.2. Mối quan hệ nhà văn - tác phẩm - người đọc .................................... 70
2.1.3. Trách nhiệm của nhà văn, phương pháp sáng tác và tự do
trong nghệ thuật ............................................................................. 78
2.1.4. Nội dung và hình thức ........................................................................ 88

KẾT LUẬN .................................................................................................... 144
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 149
PHỤ LỤC .................................................................................................... 1595
DẪN LUẬN

1. Lí do chọn đề tài
Trong nền văn học truyền thống của dân tộc, phê bình từ lâu đã gắn bó với các
sinh hoạt văn chương dưới hình thức bình văn, bình thơ như một thú chơi tao nhã của
các bậc văn nhân tài tử. Nhưng phê bình văn học theo nghóa hiện đại thì phải đến
những năm ba mươi của thế kỉ XX mới thực sự có mặt trên văn đàn khi xã hội Việt
nam đã hội đủ những điều kiện cần thiết về kinh tế, xã hội, văn hóa, học thuật…
Nếu như sự phát triển văn học thời kì này được đánh giá bằng tốc độ “một năm
bằng ba mươi năm” thì nền phê bình văn học tương ứng với nó cũng đã bước đi bằng
“đôi hia bảy dặm”. Với khoảng thời gian ngắn ngủi từ ngày tập Phê bình và cảo
luận của Thiếu Sơn “thậm thụt như một nàng dâu mới” xuất hiện (năm 1933) cho
đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, phê bình nước ta đã thực sự trưởng thành và
làm tròn sứ mệnh của mình trên từng bước đi của văn học dân tộc giai đoạn này,
trong đó phải kể đến vai trò của Khuynh hướng phê bình Mác-xít ở Việt Nam nửa
đầu thế kỉ XX . Thành tựu của phê bình văn học thời kì này bao quát nhiều lónh
vực: phê bình tác giả, tác phẩm, thể loại, giai đoạn văn học… trong đó có nhiều tác
phẩm đến nay vẫn giữ nguyên sức sống. Nhiều vấn đề lí luận mà phê bình văn học
giai đoạn này đặt ra vẫn đang là những vấn đề thời sự văn học hôm nay.
Một đặc điểm nổi bật của phê bình văn học Việt nam nửa đầu thế kỉ XX là sự
phong phú, đa dạng về nội dung, đề tài và khuynh hướng tư tưởng… Điều đó đã dẫn
đến sự bùng nổ các cuộc tranh luận sôi nổi, kéo dài trên báo chí. Nhìn chung, các
cuộc tranh luận – cuộc đấu tranh giữa các khuynh hướng tư tưởng – đã góp phần
xây dựng và củng cố các khuynh hướng tư tưởng và lí luận khoa học, tiến bộ, góp

pháp nào là chìa khóa vạn năng cho mọi hiện tượng văn học; các phương pháp,

7
khuynh hướng khác biệt đều có khả năng bổ sung, hoàn thiện cho nhau và việc vận
dụng, phối hợp phương pháp nào là tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu cụ thể. Do
đó, nghiên cứu, phân tích và đánh giá khách quan, khoa học các phương pháp phê
bình nói chung và khuynh hướng phê bình Mác-xít nói riêng là công việc rất cần
thiết để góp phần xây dựng và thúc đẩy sự phát triển khoa nghiên cứu văn học ở
nước ta trong tình hình thực tiễn hiện nay. Mặt khác, phê bình Mác-xít ở nước ta
cũng như trên thế giới đang đứng trước yêu cầu đổi mới. Việc xem xét, nhận đònh
lại khuynh hướng phê bình Mác-xít nửa đầu thế kỉ XX thể hiện ý thức phản tỉnh có
ý nghóa đònh hướng và tự hoàn thiện những mặt còn hạn chế của bản thân phương
pháp này nhằm đáp ứng kòp thời yêu cầu phát triển của khoa học.
2. Lòch sử vấn đề:
Trước năm 1945, ngay ở trong giai đoạn mới hình thành, phê bình Mác-xít đã
trở thành đối tượng của phê bình đương thời. Hầu như tất cả các vấn đề, luận điểm
của phê bình Mác-xít đều được đưa ra bàn bạc, đối thoại giữa những người ủng hộ
lập trường tư tưởng Mác-xít và những người chưa bò thuyết phục bởi quan điểm này.
Về phía những người tán đồng và ủng hộ, có thể kể đến Phan Văn Hùm với bài đề
tựa quyển Duy tâm hay duy vật của Hải Triều (năm 1935), Hồ Xanh và bài Phê bình
Cuốn Duy tâm hay duy vật Hải Triều (năm 1936), Hải Thanh và Lời tựa viết cho
cuốn sách Văn só và xã hội của Hải Triều (năm 1937) cùng nhiều ý kiến rải rác trên
các bài báo của các tác giả: Lâm Mộng Quang, Hoả Sơn, Sơn Trà, v.v.. Đứng về
phía quan điểm không tán đồng tính chất qui phạm, giáo điều của phê bình Mác-xít
và đấu tranh cho tự do nghệ thuật, có thể kể đến Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Lê Tràng
Kiều, Lưu Trọng Lư… Nhưng nhìn chung, các bài viết về phê bình Mác-xít giai đoạn
này có tính chất đấu tranh tư tưởng và quan điểm nghệ thuật hơn là mục tiêu nghiên
cứu khoa học. Những người tán đồng lập trường tư tưởng Mác-xít lúc này bò thuyết
phục chủ yếu bởi cơ sở lí luận Mác-xít và sự nhạy cảm về yêu cầu của thực tiễn lòch
sử hơn là xuất phát từ hiểu biết thực tiễn và bản chất văn chương. Ngược lại, phía

9
Bùi Công Trừng được xếp vào khuynh hướng phê bình duy vật Mác-xít. Ngoài ra
còn có thể kể đến Phạm Thế Ngũ với Việt Nam văn học sử giản ước tân biên 1962 -
1945 (Nxb Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1965) và Lược khảo văn học của Nguyễn
Văn Trung (Nxb Nam Sơn, Sài Gòn, 1968, T.3) với hai quan điểm đánh giá và nhìn
nhận khác biệt. Phạm Thế Ngũ nhìn nhận vấn đề theo quan điểm kế thừa tinh thần
khoa học và lí luận học tập từ phương Tây còn Nguyễn Văn Trung thì xuất phát từ
quan điểm của ông về bản chất, nền tảng và khả năng của phê bình. Tuy nhiên, cả
hai công trình này đều dành cho phê bình 1930 - 1945 một số trang rất khiêm tốn.
Cũng thuộc về khuynh hướng nghiên cứu văn học sử, còn có Văn học sử thời kháng
Pháp 1858 – 1945 của Lê Văn Siêu (Nxb Trí Đăng, Sài Gòn, 1972), trong đó tác giả
có điểm qua các tác giả phê bình tiêu biểu giai đoạn này và Đặng Thai Mai là một
trong số đó.
Từ năm 1975 đến nay, các công trình nghiên cứu về phê bình Mác-xít nửa đầu
thế kỉ XX tăng lên nhanh chóng cả về số lượng lẫn chất lượng và có xu hướng tiến
dần đến mục tiêu khoa học với sự nhìn nhận thấu tình đạt lí hơn. Vấn đề được
nghiên cứu trên nhiều phương diện với cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu được
vận dụng cũng ngày càng phong phú, đa dạng. Trong Nhà văn Việt Nam, Tập 1 (Nxb
Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1979), tác giả Phan Cự Đệ đã dành
nhiều công phu cho việc giới thiệu tác giả Đặng Thai Mai. Tháng 11-1982, qua Bài
nói tại cuộc họp triển khai công tác phê bình văn học (trích trong Về lí luận và phê
bình văn học nghệ thuật, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1983), tác giả Hoàng Tùng khẳng
đònh lại phương pháp phê bình trên cơ sở chủ nghóa Marx - Lenin nhưng tác giả cũng
chỉ dừng lại ở nhận đònh trên lập trường chính trò: “Về phương pháp chung, người ta
nói tới hàng chục phương pháp nhưng thực chất có thể nói ngày nay có hai phương
pháp phê bình đối lập nhau: phương pháp phê bình trên cơ sở chủ nghóa Marx –
Lenin phương pháp phê bình trên cơ sở các lí thuyết tư sản… Phê bình là đấu tranh tư
tưởng nên không có sự “chung sống” giữa quan điểm vô sản và phương pháp tư sản

10

trên TCVH (7), 1994, tr.7). Những bài viết này đã cung cấp cho người đọc bức tranh
lòch sử về quá trình hình thành - phát triển – kết thúc của cuộc tranh luận đồng thời
đưa ra những đánh giá về đóng góp và những điều còn hạn hẹp của phong trào theo
cách nhìn của tư duy lí luận hiện đại. Cùng năm này còn có bài Bản lónh ngòi bút
của Hải Triều (TCVH, (8), tr 20) của Lộc Phương Thuỷ với những vấn đề về phong
cách phê bình. Cũng về đề tài Hải Triều và cuộc tranh luận nghệ thuật này, sau đó
không lâu đã có công trình biên khảo rất công phu và có giá trò của Vu Gia: Hải
Triều – Nghệ thuật vò nhân sinh (Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 1998). Ngay sau
đó, trong Tổng tập VHVN, T. 37 (Nxb KHXH, Hà Nội, 2000), tác giả Bùi Ngọc Trác
cũng dành hơn bốn mươi trang để giới thiệu và đánh giá lại toàn bộ quá trình hình
thành phát triển phê bình Mác-xít ở Việt Nam trước 1945 từ Hải Triều đến Đặng
Thai Mai, Nguyễn Đình Thi, Trường Chinh v.v.. và cung cấp hơn sáu trăm trang tư
liệu gồm các văn kiện của Đảng và các bài viết thuộc khuynh hướng phê bình Mác-
xít giai đoạn này.
Những năm đầu của thiên niên kỉ mới, không ít những công trình nghiên cứu có
giá trò về đề tài xuất hiện với phương pháp nghiên cứu đổi mới rõ rệt. Trên điểm
nhìn phong cách học, Hà Minh Đức đưa ra những nhận đònh về Phong cách và bút
pháp văn chương Đặng Thai Mai (TCVH, (1), 2003, tr.10-14). Văn học khái luận
cũng được Trần Đình Sử nhìn nhận lại theo tư duy lí luận văn học hiện đại qua bài
viết Văn học khái luận của Đặng Thai Mai - Công trình lí luận văn học hiện đại đầu
tiên (TCVH, (2), 2003, tr.11-14). Nguyễn Ngọc Thiện cũng có bài nghiên cứu về
Đặng Thai Mai từ quan điểm lòch sử trong Đặng Thai Mai và cuộc tranh luận nghệ
thuật vò nghệ thuật hay nghệ thuật vò nhân sinh (TCVH, (7), 2003, tr.37-41). Trong
năm 2004, đáng lưu ý là công trình Phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX
(1900 - 1945) của tác giả Nguyễn Thò Thanh Xuân (Nxb Đại học Quốc gia TPHCM,
2004). Bằng một khối lượng tri thức phong phú, công trình đã hệ thống hoá, so sánh

12
và phân tích để phác hoạ một bức tranh toàn cảnh về hoạt động phê bình nửa đầu
thế kỉ theo diễn tiến lòch sử, đồng thời phân tích những đặc điểm, thành tựu của nó

đáng hơn nữa.
3. Phạm vi đề tài
Để phản ánh đúng tính chất của phê bình Mác-xít nửa đầu thế kỉ XX với hiện
tượng hợp nhất và giao thoa giữa các lónh vực: lí luận, phê bình tác giả - tác phẩm
và nghiên cứu lòch sử văn học, chúng tôi chọn khái niệm phê bình theo nghóa rộng.
Do đó, đối tượng nghiên cứu và khảo sát sẽ là các tác phẩm và tác giả phê bình
đồng thời là các bài viết, các công trình lí luận văn học và liên hệ với vấn đề lòch sử
văn học, gọi chung là phê bình văn học; trong đó đối tượng chính là các tác phẩm lí
luận bởi vì đây là thành tựu tiêu biểu của phê bình Mác-xít giai đoạn này.
Về mặt tư liệu, các sách phê bình, các bài phê bình thuộc xu hướng Mác-xít
trên các báo và tạp chí xuất bản trong thời kì 1900 -1945 sẽ là tư liệu chính để khảo
sát và nghiên cứu. Ngoài ra, để có cơ sở đối chiếu và so sánh, chúng tôi còn sử dụng
tài liệu phê bình của các khuynh hướng phê bình khác trong cùng thời kì, các công
trình, bài viết có liên quan thuộc thời kì trước và sau nó. Đồng thời, chúng tôi cũng
tham khảo các công trình nghiên cứu về lí thuyết văn học, về lí thuyết và thực tiễn
phê bình Mác-xít trong và ngoài nước để tạo cơ sở lí luận cho việc nhận đònh, phân
tích đối tượng.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
:
Nghiên cứu đề tài Khuynh hướng phê bình Mác-xít ở Việt nam nửa đầu thế
kỉ XX, chúng tôi hướng đến mục tiêu đưa ra một cách nhìn tương đối toàn diện về
khuynh hướng phê bình Mác-xít ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX với tư cách một thể
loại thuộc bộ phận văn học Cách mạng có hệ thống quan điểm thẩm mỹ dựa trên cơ
sở phương pháp luận của chủ nghóa Marx – Lenin từ quan điểm đồng đại và lòch đại:

14

Tái hiện
quá trình hình thành và phát triển của khuynh hướng phê bình
Mác-xít Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX trong mối quan hệ tác động với

dụng phương pháp hệ thống – cấu trúc để có thể phản ánh đầy đủ toàn diện các
yếu tố, phương diện của đối tượng theo mối liên hệ logic của lòch sử đồng thời soi
rọi lại vấn đề theo quan điểm hiện đại.
Tính chất, yêu cầu về giá trò khách quan, khoa học của công trình nghiên cứu
cũng đòi hỏi phương pháp so sánh. Chúng tôi cũng lưu ý đến phương pháp này
trong công trình để đối chiếu giữa các giai đoạn, các tác gia, các quan điểm v.v.. từ
đó rút ra những nét đặc trưng của vấn đề, sự khác biệt và quá trình chuyển biến, vận
động của đối tượng.
Ngoài ra, phê bình cũng thuộc về một phương diện của hoạt động tiếp nhận. Ở
đây là vấn đề tiếp nhận lí luận Mác-xít với nguồn gốc là nguyên lí triết học của chủ
nghóa duy vật biện chứng (DVBC). Việc vận dụng phê bình Mác-xít đưa đến những
hệ quả như thế nào đối với đời sống văn học, đồng thời việc tiếp nhận phản ánh như
thế nào về nguồn gốc của nó cũng như phản ánh như thế nào về phương pháp tiếp
cận phê bình Mác-xít ở Việt Nam? Đây là những vấn đề cần được giải quyết bằng
phương pháp lòch sử - chức năng. Do đó, chúng tôi cũng vận dụng phương pháp
này trong quá trình thực hiện đề tài.
6. Những đóng góp mới của luận văn:
Chọn đề tài Khuynh hướng phê bình Mác-xít ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ
XX, chúng tôi mong muốn đưa ra một cách nhìn hệ thống và toàn diện về một
khuynh hướng phê bình ở giai đoạn hình thành và xác lập chỗ đứng của nó trong
bối cảnh phức tạp và sôi động của đời sống văn học và phê bình nửa đầu thế kỉ
trước.
Phê bình Mác-xít trong suốt một thời gian dài đã giữ vai trò lòch sử quan trọng
trong đời sống văn hóa dân tộc. Do đó, nghiên cứu đề tài trong giai đoạn hình thành,

16
chúng tôi cũng kì vọng có thể làm sáng tỏ những đặc điểm cơ bản của nó; đánh
giá, nhìn nhận lại các vấn đề có liên quan đến đề tài mà trước đây do điều kiện lòch
sử - xã hội, các công trình đi trước chưa có điều kiện giải quyết thật thấu đáo và
thuyết phục.

BÌNH MÁC-XÍT Ở VIỆT NAM NỬA ĐẦU
THẾ KỈ XX
1.1. Tổng quan về phê bình Mác-xít:

1.1.1. Khái niệm phê bình Mác-xít
Phê bình Mác-xít là khuynh hướng phê bình văn học dựa trên cơ sở triết học có
tính qui phạm với những lập trường tư tưởng rõ ràng, dứt khoát của chủ nghóa duy
vật biện chứng (CNDVBC) do Marx đề xuất được Engels và Lenin tiếp tục hoàn
thiện. Theo quan điểm này, văn học được cắt nghóa như là sản phẩm của một quá
trình nhận thức con người, một hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan: văn học
là một hình thái ý thức thuộc thượng tầng kiến trúc chòu ảnh hưởng và có quan hệ
qua lại với cơ sở hạ tầng kinh tế. Từ đó, phê bình Mác-xít giải quyết những vấn đề
về văn học bằng mối quan hệ biện chứng giữa văn học và đời sống xã hội.
Phê bình Mác-xít vốn có nền móng từ phê bình hiện thực chủ nghóa của thế kỉ
XIX nhưng thực sự trở thành một cơ sở lí luận có hệ thống thì phải đến thập niên
cuối cùng của thế kỉ này. Franz Mering (1846 -1916) – người Đức và Georgi
Plekhanov (1856 -1818) – người Nga là những nhà phê bình Mác-xít đầu tiên đưa
hệ thống lí thuyết này vào thực tiễn nhưng cả hai đều bò coi là những nhà phê bình
Mác-xít không chính thống theo quan điểm chính thống của Xô viết sau đó. Mering
và Plekhanov có quan điểm chung là đều thừa nhận tính tự trò nhất đònh của nghệ
thuật và quan niệm phê bình Mác-xít như một khoa học khách quan về các nhân

18
tố xã hội trong tác phẩm văn học hơn là một học thuyết giáo điều về những vấn
đề nghệ thuật, vấn đề chủ thể hay phong cách tác giả.
Phê bình Mác-xít phát triển các nguyên tắc của nó sớm nhất là ở Nga – Xô
viết. Và chỉ khoảng từ năm 1932 trở đi, phê bình Mác-xít mới được gọi là “chủ

nhiều quốc gia. Ở Hoa kì, tiêu biểu là Bernard Smith với công trình Forces in
American Critisism (1939). Ở Anh, đại diện tiêu biểu nhất của phê bình Mác-xít là
Christopher Caudwell (1907 -1937) với công trình Illusion ana Reality (1937) tổng
hợp từ học thuyết của chủ nghóa Marx, nhân loại học và tâm lí học. Nhưng cho đến
nay, nhà phê bình Mác-xít được coi là tiêu biểu nhất của thế giới là Georgy Lukacs
(1885 -1971) – nhà mỹ học lớn người Hungary. Các công trình nghiên cứu của ông
thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa CNDVBC với tri thức thực tiễn của nền văn
học Đức, các tác phẩm chính của ông có thể kể đến: Geothe and his age (1947),
Historical Novel (1955) và Die Eigenant des Asthetischen (1965). Điều đáng lưu ý ở
đây là, nhấn mạnh ảnh hưởng của yếu tố xã hội và chính trò, Lukacs vẫn không phủ
nhận yếu tố tình cảm, cảm xúc trong các giá trò của văn học.
1.1.2. Những nguyên tắc cơ bản
1.1.2.1. Về nguồn gốc và bản chất của văn học
:
Văn học là sản phẩm của xã hội. Đời sống con người bắt đầu bằng lao động và
hoạt động ngôn ngữ là điều kiện hình thành của các giác quan mang thuộc tính
người trong đó có giác quan cảm nhận và sáng tạo cái đẹp: “Trước hết là lao động;
sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ; đó là hai sức kích thích chủ yếu
đã ảnh hưởng đến bộ óc con vượn, làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ
óc của con người” [59, tr.26]. Lao động của con người đặc biệt ở chức năng tác động
kép của nó: vừa làm biến đổi tự nhiên, vừa làm biến đổi chính bản thân con người
và “phát triển những năng khiếu tiềm tàng trong bản thân mình” bởi vì hoạt động
sản xuất của con người khác với hoạt động sản xuất của con vật ở tính chất tự do,

20
chủ quan và có ý thức của nó: “Súc vật chỉ nhào nặn vật chất theo thước đo và nhu
cầu của giống loài của nó, còn con người thì có thể sản xuất theo thước đo của bất kì
giống nào và ở đâu cũng có thể áp dụng thước đo thích dụng cho đối tượng. Do đó,
con người cũng nhào nặn vật chất theo qui luật của cái đẹp” [59, tr.17-18]. Cùng với
quá trình phát triển ngày càng phong phú, tinh vi và phức tạp của các hoạt động lao

đònh, vận động theo sự phát triển của mối quan hệ với lực lượng sản xuất:
“Trong sự sản xuất xã hội về đời sống của mình, con người có những quan hệ
với nhau, những quan hệ nhất đònh, tất yếu, độc lập với ý muốn của họ, tức những
quan hệ sản xuất này phù hợp với một trình độ phát triển nhất đònh của các lực
lượng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành
những cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cơ sở thực tại, trên đấy xây dựng lên một
kiến trúc thượng tầng pháp lí và chính trò, và tương ứng với cơ sở thực tại đó thì có
những hình thái ý thức xã hội nhất đònh. Phương thức sản xuất đời sống vật chất
quyết đònh quá trình sinh hoạt xã hội, chính trò và tinh thần nói chung (…). Cơ sở kinh
tế thay đổi thì tất cả cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bò đảo lộn ít nhiều nhanh
chóng” [59, tr.29-30].
Phê bình Mác-xít quan niệm sáng tạo văn học như là một nỗ lực của con người
nhằm chiếm lónh thế giới khách quan. Do đó, quá trình sáng tạo văn học nghệ thuật
cũng tuân theo cơ chế phản ánh của qui luật nhận thức thông qua phương tiện trung
gian là hoạt động ngôn ngữ . Ngôn ngữ thể hiện những tư tưởng, biểu tượng và ý
thức con người nhưng ngôn ngữ chỉ nảy sinh trong những hoạt động và những quan
hệ giao dòch vật chất của con người, ngôn ngữ là “ngôn ngữ của đời sống thực tế”.
Ngôn ngữ phản ánh toàn bộ những hiện trạng đời sống vật chất trong đó con người
đang hoạt động với những điều kiện nhất đònh của sức sản xuất và mối quan hệ sản
xuất tương ứng.

22
Tuy nhiên, ý thức không hoàn toàn đồng nhất với thế giới khách quan. Thế giới
khách quan chuyển hóa vào ý thức con người thông qua phương tiện ngôn ngữ
có một “độ nhoè” nhất đònh do hai yếu tố: tính tương đối của nhận thức và tính
“không thuần tuý” ý thức của bản thân ngôn ngữ.
Nhận thức là sự phản ánh giới tự nhiên bởi con người. Nhưng “con người không
thể nắm được – phản ánh – miêu tả đúng được giới tự nhiên một cách đầy đủ như là
chỉnh thể”, trong tính “chỉnh thể trực tiếp” của giới tự nhiên”. Do đó, nhận thức là
một quá trình đi dần dần đến “sự phù hợp giữa tư tưởng và khách thể”. Tóm lại,

chi phối của tính mơ hồ, đa nghóa của ngôn ngữ nghệ thuật đã vượt ra ngoài tầm
kiểm soát ý thức của nhà văn. Và vì vậy, tác phẩm cũng có tính độc lập tương đối.
Tóm lại, phê bình Mác-xít quan niệm văn học như một hình thái ý thức xã hội
phản ánh hiện thực. Văn học bắt nguồn từ đời sống và mang tính xã hội sâu sắc.
Văn học phản ánh hiện thực nhưng đó không phải là sự phản ánh đơn giản, trực tiếp,
một chiều mà là một quá trình vận động phức tạp đầy mâu thuẫn. Hơn nữa, ngôn
ngữ – phương tiện vật chất hoá của ý thức – “không thuần tuý” là ý thức. Do đó, thế
giới nghệ thuật của tác phẩm văn học không bao giờ hoàn toàn đồng nhất với thế
giới khách quan mà nó phản ánh. Phê bình Mác-xít lí giải mọi hiện tượng trong đời
sống văn học trên cơ sở những điều kiện kinh tế - xã hội và thời đại lòch sử của nó
nhưng không quan niệm hiện thực được phản ánh trong tác phẩm là “chỉnh thể trực
tiếp” của hiện thực đời sống khách quan bên ngoài. Xuất phát từ nền tảng lí luận
này, các nhà phê bình Mác-xít nhiều thế hệ đã xây dựng hệ thống những nguyên tắc
cơ bản của phê bình văn học Mác-xít mà trọng tâm của nó là phản ánh luận nghệ
thuật. Phản ánh luận được coi là cơ sở triết học và mỹ học để giải quyết mối quan
hệ giữa văn học và hiện thực với các phạm trù cơ bản như: vật chất và vận động,
không gian và thời gian, nguyên nhân và kết quả, tự do và tất yếu, tính biện chứng

24
của sự phát triển, chân lí khách quan v.v.. Vận dụng phản ánh luận, các nhà phê
bình Mác-xít xem xét hiện tượng văn học như là hình ảnh chủ quan của thế giới
khách quan và lấy tiêu chí tính chân thật làm cơ sở đánh giá thuộc tính hiện thực
của tác phẩm văn học.
1.1.2.2. Về chức năng của văn học và vai trò của văn nghệ só
.
Phê bình Mác-xít đánh giá cao vai trò và chức năng của văn học đối với đời
sống xã hội. Không chỉ nhấn mạnh hiện thực là nguồn gốc cốt yếu, là đối tượng
phản ánh của văn chương, các nhà lí luận kinh điển của chủ nghóa Marx còn coi đời
sống hiện thực là điểm xuất phát cho những mục tiêu kiến thiết xã hội của văn học.
Tác phẩm văn học chỉ có giá trò thực sự khi nó gắn liền với những vấn đề thời sự

hoá thực thể khách quan xu hướng ngày càng nâng cao. Marx khẳng đònh đó là một
qui luật tất yếu xét về phương diện lí luận cũng như về phương diện thực tiễn – để
một mặt nhân loại hoá cảm giác con người và mặt khác, sáng tạo cảm giác con
người tương ứng với toàn bộ sự phong phú của bản chất nhân loại và tự nhiên [59,
tr.21].
Xuất phát từ những luận điểm trên đây, khi áp dụng vào thực tiễn của nền văn
học Xô viết, Lenin trao cho các văn nghệ só nhiệm vụ cụ thể là “góp phần đào tạo
những người công nhân Cách mạng để cho họ tiến lên ngang trình độ những người
trí thức Cách mạng về mặt hoạt động của Đảng” [59, tr.120], “phải huấn luyện cho
công nhân (cũng như sinh viên và học sinh trung học), làm sao cho có thể cùng với
họ đề cập đến các vấn đề ấy…” (vấn đề “chính trò” và “tổ chức”). Đưa ra mục tiêu
này, Lenin cũng nhấn mạnh sự khác biệt trong công việc của người nghệ só với nhà
sư phạm. Và, để tác phẩm nghệ thuật có thể thành đối tượng phù hợp với trình độ
của các độc giả công nhân, Lenin yêu cầu các văn - nghệ só và cả các học giả “phải
cố gắng viết giản dò, không có những lời thừa, không có những màu mè bề ngoài
của “học giả” [59, tr.117] đồng thời cũng phải có ý thức sáng tạo, nâng cao trình độ

Trích đoạn Các đặc điểm về phương pháp phê bình Phương pháp so sánh – đối chứng khách quan Ngơn ngữ đối thoại
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status