Tìm hiểu du lịch văn hoá làng quê vùng đồng bằng Bắc bộ - Pdf 16

MỤC LỤC
Trang
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI ****************************** 2
PHẦN I . GIỚI THIỆU ĐĂC TRƯNG VĂN HOÁ VÙNG
ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ ******************************* 4
I . phong tục tập quán , tin ngưỡng tôn giáo ************** 4
1 . tập quàn cư trú theo làng mạc *********************** 4
2 . Tín ngưỡng , tôn giáo ****************************** 5
3 . phong tục **************************************** 5
II . Nông nghiệp , làng nghề đặc trưng văn hoá vùng
đồng bằng bắc bộ ********************************* 6
1 . sản xuất nông nghiệp và sự ảnh hưởng của nông
nghiệp đến văn hóa ẩm thực vùng đông băng bắc bộ****** 6
2. các làng nghề truyền thống tiêu biểu****************** 7
III . văn hoá tinh thần ******************************** 15
1 . Dân ca và nghệ thuật biểu diễn dân gian ************** 15
2 . Hội làng nét văn hóa đặc trưng của vùng
đồng bằng bắc bộ********************************* 28
PHẦN II . THỰC TRẠNG DU LỊCH VĂN HÓA VÙNG
ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ ****************************** 29
PHẦN III . ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG MỘT LÀNG DU LỊCH
VĂN HOÁ ĐẶC TRƯNG CỦA VÙNG ĐỒNG BẰNG BẮC
BỘ TẠI BẮC NINH ********************************* 30
TÌM HIỂU DU LỊCH VĂN HOÁ LÀNG QUÊ VÙNG ĐỒNG
BẰNG BẮC BỘ
1

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Hội đồng Lữ Hành và Du lịch quốc tế ( world Travel and Tuorism
council - WTTC ) đã công nhận du lịch là một ngành kinh tế lớn nhất thế
giới , vượt qua cả ngành sản xuất ô tô , thép , điện tử . Đối với một số quốc

mở ra cho chúng ta một hương đi mới để có thể cạnh tranh với nước ngoài .
Việt Nam có ít những công trình vĩ đại do con người xây dựng lên , nhưng
thay vào đó chúng ta lại có một nền văn hoá lâu đời mà không phải nước nào
cũng có . Trải dài suốt từ bắc xuống nam ở đâu cũng xuất hiện những làng
nghề thủ công nổi tiếng , những đặc sản quê hương của từng vùng và những
hình thức biểu diễn nghệ thuật dân gian đặc sắc . Như là Chèo , Ca trù ,
Quan họ , Cải lương , Tuồng từ lâu đã trở lên nổi tiêng không chỉ ở trong
nước mà còn được rất nhiều bạn bè quốc tế mến mộ . Đặc biẹt là Nhã Nhạc
Cung Đình Huế và không gian văn hoá cồng chiêng tây nguyên đã được tổ
chức UNESSCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của thế giới .
Vùng đồng bằng bắc bộ là vùng có nhiều điều kiện để phát triển du lich
văn hoá . Thứ nhất vị trí địa lý gồm các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng và
saông Thái Bình , tại đây có trung tâm văn hoá chính trị là Hà nội . thứ hai là
vùng đồng bằng bắc bộ có một lịch sử phát triển lâu đời và mang đậm nét
văn hoá Việt . Đặc biệt ở đây có nhiều loại hình nghệ thuật dân gian từ lâu
đã trở lên nổi tiếng không những ở trong nước mà còn được nhiều bạn bè
quốc tế hết sức mến mộ như : Dân ca Quan họ , Hát Chèo , Múa rối nước ,
Ca trù … đây là điều kiện thuận lợi cho vùng đồng bằng bắc bộ phát triển
loại hình du lịch văn hóa . Chính vì vậy em quyết định chịn đề tài “du lịch
3
văn hóa làng quê vùng đồng bằng bắc bộ ” làm đề án môn học Kinh Tế Du
Lịch của mình .
PHẦN I . GIỚI THIỆU ĐĂC TRƯNG VĂN HOÁ VÙNG ĐỒNG
BẰNG BẮC BỘ
Việt Nam là đất nước có lịch sử lâu đời , văn hoá Việt rất đa dạng và
phông phù theo từng miền vùng khac nhau có sự khác nhau về văn hoá . Mỗi
vùng có những đặc trưng riêng , vùng đồng băng bắc bộ là vùng co truyền
thống văn hoá đăc sắc lâu đời và mang đậm nét của văn hoá Việt . Sau đây
ta điểm qua một số nét đặc trưng của văn hoá vùng đồng bằng bắc bộ .
I . phong tục tập quán , tin ngưỡng tôn giáo

do sự đa dạng của tín ngưỡng người ta còn thờ các vị thần có ảnh hưởng lớn
đến đời sống thường ngày , những người có công lao lớn với làng , với đất
nước.
3 . phong tục
Gắn liền với tín ngưỡng tôn giáo đó là những phong tục . Đó là những
thói quen ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời , được đại đa só mọi người
thừa nhận và làm theo . Vùng đồng bắc bộ có những phong tục hết sức đặc
biệt và đa dạng , đặc biệt là hệ thống những lễ hội và lễ tết .
Do cuộc sống sản xuât nông nghiệp rất vả và có tính thời vụ cao cho nên
vào những lúc nông nhàn người dân tự thưởng cho mình những ngày vui
chơi , vì thế các ngày lễ tết , lễ hội diễn ra tương đối nhiều trong một năm .
Trong một năm có nhiều ngày lễ tết gồm những ngày lễ cúng tổ tiên và
những khoảng trống theo lịch thời vụ như : tết nguyên tiêu (rằm tháng
riêng ) , tết hàn thực ( 3/3 âm lịch ) , tết đoan ngọ ( 5/5 âm lịch ) , tết ông
công , ông táo ( 23 tháng chạp ) ... nhưng quan trọng nhất là tết Nguyên
5
Đán . Nó có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tinh thần của người Việt . Ngày
này có sự sum họp của gia đình , gia tiên , gia thần . Con cháu dù đi làm ăn ở
đâu ngày têt cũng cố gắng về ăn tết cùng gia đình . Hương hồn ông bà tổ tiên
các thế hệ cũng về gặp mặt , các thần chăm lo đến gia đình cũng được chăm
lo cúng bái .
Ngoài lễ tết ra thì một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần là
lễ hội . Vùng đồng bằng bắc bộ là vùng có nhiều ngày hội đặc sắc giầu
truyền thống nhất cả nước . Làng nào mỗi năm cũng tổ chức hội làng trước
tiên là tạ ơn và cầu xin thần linh bảo trợ cho cuộc sống của mình , sau đó là
phần hội hội gồm các trò vui chơi giải trí hết sức phong phú . Nhiều lễ hội đã
trở lên nổi trên cả nước như hội Lim ( Bắc Ninh ) , Hội Gióng ( Hà Nội )
Hội chùa Hương ( Hà Tây ) …
II . Nông nghiệp , làng nghề đặc trưng văn hoá vùng đồng bằng bắc
bộ

a . làng gốm BÁT TRÀNG (Hà Nội )
Việt Nam là nước có nghề làm gốm từ rất sớm , theo các tư liệu lịch sử
thì gốm đã xuất hiện ở nước ta cách đây khoảng một vạn năm . Trên toàn
quốc có rất nhiều làng sản xuât gốm truyền thống , mỗi làng có kỹ thuật làm
gốm khác nhau tạo ra nhiều dòng sản phẩm gốm hết sức đa dạng và phong
phú . Và nhắc đến gốm Việt thì không thể không nhắc đến Bát Tràng.
Bát Tràng là một xã gồm hai thôn là Bát Tràng và Giang Cao . Hiện nay Bát
Tràng thuộc huyện Gia Lâm , Hà Nội . Nằm trên tả ngạn sông Hồng , cách
trung tâm thủ đô khoảng 13km về phía đông nam . Bát Tràng rất thuận tiên
cho việc thông thương với các vùng miền khác .
7
Bát Tràng có một lịch sử hình thành từ rất lâu đời . Theo các tài liệu lịch
sử còn giữ lại thì Bát tràng đượcc hình thành vào khoảng thế kỷ XIV - XV .
Còn theo tư liệu thu thập được từ Bát Tràng thì làng nghề được hình thành
từ sớm hơn . Nhưng theo tư liệu dân gian thì Bát Tràng được hình thành từ
thời Lý , vào khoảng đầu thế kỷ thứ XII .
Cuối thời Trần ( XIV ) , đầu thời Lê (TK XV) Bát Tràng từ một làng gốm
bình thường trở thành một trung tâm gốm nổi tiếng ở nước ta . Sản phẩm
gốm của Bát Tràng được triều đình chọn làm đồ cúng phẩm cho nhà Minh
( Trung Quốc) .
Từ TK XV - XVII do việc thông thương với nước ngoài phát triển , gốm
Bát Tràng được buôn bán với số lượng lớn không chỉ ở các nước Đông Nam
Á mà cả thị trường Châu Âu như là : Bồ Đào Nha , Tây Ban Nha , Pháp , Hà
Lan . Đặc biệt Nhật Bản là nước rất ưa chuộng đồ gốm Bát Tràng . Nhiều
nghệ nhân gốm Nhật Bản đã bắt trước phong cách tạo hinh , nét vẽ phóng
khoáng , mầu men đa dạng , mộc mạc , giản di mà sâu lắng của gốm Bát
Tràng .
Cuối thế kỷ XVII , sang thế kỷ XVIII việc buôn bán gốm ra nước ngoài
có phần bị giảm sút do đồ gốm của Trung Quốc tràn sang các nước Đông
Nam Á . Nhưng gốm Bát Tràng vẫn giữ được sức sống bền bỉ của mình do

huy những gia tri truyền thống của cha ông sao cho xứng đáng với tầm vóc
là một trung tâm gốm sứ của Việt Nam và và vuơn tới tầm thế giới . Và kết
hợp sản xuất với du lịch làng nghề là một giải pháp rát hữu hiệu trong điều
kiện hiện nay .

b . Làng tranh ĐÔNG HỒ ( Bắc Ninh )
Trong những làng nghề truyền thống nổi tiếng của vùng đồng bằng bắc
bộ nói riêng ,và cả nước nói chung thì không thể không nhắc đến làng tranh
Đông Hồ .Đông Hồ tên một ngôi làng quen thuộc , xinh xắn ,nằm bên bờ
sông Đuống từ lâu đã đi vào đời sống tinh thần của mỗi người dân Việt Nam
bằng những bức tranh dân gian đậm đà bản sắc dân tộc .
Ngày xưa ,Làng Mái là tên gọi của làng tranh Đông Hồ (Thuận Thành _
Bắc Ninh ) bây giờ . Vào thế kỷ XVI tranh Đông Hồ xuất hiện nhưng không
ai biết được có bao nhiêu mẫu tranh mà chỉ biết có năm loại tranh là : tranh
10
thờ , tranh lịch sử , tranh chúc tụng , tranh sinh hoạt và chuyện tranh . Từ
cuối thế kỷ XIX đến năm 1944 là thời kỳ hưng thịnh của làng tranh . Lúc ấy
làng có 17 dòng họ thì cả thảy đều làm tranh . Đến hẹn lại lên cứ vào
khoảng tháng 7 tháng 8 âm lịch hàng năm thì cả làng lại tất bật chuẩn bị cho
mùa tranh tết .Khắp làng rực rỡ sắc giấy điệp , không một mảnh đất trống
nào là không được người dân làng Hồ tận dụng để phơi giấy , từ sân nhà ,
sân đình , đường làng , triền đê , mái nhà , nóc bếp . Cả làng nhộn nhịp suốt
mấy tháng liền .
Mỗi năm chợ tranh chỉ nhộn nhịp tấp nập nhất vào tháng trạp , họp 5
phiên vào các ngày 6 , 11 , 16 , 21 và 26 . Bà con , du khách đổ về mua tranh
tấp nập . Hàng nghìn , hàng triệu bức tranh được mang ra bày bán cho lái
buôn , cho khách mua lẻ , mọi người mua tranh về treo ngày tết cầu mong
vinh hoa phú quý về cho nhà mình .Sau phiên chợ cuối ( 26/12 âm lịch) nhà
nào còn tranh đều xếp lại cất đi chờ mùa tranh năm sau lại đem ra bán . Đến
chợ tranh không chỉ có khách buôn tranh và mua tranh mà còn rất nhiều du

. Những nghệ sỹ sáng tác tranh dân gian mang nhiều tính bố cục ước lệ trong
cách miêu tả cũng như trong phối mầu . Tất cả đều theo lối vẽ đơn tuyến
bình đồ để thể hiện do đó khi xem tranh người xem cảm nhận được những
nét ngây ngô nhưng rất hài hoà . Khi đã có bản khắc và mầu người thợ còn
phải rất công phu tiến hành các khâu như là : Phết hồ len giấy rồi phơi cho
kho hồ , sau đó tiếp tục phết diệp rồi lại phơi khô . Khi in mầu cũng phải rất
cẩn thận in từng mầu một , nếu bức tranh có 5 mầu thì phải lần lượt in và
phơi 5 lần . Cứ như thế dưới ánh sáng mặt trời từng hình ảnh , đường nét
cảnh sắc thiên nhiên , cảnh sinh hoạt đời thường của nhân dân được miêu tả
một cách sinh động trên giấy điệp .
12

Hứng Dừa Đánh Ghen
Thi sĩ Hoàng Cầm đã từng viết :
" Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Mầu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp "
Ngoài nghệ thuật làm tranh đặc sắc ra , điều mà làm cho tranh Đông Hồ trở
lên gần gũi với bao thế hệ người Việt và bạn bè quốc tế chính là nội dung
của những bức tranh . Tranh Đông Hồ phản ánh đậm nét đời sống mộc mạc ,
dản dị , gần gũi gắn liền với đời sống văn hoá tinh thần người Việt như là : "
Hứng Dừa , Đánh Ghen , Gà Trống , Lợn Độc … Qua bức tranh người xem
còn có thể biết về nghệ thuật sử dụng mầu sắc của truyền thống trong đời
sống văn hoá của cha ông ta . Theo nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế giải thích
về việc dùng các mầu sắc cho hài hoà , phù hợp với những đề tài khác nhau :
Mầu đỏ trong bức Đánh Ghen để lột tả cái nóng giận , bực giọng cuẩ không
khí lúc đó ,mầu vàng dùng cho việc mô tả cảnh vui tươi tràn ngập sắc xuân
trong bức tranh ngày tết ,nền mầu hồng nhạt cho tranh tả cảnh bình yên làng
quê .Đôi khi các nghệ nhân còn dùng thêm các những chỉ dẫn hoặc các tứ
thơ tình tứ , lãng mạng để trang trí các bức tranh thêm phần sinh động và ý
nghĩa như bức Hứng Dừa là :


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status