Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
PHẠM THÚY HÀ ĐẤU TRANH CỦA BINH LÍNH NGƢỜI VIỆT
TRONG QUÂN ĐỘI PHÁP Ở VIỆT NAM
TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN NĂM 1945 LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN NĂM 1945
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Hà Thị Thu Thủy
Thái Nguyên, 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Các nội
dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố
trong bất cứ một công trình nào khác.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
ii
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các thầy cô giáo
trong Khoa Lịch sử, đặc biệt là những thầy cô giáo ở chuyên ngành Lịch sử
Việt Nam, những ngƣời đã giảng dạy và động viên tôi trong suốt hai năm học
vừa qua giúp tôi hoàn thành nghiên cứu và hoàn thiện nghiên cứu đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Hà Thị Thu Thủy ngƣời đã
tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Qua đây, cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè tôi, những ngƣời
đã luôn ở cạnh tôi trong những lúc khó khăn nhất và giúp tôi có đƣợc thành
quả ngày hôm nay.
Luận văn này là kết quả bƣớc đầu của quá trình nghiên cứu khoa học
song do điều kiện năng lực và thời gian còn hạn chế, đề tài nghiên cứu không
tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót. Rất mong đƣợc sự đóng góp, bổ sung của
các thầy cô và các bạn để công trình thêm hoàn thiện
Tác giả luận văn Phạm Thúy Hà iii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
2.2.2 Binh biến Đô Lƣơng (13-1-1941) 64
Tiểu kết chƣơng 2 67
Chƣơng 3. MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ PHONG TRÀO ĐẤU TRANH
CỦA BINH LÍNH NGƢỜI VIỆT TRONG QUÂN ĐỘI PHÁP Ở VIỆT
NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN NĂM 1945 68
3.1 Nguyên nhân dẫn đến phong trào đấu tranh 68
3.2 Ảnh hƣởng của các khuynh hƣớng cách mạng đầu thế kỉ XX 76
3.2.1 Ảnh hƣởng của khuynh hƣớng cách mạng dân chủ tƣ sản 76
3.2.2 Ảnh hƣởng của khuynh hƣớng cách mạng vô sản 85
3.3 Vai trò trong phong trào giải phóng dân tộc 91
3.4 Một số bài học kinh nghiệm 95
Tiểu kết chƣơng 3 99
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 1
MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài
Cuối thế kỉ XIX, sau khi căn bản hoàn thành công cuộc bình định về
quân sự và chính trị, thực dân Pháp bắt tay ngay vào thực hiện công cuộc khai
thác thuộc địa Việt Nam. Qua hai đợt khai thác thuộc địa, ở một chừng mực
nhất định kinh tế - xã hội Việt Nam đã có sự chuyển biến. Nhƣng về cơ bản,
nƣớc ta vẫn ở trong vòng luẩn quẩn của đói nghèo, lạc hậu, bị nô dịch và lệ
thuộc chặt chẽ vào nƣớc Pháp. Thực dân Pháp ra sức bóc lột và thống trị một
cách tàn bạo đối với ngƣời dân Việt Nam. Vì vậy, mâu thuẫn giữa toàn thể dân
trong nƣớc và thế giới, làm cho thực dân Pháp hoang mang lo sợ, chính
quyền Pháp ở Đông Dƣơng chấn động, cho thấy sự thất bại của ngƣời Pháp
trong âm mƣu lôi kéo và sử dụng ngƣời Việt làm công cụ thống trị và bóc
lột ở Việt Nam, góp phần răn đe hệ thống cai trị của họ. Đặc biệt, ở mỗi
thời điểm khác nhau, các cuộc đấu tranh của binh lính ngƣời Việt trong
quân đội Pháp đã từng bƣớc thể hiện đƣợc những ảnh hƣởng của những
khuynh hƣớng cách mạng mới ở nƣớc ta. Sự thành, bại của các cuộc đấu
tranh đó đã ít nhiều chứng minh đƣợc tính đúng đắn và hạn chế của mỗi
khuynh hƣớng cách mạng, đồng thời báo hiệu đƣợc sự thành công của các
khuynh hƣớng đó đối với vận mệnh dân tộc, đƣợc coi là “những phát súng
đầu tiên báo hiệu thời kì đấu tranh mới”.
Để hiểu thêm và có hệ thống về phong trào đấu tranh của binh lính ngƣời
Việt trong quân đội Pháp, góp phần khẳng định những trang sử vàng trong truyền
thống đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc Việt Nam nói chung và nhân
dân các dân tộc nơi xảy ra các cuộc đấu tranh của binh lính ngƣời Việt nói riêng,
đặc biệt là tìm ra nguyên nhân và đánh giá đƣợc vai trò của lực lƣợng binh lính
ngƣời Việt trong công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc,
đồng thời phân định đƣợc những ảnh hƣởng khác nhau của các khuynh hƣớng cách
mạng ảnh hƣởng tới các cuộc đấu tranh đó cũng nhƣ rút ra đƣợc những bài học kinh
nghiệm trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “
Đấu tranh của binh lính người Việt trong quân đội Pháp ở Việt Nam từ đầu thế kỉ
XX đến năm 1945” làm luận văn thạc sĩ của mình. 3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan đến đề tài “ Đấu tranh của binh lính người Việt trong quân đội
Pháp ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945” trên nhiều khía cạnh khác nhau
đã có một số cơ quan, cá nhân giới sử học trong nƣớc đề cập đến và đƣợc công bố.
Có lẽ, tác phẩm đề cập sớm nhất đến vấn đề này là tác phẩm của lãnh tụ
Các văn kiện Đảng nhƣ: Đảng cộng sản Việt Nam (1977), Văn kiện Đảng
1930-1945, NXB Sự thật Hà Nội… Các công trình nghiên cứu lịch sử của
Đảng bộ các địa phƣơng nơi xảy ra các cuộc đấu tranh của binh lính ngƣời Việt
trong quân đội Pháp ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX nhƣ Lịch sử Đảng bộ thành
phố Hà Nội; Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, tỉnh Quảng Ninh, tỉnh Yên
Bái, tỉnh Nghệ An… đều đề cập tới các cuộc đấu tranh của binh lính ngƣời Việt
trong quân đội Pháp ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX.
Nhìn chung, các tác phẩm của các nhà lãnh đạo cách mạng và những
công trình nghiên cứu của các cơ quan và các nhà khoa học nói trên đã đề cập
và cung cấp tƣơng đối đầy đủ về các cuộc đấu tranh tiêu biểu của lực lƣợng
ngụy binh Việt Nam trong quân đội Pháp nửa đầu thế kỉ XX, chủ yếu là các nội
dung về nguyên nhân, diễn biến, kết quả và một vài nhận xét đánh giá. Các tác
phẩm và công trình đó là nguồn tài liệu quan trọng giúp chúng tôi nghiên cứu,
tham khảo và hoàn thành đề tài này. Tuy nhiên các sự kiện mà các công trình
và tác phẩm đó nghiên cứu, đề cập hầu hết đều đặt các cuộc đấu tranh của binh
lính ngƣời Việt trong quân đội Pháp ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX trong cuộc
đấu tranh chung của dân tộc Việt Nam, hoặc lại nghiên cứu một cách riêng lẻ,
phục vụ cho lịch sử của riêng địa phƣơng mình mà chƣa có một công trình nào
nghiên cứu một cách có hệ thống về phong trào đấu tranh của riêng binh lính
ngƣời Việt trong quân đội Pháp ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX, để qua đó thấy
đƣợc đây cũng là một trong những động lực đấu tranh giải phóng dân tộc của
cách mạng Việt Nam và từ đó xác định đƣợc vị trí, vai trò của lực lƣợng này
đối với lịch sử dân tộc so với các lực lƣợng khác nhƣ: công nhân, nông
dân…mà Đảng ta đã xác định trong Cƣơng lĩnh chính trị đầu tiên vào đầu năm
1930. Ngoài ra, có thể cũng chƣa có một công trình nghiên cứu nào phân định 5
rõ ảnh hƣởng của các khuynh hƣớng cách mạng ở Việt Nam tới các cuộc đấu
tranh của binh lính ngƣời Việt trong quân đội Pháp ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ
Nguồn tư liệu: Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng các
tác phẩm lí luận kinh điển của Cac Mác, Enghen, V. Lênin; các tài liệu Văn
kiện Đảng, những bài viết và tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh; các nhà sử
học nhƣ Trần Huy Liệu, Trần Văn Giàu; các công trình nghiên cứu của các nhà
khoa học đã đƣợc công bố, các bài viết đăng trên tạp chí: Nghiên cứu lịch sử,
Nghiên cứu lịch sử Đảng, Lịch sử quân sự, Lịch sử Đảng bộ một số tỉnh thành;
Giáo trình các trƣờng đại học, kỉ yếu hội thảo khoa học viết về lịch sử liên quan
đến phong trào đấu tranh của binh lính ngƣời Việt trong quân đội Pháp ở Việt
Nam nửa đầu thế kỉ XX.
Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng
phƣơng pháp lịch sử, kết hợp với phƣơng pháp lôgic là chủ yếu. Ngoài ra
chúng tôi còn sử dụng phƣơng pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá để
làm sáng tỏ nội dung của đề tài.
5. Đóng góp của đề tài
- Luận văn góp phần khái quát quá trình xâm lƣợc Việt Nam của thực dân
Pháp; âm mƣu và thủ đoạn của thực dân Pháp khi thành lập lực lƣợng quân đội bản
xứ vào việc xâm lƣợc, thống trị và đàn áp nhân dân ta; những nguyên nhân sâu xa và
trực tiếp đƣa đến các cuộc đấu tranh của binh lính ngƣời Việt trong thời kì này.
- Luận văn trình bày một cách khái quát và có hệ thống các cuộc đấu tranh tiêu
biểu của binh lính ngƣời Việt trong quân đội Pháp ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX.
- Luận văn đƣa ra những nhận định, đánh giá về nguyên nhân, tính chất,
vai trò, vị trí và đóng góp của binh lính ngƣời Việt trong quân đội Pháp ở Việt
Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 đối với cuộc đấu tranh giành độc lập dân
tộc. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong việc vận động và sử dụng lực lƣợng
ngụy binh đối với hai cuộc cách mạng giải phóng dân tộc sau này.
- Luận văn có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu phục vụ giảng dạy lịch sử ở
các trƣờng THPT, trong các tiết học thông sử hoặc lịch sử địa phƣơng. 7
Kì), chỉ để lại Đà Nẵng một lực lƣợng nhỏ. Việc chuyển hƣớng đánh chiếm vào
Nam Kì nằm trong những tính toán kĩ lƣỡng của Pháp. Nam Kì là miền đồng
bằng phì nhiêu, giao thông đƣờng biển thuận lợi, có thể sang Campuchia dễ
dàng Từ đây có thể làm căn cứ đầu tiên cho cuộc xâm lƣợc toàn Việt Nam.
Ngày 17-2-1859, Pháp nổ súng đánh thành Gia Định, quân đội triều đình tan rã
nhanh chóng. Nhƣng kế hoạch "đánh nhanh thắng nhanh" của Pháp không thể
thực hiện đƣợc vì sự quấy rối của các đội dân binh, địch buộc phải chuyển sang
"chinh phục từng gói nhỏ". Trong năm 1860, Pháp bị sa lầy ở hai nơi (Đà Nẵng
và Gia Định) do phải chia xẻ quân cho các chiến trƣờng khác ở Trung Quốc và
I-ta-li-a. Đà Nẵng không còn quân Pháp chiếm đóng. Còn tại Nam Kì, số quân
Pháp chỉ có khoảng 1000 tên, phải rải ra trên một chiến tuyến dài 10km.
Nhƣng, chúng vẫn yên ổn trƣớc một lực lƣợng từ 10.000 đến 20.000 quân triều
đình do chủ chƣơng cố thủ của quan quân nhà Nguyễn. Cơ hội đánh bật quân
Pháp ra khỏi bờ cõi đã bị bỏ qua trong năm 1860. Tới năm 1861, sau khi thắng
trận ở Trung Quốc, Pháp đem toàn lực đánh vào Nam Kì. Chúng lần lƣợt chiếm
các tỉnh Gia Định, Định Tƣờng rồi đến Biên Hòa, Vĩnh Long. Ngày 5-6-1862, 9
triều đình Huế phải kí với Pháp Hiệp ƣớc Nhâm Tuất nhƣợng 3 tỉnh miền Đông
Nam Kì là Biên Hòa, Gia Định, Định Tƣờng và nhƣờng đảo Côn Lôn cho Pháp
cùng các điều khoản khác về kinh tế, quân sự, chính trị trong đó có một điểm đáng
chú ý: "Hễ nƣớc Nam có giao thiệp với nƣớc nào thì phải báo cho chính phủ Pháp
biết ". Nhƣ vậy, triều đình Huế đã bị Pháp lấn át thêm một bƣớc về chính trị.
Thực dân Pháp đã sơ bộ nắm quyền chính trị và ngoại giao ở Việt Nam, nhằm cắt
đứt sự liên hệ giữa triều đình phong kiến nƣớc ta với phong kiến Trung Quốc.
Sau Hiệp ƣớc 1862, triều đình Huế càng trở nên lúng túng, rơi vào thế bị
động. Thực dân Pháp ngày càng trở nên gian ngoan, xảo quyệt, tìm mọi cách dồn
triều đình Huế vào thế chân tƣờng. Tuy vậy, phong trào chống Pháp của nhân dân ta
ở ba tỉnh miền Đông vẫn tiếp diễn, gây cho Pháp nhiều khó khăn. Chúng phải tìm
Khi xâm lƣợc Việt Nam, số quân đội còn ít, lại bị rải ở nhiều chiến
trƣờng, nên thực dân Pháp phải đƣa một số lính lấy từ các thuộc địa khác (Ấn
Độ, Bắc Phi) sang, nhƣng số quân đó cũng không đủ do bị hao hụt về chiến
tranh và bệnh tật. Vì vậy, ngay từ đầu, thực dân Pháp đã sử dụng chính sách
thực dân cổ truyền "Dùng ngƣời bản xứ, trị ngƣời bản xứ" với Việt Nam là
"Dùng ngƣời Việt đánh ngƣời Việt" để bổ sung, tăng cƣờng thêm lực lƣợng
quân đội, củng cố bộ máy đàn áp phục vụ cho những hành vi xâm chiếm, đàn
áp, ăn cƣớp và bóc lột.
Theo một số tài liệu, thực dân Pháp mộ lính ngƣời Việt để đánh triều
đình Huế từ năm 1858 , lúc đó "có hai đại đội, năm 1862 có ba tiểu đoàn"
[54, tr.437], trong đó phần nhiều là đồng bào công giáo bị dụ dỗ hoặc
những lính triều đình đảo ngũ rồi theo Pháp. "Tới 31.8.1858, lực lƣợng xâm
lƣợc Pháp gồm 2.350 quân (trong đó có 850 quân của Tây Ban Nha và trên
200 quân (2 đại đội) ngƣời Việt Nam)" [11, tr.836]. Sau khi chuyển quân
vào Gia Định, lực lƣợng ngụy binh này cũng đƣợc Pháp huy động tham gia
chiến đấu. Năm 1861, ở Nam Kì có 4 đại đội ngƣời bản xứ. Cấp tổ chức đơn
vị ngƣời bản xứ đƣợc nâng dần theo phạm vi chiếm đóng và yêu cầu chiến
tranh. Khi đánh chiếm đƣợc nơi nào, thực dân Pháp đều bắt các làng nộp lính
và lấy ngƣời tình nguyện. Theo nghị định ngày 29-2-1862, thực dân Pháp tổ 11
chức lính mộ thân binh, biên chế thành từng đội khoảng 50 ngƣời. Họ đƣợc
trả lƣơng theo vị trí cấp bậc và nhiệm vụ. Nhiệm vụ lúc đầu là đuổi trộm
cƣớp, phiến loạn, báo cáo cho đồn trƣởng ý định và chuyển vận của đối
phƣơng. Đội lính mộ ở Tân Hòa (thành lập năm 1863), đƣợc sử dụng để
chống lại nghĩa quân Trƣơng Định và tham gia trận chiến bình định ở Đồng
Tháp. Cùng với việc bắt lính bộ, ngƣời Pháp còn bắt lính thủy, lấy từ các làng
chài. Quyết định ngày 20-2-1864 của chính quyền thực dân chia 100 lính thủy
thành 50 ngƣời cho 2 tổng Bình Trị Trung, Dƣơng Hòa Trung, 20 ngƣời cho
Mặc dù thành lập sau nhƣng đội lính khố đỏ Bắc Kỳ đông hơn. Từ
năm 1884 đến năm 1886, Pháp đã thành lập đƣợc 4 trung đoàn (mỗi trung
đoàn có từ 1.800 đến 2.250 ngƣời), gồm 9 đại đội (mỗi đại đội từ 200 đến 250
ngƣời) và chia thành 2 tiểu đoàn (sau này mỗi trung đoàn có 3 tiểu đoàn; mỗi
tiểu đoàn có 4 đại đội). Tới năm 1884, chỉ tính riêng ở Bắc Kì, quân đội thuộc
địa Pháp ở Đông Dƣơng có trên 20.000 ngƣời, trong đó có khoảng 7.300
ngƣời Việt Nam. Lúc đầu trực thuộc Bộ hải quân và thuộc địa, từ năm 1884
trực thuộc Bộ chiến tranh để thống nhất chỉ huy. Thƣờng bố trí theo khu vực
để mở rộng chiến tranh và chiếm đóng thuộc địa. Năm 1895 tăng lên thành
năm trung đoàn lính khố đỏ Bắc Kỳ. Trung đoàn thứ năm có một số lớn dân
thiểu số gốc Thổ và Mƣờng. Còn ở Trung Kì, năm 1886 cũng có 4 tiểu đoàn
binh lính ngƣời Việt. Những đơn vị này đều do sĩ quan Pháp chỉ huy. Về cơ
bản, thực dân Pháp đã xây dựng đƣợc một lực lƣợng đông đảo đội quân bản
xứ tại Việt Nam để thực hiện những tham vọng và âm mƣu xâm lƣợc của
mình, tạo điều kiện để một số đơn vị lính ngƣời Âu rút về nƣớc.
1.2 Thực hiện triệt để chính sách "Dùng ngƣời Việt đánh ngƣời Việt"
Mong muốn của Pháp là sớm hoàn thành công cuộc bình định và trấn áp
các cuộc nổi dậy ở Việt Nam, đồng thời để "phòng thủ Đông Dƣơng", mở rộng
quyền lợi của Pháp ở vùng Viễn Đông, nhất là các nƣớc lân cận với Đông
Dƣơng. Lúc này, tình hình quốc tế đang căng thẳng do mâu thuẫn giữa đế quốc
với đế quốc ngày càng tăng. Thực dân Anh tăng cƣờng lực lƣợng ở căn cứ
Hƣơng Cảng và Singapo. Đế quốc Đức kéo vào Viễn Đông. Quân đội Nhật 13
xâm lƣợc Trung Quốc và nhòm ngó Đông Dƣơng. Nhu cầu bảo vệ thuộc địa,
lấn chiếm thêm thuộc địa bằng các biện pháp quân sự, chính trị, kinh tế, văn
hóa ngày càng cao. Vì vậy, việc tăng cƣờng lực lƣợng vũ trang ở Đông Dƣơng
càng cấp bách, trƣớc hết phải có quân lính. Chủ trƣơng của bọn thực dân nói
chung và thực dân Pháp nói riêng ở bất cứ thuộc địa nào là dùng dân thuộc địa
các cuộc khởi nghĩa, thực dân Pháp cố tình không sử dụng binh lính của các địa
phƣơng đó, không dùng chính binh lính của các dân tộc đó mà phải là lính địa
phƣơng này, đánh địa phƣơng khác, tộc ngƣời này đánh tộc ngƣời khác. Đại tá
Gan-li-ê-ni, một tên sĩ quan có nhiều thành tích trong công cuôc bình định ở
Đông Dƣơng đã truyền đạt kinh nghiệm "chia để trị" đến tận cùng của chúng:
"Hành động chính trị mới là điều quan trọng nhất Hành động đó phải đƣa đến
chính sách chủng tộc. Bất cứ một tập đoàn, chủng tộc, nhân dân, bộ lạc hay gia
đình nào cũng có quyền lợi chung nhau và đối lập với nhau cũng có sự thù
hằn và đối địch mà chúng ta phải biết lợi dụng " [48, tr190].
Cũng nhƣ mọi tên đế quốc khác lúc đó, đế quốc Pháp thèm khát thuộc địa,
coi thuộc địa nhƣ điều kiện tồn tại của nó không chỉ vì lí do kinh tế mà còn vì lí do
quân sự. Bởi vì, chỉ ở thuộc địa mới có thể tuyển mộ những lính đánh thuê rẻ tiền,
"những vật liệu biết nói" làm bia đỡ đạn; độc chiếm những vị trí quân sự quan
trọng. Binh lính Việt Nam là nguồn dự trữ to lớn để bổ sung cho quân đội Pháp và
ngày càng thay thế cho lính Pháp trong việc giữ trật tự an ninh và trong các trận
giao chiến trong chiến tranh. Là ngƣời bản xứ, binh lính Việt Nam quen với thủy
thổ, biết rõ địa lí và tình hình nhân dân, lại là ngƣời quen chịu đựng gian khổ nên
thực dân Pháp bố trí chỗ đóng quân của họ là những nơi rừng thiêng nƣớc độc, khí
hậu khắc nghiệt, hay tại các đồn bốt ở các địa phƣơng để cho lính Pháp tập trung ở
các đô thị và các điểm quân sự trọng yếu. Lúc có chiến tranh, binh lính ngƣời Việt
luôn là ngƣời đi trƣớc làm bia đỡ đạn cho binh lính, sĩ quan Pháp.
Về kinh tế, dùng lính ngƣời Việt giúp Pháp giảm bớt đƣợc một nguồn
kinh phí lớn trong việc chuyên chở lính Pháp từ chính quốc sang Việt Nam và
ngƣợc lại chuyên chở lính Pháp về nghỉ hàng năm. Chi phí cho việc ăn uống,
duy trì sức khỏe, chế độ đãi ngộ đối với binh lính ngƣời Việt cũng không đáng
là bao so với chi cho lính Pháp. Tiền lƣơng của một ngƣời lính thuộc địa cũng 15
thấp hơn nhiều so với tiền lƣơng của một ngƣời lính Pháp (lƣơng của một lính
16
trọng, giảm thiểu một trong những chừng mực vừa đủ số quân mà chúng ta hiện
giữ trên thuộc địa ở Viễn Đông" [68, tr.37]. Ngày 7-7-1900, chính phủ Pháp
thông qua đạo luật tổ chức quân đội thuộc địa gồm binh lính ngƣời Pháp và
binh lính ngƣời thuộc địa, lính cơ là lính đƣợc bổ sung cho quân đội thuộc
địa, trực thuộc Bộ chiến tranh. Sau đó, ngày 19-9-1903, theo sắc lệnh của
Phủ toàn quyền, lính chiến đấu ngƣời Việt mới đƣợc thừa nhận với cái tên
chính thức: lính khố đỏ, chủ yếu phục vụ trong các đơn vị pháo binh, kị
binh, công binh. Có nhiệm vụ chiếm đóng, bảo vệ các xứ thuộc địa và bảo
hộ của Pháp, khi cần có thể điều động đến bất cứ chiến trƣờng nào, có ngân
sách riêng. Ngày 1-11-1904, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh quy định thanh
niên Bắc Kỳ, Trung Kì từ 22 tuổi đến 28 tuổi phải đi lính với thời hạn tại ngũ
5 năm, tối đa là 20 năm. Cùng ngày đó, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh tổ chức
lực lƣợng quân dự bị ngƣời bản xứ ở Đông Dƣơng. Lực lƣợng này mỗi năm
phải tập trung để luyện tập tối đa 15 ngày, khi cần có thể động viên từng khóa
hay toàn bộ quân vào ngũ. Ngày 5-11-1904, chúng ban hành sắc lệnh lập
những trung đội công binh ngƣời bản xứ toàn Đông Dƣơng. Tiếp đến, ngày
23-10-1910, Tổng thống Pháp lại ra sắc lệnh quy định tất cả binh lính ngƣời
Việt khi mãn hạn tại ngũ phải chuyển sang lực lƣợng quân dự bị khi đủ 15
năm (kể cả thời gian tại ngũ) mới đƣợc giải ngũ. Họ cũng phải tập trung luyện
tập 15 ngày trong năm và bị động viên nhƣ quân dự bị khi cần thiết.
Ngoài quân đội chính quy có sự tham gia của binh lính Việt Nam (gọi là lính
khố đỏ), thực dân Pháp còn tổ chức những đội lính khố xanh (thành lập theo Nghị
định của Toàn quyền Đông Dƣơng ngày 17-6-1897). Đây là lực lƣợng chuyên đi
đàn áp các cuộc khởi nghĩa, phục vụ các đạo quan binh, canh gác các nhà tù. Ở phủ,
huyện, châu có lính cơ, lính lệ lính dõng. Đây là lực phải đi trƣớc, mở đƣờng cho
lính lê dƣơng và lính khố đỏ theo sau khi đàn áp nhân nhân. Các làng xã có tuần
phu, một lực lƣợng bán vũ trang, dƣới quyền điều khiển của trƣơng tuần và lý
trƣởng. Chủ yếu dùng để dò la tin tức, đón lõng phục kích nghĩa quân khi di
chuyển, cũng nhƣ đàn áp, đốt phá các gia đình, làng xóm khi họ đi theo nghĩa quân.
Pháp. Cơ cấu lính ngƣời Việt đƣợc phân bổ nhƣ sau: Bắc Kì: 6 trung đoàn bộ
binh (có 4 trung đoàn lính khố đỏ), 1 trung đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn pháo 18
binh độc lập, 3 pháo đội phòng không và một số pháo đội bờ biển; Ở Trung Kì
và Lào: 2 trung đoàn bộ binh (1 tiểu đoàn lính khố đỏ), tiểu đoàn ngƣời thiểu
số, 1 tiểu đoàn thám kích Lào, 1 tiểu đoàn pháo dã chiến và một số pháo đội bờ
biển; Ở Nam Kì và Campuchia: 4 trung đoàn bộ binh (có 1 trung đoàn
Campuchia) và một số đơn vị pháo binh. Toàn bộ lực lƣợng này bị tan rã hoặc
đƣợc Nhật sử dụng một phần (lính khố xanh chuyển thành bảo an binh) sau khi
Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dƣơng (9-3-1945).
Bên cạnh việc hợp pháp hóa binh lính ngƣời Việt trong quân đội Pháp,
chúng còn dùng thủ đoạn mị dân để mua chuộc, dụ dỗ ngƣời Việt Nam đi lính
cho Pháp nhƣ duy trì chế độ ruộng lính ở các làng xã, hay miễn thuế cho những
ngƣời đi lính và cảnh sát (Nghị định ngày 2-6-1897 của Toàn quyền Đume).
Trong thế chiến thứ hai (1939-1945), chúng dụ lính bằng cách tăng thêm chút ít
lƣơng, tăng thêm phần phụ cấp cho gia đình binh lính, phát bút mực cho một số
học sinh con cái tòng quân ở bên Pháp và dành một số chỗ trong công sở cho
những binh lính mãn khóa. Hoặc dùng chính sách "chia để trị", kích động, khơi
sâu hằn thù tôn giáo, vùng miền, dân tộc trên bán đảo Đông Dƣơng nói chung
và đất nƣớc Việt Nam nói riêng để làm cho ngƣời Đông Dƣơng, ngƣời Việt
Nam mâu thuẫn lẫn nhau việc mộ lính, điều khiển lính sẽ dễ dàng hơn.
Nhƣ vậy, thực dân Pháp xây dựng ở Việt Nam lực lƣợng quân đội gồm
hai bộ phận: quân chính quy và quân địa phƣơng. Theo cách tổ chức của chúng,
có thì cũng có hai loại lính Việt Nam trong quân đội Pháp: Quân chính quy
ngƣời Việt đƣợc gọi là lính khố đỏ (tức bộ binh - trang phục có đai màu đỏ, bản
rộng khoảng 20cm, bao quanh bụng, bên trong có thắt lƣng da), lính pháo thủ,
lính tàu bay (phần nhiều là lính thợ), lính thủy Họ có trách nhiệm tác chiến
trên chiến trƣờng Đông Dƣơng và ngoài Đông Dƣơng. Lực lƣợng quân chính
Dƣới thời Pháp thuộc, quân đội nhà Nguyễn vẫn tồn tại hai thành phần là
Vệ binh và Cơ binh ở kinh đô và quân địa phƣơng. Binh lính ở kinh đô là đội
quân đóng ở kinh thành Huế đƣợc chia thành ba hạng: thân binh - để bảo vệ
vua, cấm binh - để canh giữ kinh thành và tinh binh - đƣợc giao trấn giữ khu
vực ngoài kinh thành. Ngoài ra còn có các thuộc binh trong phủ đệ của các