ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ NGỌC MAI Tìm hiểu giai cấp địa chủ Việt Nam ở đồng
bằng Bắc Bộ từ đầu thế kỷ XX đến trước
cuộc cải cách ruộng đất
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế xã hội 30
2.2. Thực trạng đầu tư ngân sách trong XDCB tại Đông Anh thời gian qua 35
2.2.1. Chủ trương và chính sách đầu tư trong XDCB của Huyện 35
2.2.2. Thực trạng cơ cấu vốn đầu tư XDCB trên địa bàn huyện Đông Anh 38
2.3. Thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn ngân sách trong đầu tư xây dựng cơ bản tại Đông Anh
thời gian qua. 43
2.3.1. Đánh giá các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn ngân sách trong đầu tư XDCB 43
2.3.2. Các chỉ tiêu định tính 49
2.4. Đánh giá những mặt mạnh và những hạn chế trong hiệu quả sử dụng vốn XDCB trên địa bàn
Huyện Đông Anh 53
2.4.1. Trong khâu sử dụng vốn 53 2
2.4.2. Trong khâu hoạch định đầu tư 54
2.4.3. Trong khâu chuẩn bị đầu tư 55
2.4.4. Trong quá trình thực hiện đầu tư 56
2.4.5. Trong khâu tư vấn giám sát 56
2.4.6. Trong khâu nghiệm thu và thanh quyết toán công trình xây dựng cơ bản. 57
2.5. Kết luận về hiệu quả sử dụng vốn ngân sách trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản trên địa
bàn huyện Đông Anh 57
2.5.1. Ưu điểm 57
2.5.2. Hạn chế 58
Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản trên
địa bàn huyện Đông Anh 62
3.1. Quan điểm, định hướng sử dụng vốn ngân sách trong đầu tư xây dựng cơ bản của huyện
Đông Anh. 62
3.1.1. Quan điểm sử dụng vốn ngân sách trong đầu tư xây dựng cơ bản của huyện Đông Anh. 62
3.1.2. Định hướng sử dụng vốn ngân sách trong đầu tư xây dựng cơ bản của huyện Đông Anh
trong thời gian tới. 64
của nền kinh tế quốc dân. Có thể nói rằng, để phát triển kinh tế không thể
thiếu hoạt động đầu tư.
Thực tế hiện nay cho thấy, nhiều địa phương đã nhận thức được vai trò
quan trọng của đầu tư xây dựng cơ bản, song việc sử dụng vốn đầu tư và đầu
tư như thế nào cho hiệu quả lại là vấn đề không đơn giản. Theo ông Đặng
Trần Thanh, phó chủ nhiệm Uỷ ban kinh tế và ngân sách Quốc hội: “ Nợ đọng
xây dựng cơ bản là căn bệnh trầm kha” .
Là một huyện cửa ngõ phía bắc của thủ đô Hà Nội, Đông Anh có vị trí đặc
biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội cũng như an ninh
quốc phòng của thủ đô Hà Nội nói riêng, và của các địa phương lân cận nói
chung.
Được sự quan tâm của Đảng bộ Thành phố Hà Nội, cùng với sự nỗ lực của
cán bộ và nhân dân cả huyện, thời gian qua Đông Anh đã gặt hái được không
ít những thành tựu rất đáng ghi nhận trên mọi lĩnh vực trong đó có lĩnh vực
đầu tư xây dựng cơ bản. Tuy nhiên, tiềm năng của Đông Anh vẫn là rất lớn và
cần được tiếp tục khai thác, phát huy một cách triệt để trong thời gian tới. Để
làm được điều này, hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản luôn phải đi trước một
bước bởi lẽ đây chính là cơ sở, là điều kiện tiền đề cho sự phát triển.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
ngân sách trong hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện Đông
Anh nhằm tạo cơ sở vật chất và tăng kỹ thuật cho phát triển kinh tế huyện,
cũng như thu hút vốn đầu tư trong nước và nước ngoài trong thời gian tới, sau
một thời gian khảo sát thực tiễn, được sự chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của Cô 4
giáo - TS. Nguyễn Thị Anh Thu, các đồng nghiệp và tập thể anh chị em trong
lớp cao học QTKD K12- Khoa kinh tế- ĐHQGHN, tôi đã chọn đề tài:
“Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách trong lĩnh vực đầu tư xây
dựng cơ bản trên địa bàn huyện Đông Anh –TP. Hà Nội ” cho luận văn
- Đưa ra những giải pháp có tính thuyết phục về lý luận và thực tiễn
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách trong đầu tư XDCB ở huyện
Đông Anh
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản là một vấn đề nóng bỏng và rất phức
tạp. Trong khuôn khổ luận văn thạc sỹ, tác giả chỉ tập trung làm rõ một số vấn
đề lý luận và thực tiễn về việc sử dụng vốn ngân sách trong lĩnh vực đầu tư
xây dựng cơ bản trên địa bàn huyện Đông Anh
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Đi sâu nghiên cứu hoạt động đầu tư
xây dựng cơ bản dựa trên nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp. Không nghiên
cứu sâu các hoạt động đầu tư khác cũng như việc sử dụng các nguồn vốn khác
trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ nội dung cơ bản và đạt được mục tiêu đã xác định, trong quá
trình khảo sát thực tiễn cũng như hệ thống hóa cơ sở lý thuyết liên quan đến
vấn đề nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp sau đây: Phương pháp
duy vật biện chứng; Phương pháp logic; Phương pháp thống kê, phân tích
tổng hợp; Phương pháp so sánh phương pháp tư vấn chuyên gia về vấn đề
đánh giá hiện trạng sử dụng vốn ngân sách cho Huyện Đông Anh và phương
pháp phỏng vấn sâu.
6. Dự kiến những đóng góp của luận văn
Luận văn đưa ra một số những đóng góp sau đây:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan tới hiệu quả sử dụng vốn ngân sách
trong lĩnh vực đầu tư XDCB; làm rõ vai trò của hoạt động này tới sự phát
triển kinh tế của đất nước nói chung và với địa bàn huyện Đông Anh nói
riêng. 6
- Đưa ra bức tranh về thực trạng hiệu quả sử dụng vốn ngân sách trong
7
Chương 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn ngân sách trong đầu tư
xây dựng cơ bản
1.1. Khái niệm vốn đầu tư XDCB và hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà
nước trong đầu tư XDCB
1.1.1. Khái niệm về vốn đầu tư xây dựng cơ bản và nguồn hình thành
Trong nền kinh tế thị trường, việc tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất
mở rộng các tài sản cố định, là điều kiện quyết định đến sự tồn tại của mọi
chủ thể kinh tế. Để thực hiện được điều này các tác nhân trong nền kinh tế
phải dự trữ tích luỹ các nguồn lực. Khi các nguồn lực này được sử dụng vào
quá trình sản xuất để tái sản xuất ra các tài sản cố định của nền kinh tế thì nó
trở thành vốn đầu tư.
Khái niệm về vốn đầu tư xây dung cơ bản: Vốn đầu tư xây dung cơ bản
chính là tiền tích luỹ của xã hội của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ là
vốn huy động của dân và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử
dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo
tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội.
Nói cách khác, vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ chi phí dùng để
tái sản xuất giản đơn và mở rộng tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân,
bao gồm: các khoản chi cho khảo sát thiết kế và xây lắp nhà cửa, vật kiến
trúc, mua sắm và lắp đặt thiết bị máy móc, chi phí trồng mới cây lâu năm,
mua súc vật đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định và một số chi phí khác phát sinh
trong quá trình tái sản xuất TSCĐ…
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ những chi phí để đạt được mục
đích đầu tư, bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng, mua sắm,
lắp đặt máy móc thiết bị, và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán.
Khái niệm về hiệu quả vốn đầu tư
Khi vốn đầu tư cơ bản được thực hiện, các công trình xây dựng hoàn
Cần lưu ý rằng, hiệu quả sử dụng vốn trong đầu tư xây dựng cơ bản là
một khái niệm khác với hiệu quả trong đầu tư thông thường. Đây không chỉ là
kết quả thuần tuý về mặt tài chính mà còn bao gồm các kết quả về mặt chính
trị, văn hoá, xã hội. Các kết quả này trong thực tế thường rất khó để có thể
lượng hoá được. Ngoài việc bảo đảm về mặt kinh tế thì các hoạt động đầu tư
xây dựng cơ bản còn phải đảm bảo lợi ích hài hoà giữa các lợi ích khác như
chính trị, xã hội.
* Nguồn hình thành vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản được hình thành từ các nguồn sau: 9
Vốn đầu tư được hình thành từ các nguồn trong nước. Đây là nguồn
vốn có vai trò quyết định tới sự phát triển kinh tế của đất nước. Nguồn này
chiếm tỉ trọng lớn nó bao gồm từ các nguồn sau.
- Vốn ngân sách Nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách
địa phương, được hình thành từ sự tích luỹ của nền kinh tế, vốn khấu hao cơ
bản và một số nguồn khác dành cho đầu tư xây dựng cơ bản .
- Vốn tín dụng đầu tư (do ngân hàng đầu tư phát triển và quỹ hỗ trợ
phát triển quản lý bao gồm vốn của nhà nước chuyển sang, vốn huy động từ
các đơn vị kinh tế và các tầng lớp dân cư trong nước dưới các hình thức, vốn
vay dài hạn của các tổ chức tài chính tín dụng quốc tế và người Việt nam ở
nước ngoài.
- Vốn của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ thuộc các thành phần
kinh tế .
Vốn nước ngoài: Nguồn này có vai trò hết sức quan trọng trong quá
trình đầu tư xây dựng cơ bản và sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Nguồn này bao gồm:
-Vốn viện trợ của các tổ chức quốc tế như WB, ADB các tổ chức chính
1.1.2. Phân loại vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Tuỳ theo từng mục đích nghiên cứu mà người ta phân loại vốn đầu tư
xây dựng cơ bản thành các tiêu thức khác nhau. Nhưng nhìn chung các cách
phân loại này đều phục vụ cho công tác quản lý tốt hơn đối với hoạt động đầu
tư xây dựng cơ bản.
Ta có thể xem xét một số cách phân loại sau đây:
Theo nguồn vốn: Gồm vốn ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng đầu
tư, vốn của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ; vốn vay nước ngoài, vốn
hợp tác liên doanh với nước ngoài, vốn của dân.
Theo cách này chúng ta thấy được mức độ đã huy động của từng nguồn
vốn, vai trò của từng nguồn để từ đó đưa ra các giải pháp huy động và sử
dụng nguồn vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản có hiệu quả hơn.
Theo hình thức đầu tư: gồm vốn đầu tư xây dựng mới, vốn đầu tư
khôi phục, vốn đầu tư mở rộng đổi mới trang thiết bị. theo cách này cho ta
thấy cần phải có kế hoạch bố trí nguồn vốn cho đầu tư xây dựng cơ bản như
thế nào cho phù hợp với điều kiện thực tế và tương lai phát triển của các
ngành của các cơ sở.
Theo nội dung kinh tế :
- Vốn cho xây dựng, lắp đặt. 11
- Vốn cho mua sắm máy móc thiết bị.
- Vốn kiến thiết cơ bản khác.
Như vậy hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản có vai trò rất quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia nói chung và của các cơ sở
sản xuất kinh doanh nói riêng. Để phân tích cụ thể vai trò hoạt động này
chúng ta phải sử dụng các chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả của hoạt
động đầu tư xây dựng cơ bản
1.1.3. Hiệu quả sử dụng vốn ngân sách trong hoạt động đầu tư xây dựng cơ
L: Là yếu tố lao động
K: Là vốn đầu tư
T: Khoa học kỹ thuật.
Xét về mặt dài hạn khi vốn đầu tư được chuyển hoá thành hiện vật (K )
tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế, tăng thêm năng lực sản xuất có nghĩa là
tổng cung được tăng lên.
Trên hình vẽ cho thấy khi (K) tăng lên sẽ làm cho tổng cung tăng theo
tạo sức ép đẩy giá hạ xuống. Giá cả giảm cho phép tiêu dùng tăng, tăng
tiêu dùng lại kích thích sản xuất phát triển. Sản xuất phát triển là nguồn
gốc cơ bản dể tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho
người lao động nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội.
* Đầu tư ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đầu tư tác động đến sự mất cân đối của ngành, lãnh thổ, thành phần
kinh tế. Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu
để phát triển nhanh tốc độ mong muốn từ 9%-10%, thì phải tăng cường đầu tư
tạo ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch và dịch vụ.
Đối với các ngành nông, lâm, ngư nghiệp do những hạn chế về đất đai
và khả năng sinh học, để đạt được tốc độ tăng trưởng từ 5%-6% là một điều
khó khăn. Như vậy chính sách đầu tư ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Do vậy các ngành, các
địa phương trong nền kinh tế cần phải lập kế hoạch đầu tư dài hạn để phát
triển ngành, vùng đảm bảo sự phát triển cân đối tổng thể, đồng thời có kế
hoạch ngắn và trung hạn nhằm phát triển từng bước và điều chỉnh sự phù hợp
với mục tiêu đặt ra.
* Đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy muốn giữ tốc độ tăng
trưởng kinh tế ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15-20% so
với GDP tuỳ thuộc vào hệ số ICOR của mỗi nước.
thủ hợp tác phát triển khoa học công nghệ với nước ngoài để tăng tiềm lực
khoa học công nghệ của đất nước thông qua nhiều hình thức như hợp tác
nghiên cứu, khuyến khích đầu tư chuyển giao công nghệ. Đồng thời tăng 14
cường khả năng sáng tạo trong việc cải thiện công nghệ hiện có phù hợp với
điều kiện của Việt Nam.
* Đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến sự ổn định kinh tế, tạo công ăn
việc làm cho người lao động
Sự tác động không động thời về mặt thời gian của đầu tư do ảnh hưởng
của tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế, làm cho mỗi sự thay đổi của đầu
tư dù là tăng hay giảm cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì vừa là yếu tố phá vỡ
sự ổn định của nền kinh tế. Thí dụ như khi đầu tư tăng làm cho cầu các yếu tố
liên quan tăng, tăng sản xuất của các ngành, sẽ thu hút thêm lao động nâng
cao đời sống. Mặt khác đầu tư tăng, cầu của các yếu tố đầu vào tăng, khi tăng
đến một chừng mực nhất định sẽ gây ra tình trạng lạm phát, nếu lạm phát mà
lớn sẽ gây ra tình trạng sản xuất trì trệ, thu nhập của người lao động thấp đi,
thâm hụt ngân sách tăng, kinh tế phát triển chậm lại.
Đầu tư xây dựng cơ bản có tác động rất lớn đến việc tạo công ăn việc
làm, nâng cao trình độ đội ngũ lao động. Như chúng ta đã biết trong khâu
thực hiện đầu tư thì số lao động phục vụ cần rất nhiều, đối với những dự án
sản xuất kinh doanh thì sau khi đầu tư dự án đưa vào vận hành phải cần không
ít những công nhân, cán bộ cho vận hành, khi đó tay nghề của người lao động
được nâng cao, đồng thời các cán bộ học hỏi được những kinh nghiệm trong
quản lý đặc biệt khi có các dự án nước ngoài.
1.1.3.2. Trên góc độ vi mô
* Đầu tư xây dựng cơ bản là điều kiện quyết định sự tồn tại và phát
triển của các đơn vị sản xuất kinh doanh
Để đạt được mục tiêu phát triển sản xuất kinh doanh của mình thì các
1.2.1. Chỉ tiêu về định lượng
1.2.1.1. Chỉ tiêu khối lượng vốn đầu tư thực hiện
Đó là tổng số tiền đã chi để tiến hành hoạt động của các công cuộc đầu
tư bao gồm : Chi phí cho công tác chuẩn bị đầu tư, xây dựng nhà cửa cấu trúc
hạ tầng, mua sắm thiết bị máy móc để tiến hành các công tác xây dựng cơ bản
và chi phí khác theo quy định của thiết kế dư toán và được ghi trong dự án
đầu tư được duyệt.
Phương pháp tính khối lượng vốn đầu tư thực hiện.
Đối với công tác đầu tư quy mô nhỏ, thời gian thực hiện đầu tư
ngắn thì số vốn đầu tư được tính vào khối lượng vốn đầu tư thực hiện khi toàn
bộ công việc của quá trình thực hiện đầu tư kết thúc. 16
Đối với công cuộc đầu tư quy mô lớn thời gian thực hiện đầu tư
kéo dài thì vốn đầu tư được tính cho từng giai đoạn, từng hoạt động của một
công cuộc đầu tư đã hoàn thành.
Đối với công cuộc đầu tư do ngân sách tài trợ để tính số vốn đã chi
để được tính vào khối lượng vốn đầu tư thực hiện thì các kết quả của quá trình
thực hiện đầu tư phải đạt tiêu chuẩn và tính theo phương pháp sau đây.
- Vốn cho công tác xây dựng: Để tính chỉ tiêu này người ta phải căn cứ
vào bảng đơn giá dự toán quy định của Nhà nước và căn cứ vào khối lượng
công tác xây dựng hoàn thành.
Iv
c
= Q
xi
.P
i
+ C
+ C
in
+ W
Trong đó: Ivi là khối lượng vốn đầu tư thực hiện
- Mức vốn đầu tư thực hiện đối với công tác mua sắm trang thiết bị máy
móc máy móc cần lắp, được xác định bằng giá mua cộng với chi phí vận
chuyển đến địa điểm tiếp nhận, chi phí bảo quản cho đến khi giao lắp từng bộ
phận (đối với thiết bi lắp phức tạp) hoặc cả chiếc máy đối với thiết bị lắp giản 17
đơn. Mức vốn đầu tư thực hiện đối với công tác mua sắm trang thiết bị máy
móc cần lắp được xác định giá mua cộng với chi phí vận chuỷên đến kho của
đơn vị sử dụng và nhập kho.
Đối với công tác xây dựng cơ bản và chi phí khác
* Nếu có đơn giá thì áp dụng phương pháp tính khối lượng vốn đầu
tư thực hiện như đối với công tác xây lắp.
* Nếu chưa có đơn giá thì được tính vào khối lượng vốn đầu tư thực
hiện theo phương pháp thực chi, thực thanh.
1.2.1.2. Tài sản cố định huy động và năng lực sản xuất phục vụ tăng
thêm
Tài sản cố định huy động là công trình hay hạng mục công trình, đối
tượng xây dựng cố khả năng phát huy tác dụng độc lập (làm gia sản phẩm
hàng hàng hoá, hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ cho xã hội được ghi
trong dự án đầu tư ) đã kết thúc quá trình xây dựng, mua sắm, đã làm song thủ
tục nghiệm thu sử dụng có thể đưa vào hoạt động được ngay.
Năng lực sản xuất phục vụ tăng thêm là khả năng đáp ứng nhu cầu sản
xuất phục vụ của các tài sản cố định đã được huy động để sản xuất sản phẩm
hoặc tiến hành các hoạt động dịch vụ khác được ghi trong dự án đầu tư.
Đối với công cuộc đầu tư quy mô lớn, có nhiều đối tượng hạng mục
thu nhập quốc dân so với mức vốn đầu tư vào lĩnh vực sản xuất vật chất
hoặc mức vốn đáp ứng được nhiệm vụ kinh tế xã hội, chính trị.
Hiệu quả
=
Các kết quả thực hiện đầu
tư
Tổng vốn đầu tư thực hiện
Đây là chỉ tiêu tổng quát phản ánh ảnh hưởng sự đầu tư xây dựng cơ
bản tới nền kinh tế.
1.2.2. Chỉ tiêu định tính.
Phần trên là một số chỉ tiêu phản ánh hiệụ quả tài chính của dự án đầu
tư. Nhưng để thấy rõ vai rò của đầu tư thì chúng ta phải phân tích hiệu quả
kinh tế xã hội mà dự án đem lại. Bởi vì không phải bất cứ hoạt động đầu tư
nào có khả năng sinh lời cao đều mang lại ảnh hưởng tốt với nền kinh tế. Do
vậy trên góc độ quản lý vĩ mô phải xem xét mặt kinh tế xã hội do thực hiện
đầu tư đem lại. Điều này giữ vai trò quyết định để các cấp có thẩm quyền
cháp nhận dự án và quyết định đầu tư, các định chế tài chính quốc tế, các cơ
quan viện trợ song phương và đa phương tài trợ cho hoạt động đầu tư .
Lợi ích kinh tế xã hội của đầu tư là chênh lệch giữa các lợi ích mà
nền kinh tế xã hội thu được so với đóng góp mà nền kinh tế và xã hội phải
bỏ ra khi thực hiên đầu tư. 19
Những lợi ích mà xã hội thu được chính là sự đáp ứng của đầu tư
với việc thực hiện các mục tiêu chung của xã hội, của nền kinh tế những
sự đóng góp này có thể được xét mang tính chất định tính hoặc đo lường
bằng các tính toán định lượng.
Chi phí mà xã hội phải bỏ ra của dự án bao gồm toàn bộ các tài
nguyên thiên nhiên, của cải vật chất, sức lao động mà xã hội dành cho đầu
luật pháp
Yêú tố tự nhiên, địa
lý
Yếu tố văn hoá, xã
hội
Yếu tố kinh tế 20
1.3.1. Yếu tố tự nhiên
Môi trường, điều kiện tự nhiên có tác động quan trọng đến hoạt động
đầu tư nói chung và việc sử dụng vốn ngân sách trong đầu tư xây dựng cơ bản
nói riêng. Các nhà hoạch định đầu tư thường có những quan tâm đến môi
trường khí hậu, địa lý và sinh thái. Đe doạ của những thay đổi không thể dự
báo trước được về khí hậu đôi khi đã được các nhà quản lý xem xét một cách
cẩn thận. Bất kỳ một quyết định đầu tư nào cũng phải tính đến các yếu tố
thuộc về tự nhiên.
Rõ ràng là, một khi các công trình được đầu tư xây dựng được đặt trong
một khu vực có tiềm năng phát triển thì sẽ nâng cao được hiệu quả của vốn
đầu tư và ngược lại. Bên cạnh đó, đối với những khu vực có điều kiện thổ
nhưỡng không thuận lợi cho việc thi công các công trình thì hoạt động đầu tư
đòi hỏi có nguồn vốn lớn, chính điều này đã tạo nên gánh nặng cho nguồn vốn
ngân sách.
1.3.2. Yếu tố kinh tế
Bất kỳ một hoạt động đầu tư nào cũng phải dựa trên yếu tố kinh tế. Có
thể nói, đây chính là yếu tố quyết định tới hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản
nói riêng và hoạt động đầu tư nói chung.
công trình được xây dựng nhất thiết phải có vốn mà trong đó vốn ngân sách
chiểm tỷ trọng lớn, ngược lại khi công trình đó được đưa vào sử dụng có hiệu
quả thì vừa đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội vừa tạo nguồn thu trở lại cho ngân
sách địa phương đó.
1.3.3. Yếu tố văn hoá, xã hội
Đây cũng là yếu tố có tác động không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn
ngân sách trong đầu tư xây dựng cơ bản. Một trong những mực đích của các
hoạt động chi tiêu công là nâng cao, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của
người dân. Theo đó, đối với những vùng có mật đồ dân cư đông đúc thì nhu
cầu về hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản sẽ cao hơn đối với những vùng có
mật độ dân cư thưa thớt. Yếu tố dân cư có xu hướng biến động cùng chiều với
yếu tố kinh tế, địa phương nào có kinh tế phát triển thì ở đó thường tập trung 22
đông dân cu sinh sống và ngược lại. Việc sử dụng có hiệu quả hay không các
công trình phúc lợi công cộng phụ thuộc nhiều vào số lượng dân cư ở địa
phương đó. Sẽ là lãng phí khi một công trình được xây dựng không được sử
dụng hoặc sử dụng không hết công suất. Theo đó, việc đầu tư vốn ngân sách
cho công trình đó cũng trở nên thiếu hiệu quả.
1.3.4. Yếu tố chính sách, pháp lý
Yếu tố này đóng vai trò then chốt đối với hiệu quả sử dụng vốn ngân sách
trong đầu tư xây dựng cơ bản. Rõ ràng, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản chủ
yếu được thực hiện bởi ngân sách nhà nước, vì vậy đầu tư bao nhiêu, đầu tư ở
đâu, như thế nào ? là do Nhà nước và chính quyền địa phương quyết định. Hoạt
động đầu tư xây dựng cơ bản luôn gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế xã
hội của địa phương và của cả nước, do vậy việc sử dụng vốn đặc biệt là vốn
ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ bản luôn phải tuân thủ các quy định của Nhà
nước, của chính quyền địa phương nơi sẽ diễn ra các hoạt động đầu tư.
Các nhân tố chính sách, pháp luật và chính trị tác động đến hoạt động
quận Cầu Giấy.
Là một Quận không phải là trung tâm của Thành phố Hà Nội tuy nhiên
Cầu Giấy đã và đang có những bước tiến đáng kể trong đầu tư xây dựng cơ
bản nói chung và trong việc sử dụng vốn ngân sách cho đầu tư xây dựng cơ
bản nói riêng. Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu việc sử dụng vốn ngân
sách cho đầu tư xây dựng cơ bản, trên địa bàn Quận Cầu Giấy ta nhận thấy có
những điểm nổi bật sau đây:
- Thứ nhất: Về công tác quy hoạch đã có những bước tiến đáng kể, hệ
thống đường giao thông đã được cải tạo, nâng cấp một cách toàn diện hơn.
Trong năm 2005, quận đã xây dựng được một số tuyến đường quan trọng
như: đường Nguyễn Phong Sắc nối dài, đường Láng nối dài với kinh phí
hàng nghìn tỷ đồng. Hệ thống điện, đường , trường, trạm cũng đã được quan
tâm đầu tư đúng mức và được phân bổ đều trên địa bàn Quận, tránh tình trạng
cục bộ địa phương trong công tác quy hoạch. Toàn Quận hiện có 16 trạm y tế,
38 trường học từ cấp tiểu học đến cấp trung học được trải đều trên địa bàn.
Các khu vui chơi giải trí cũng dần được nâng cấp phục vụ tốt hơn đời sống
vật chất tinh thần của người dân. Nhờ có chính sách quy hoạch hợp lý đã góp
phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế – xã hội. Năm 2006, tốc độ phát triển 24
kinh tế trên địa bàn Quận đạt 13,6 %, cao hơn mức trung bình của toàn Thành
Phố hơn 1,5%, thu hút đầu tư trong và ngoài nước đạt hơn 23 triệu USD tăng
17,5% so với cùng kỳ năm 2005.
- Thứ hai, về vốn đầu tư, do nhu cầu về vốn đầu tư trong xây dựng cơ
bản là rất lớn nên Quận đã có chủ trương giảm thiểu sự phụ thuộc vào vốn
ngân sách nhà nước trong công tác đầu tư xây dựng cơ bản. Các dự án lớn của
Quận thường được huy động dưới các hình thức như vốn vay của các tổ chức
tài chính trong và ngoài nước, vốn ODA và một số nguồn vốn khác. Trong
tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn toàn quận Cầu Giấy thì vốn