tiểu luận Sự hình thành và phát triển của khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam và sự biến đổi của khuynh hướng đó từ đầu thế kỉ XX đến trước năm 1930 - Pdf 26

Sự hình thành và phát triển của khuynh hướng dân chủ tư sản
ở Việt Nam và sự biến đổi của khuynh hướng đó từ đầu thế kỉ XX đến trước năm
1930
A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược Việt Nam ở cửa
biển Đà Nẵng. Cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam bắt
đầu và tạm thời bị thất bại. Cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp đã căn bản hoàn
thành công cuộc bình định về quân sự Việt Nam và tiến hành chính sách khai
thác thuộc địa lần thứ nhất. Cuộc khai thác thuộc địa diễn ra trên tất cả các mặt
kinh tế, chính trị, văn hoá… làm tư tưởng của giới sĩ phu có nhiều chuyển biến
và đặc biệt làm xuất hiện thêm các giai cấp và tầng lớp mới trong xã hội là giai
cấp công nhân và tầng lớp tư sản, tiểu tư sản.
Hậu quả của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp có
tác động rất lớn đến cuộc đấu tranh chống xâm lược của thực dân Pháp của nhân
dân ta. Đặc biệt cũng trong thời gian này những sách báo viết về các cuộc cách
mạng tư sản Pháp, cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc, trào lưu triết học ánh sáng
của Vôn te, Rút xô, Mông texkiơ… đã được truyền vào Việt Nam. Luồng tư
tưởng mới này cùng với sự ra đời của các giai tầng mới trong xã hội đã làm cho
phong trào yêu nước ở Việt Nam diễn ra sôi nổi theo khuynh hướng mới là dân
chủ tư sản đã thu hút mọi lực lượng xã hội tham gia. Tinh thần "trung quân, ái
quốc" mờ nhạt và thay vào đó là tinh thần "trung dân, ái quốc" tiêu biểu là Phan
Bội Châu, Phan Chu Trinh…và sau này là giai cấp tư sản và tiểu tư sản. Sau
chiến tranh thế giới thứ nhất Pháp lại thực hiện chính sách khai thác thuộc địa
lần thứ hai. Cuộc khai thác lần này với qui mô lớn đã làm cho xã hội Việt Nam
bị phân hoá sâu sắc và cùng với tác động của cuộc cách mạng tháng Mười Nga
mà phong trào cách mạng diễn ra sôi nổi hơn trước với đường lối khác trước. Đó
là con đường cứu nước theo khuynh hướng vô sản. Như vậy, lúc này ở Việt
Nam có hai con đường cứu nước song song tồn tại là khuynh hướng dân chủ tư
sản và khuynh hướng vô sản. Lịch sử Việt Nam lúc này đứng trước sự lựa chọn
quan trọng là sẽ đi theo khuynh hướng nào cho phù hợp. Trong một tiểu luận

khái quát về bối cảnh lịch sử trong nước và quốc tế trong những năm đầu thế kỉ
XX và quá trình ra đời của giai cấp tư sản và tiểu tư sản ở Việt Nam nhằm tạo
thuận lợi cho việc theo dõi nghiên cứu của người đọc.
Sau đó làm rõ những nét lớn về sự phát triển của phong trào yêu nước
theo khuynh hướng dân chủ tư sản từ đầu thế kỉ XX đến Chiến tranh thế giới thứ
nhất. Trên cơ sở đó thấy được sự biến đổi của phong trào yêu nước theo khuynh
hướng dân chủ tư sản từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến trước 1930.
Bằng những dẫn chứng, tư liệu cụ thể để nêu rõ những hạn chế của
khuynh hướng yêu nước dân chủ tư sản và sự lựa chọn của lịch sử Việt Nam từ
1930 và từ đó rót ra những nhận định đánh giá của bản thân về sự lựa chọn tất
yếu của lịch sử.
2
Sự hình thành và phát triển của khuynh hướng dân chủ tư sản
ở Việt Nam và sự biến đổi của khuynh hướng đó từ đầu thế kỉ XX đến trước năm
1930
IV. CẤU TẠO CỦA TIỂU LUẬN
A. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
II. Phạm vi nghiên cứu
III. Phương pháp nghiên cứu
IV. Cấu tạo của tiểu luận
B. NỘI DUNG
I. Sù ra đời của giai cấp Tư sản, Tiểu tư sản và trào lưu dân chủ tư sản
1. Bối cảnh thế giới và trong nước
1.1. Thế giới
1.2. Trong nước
2. Sù ra đời của giai cấp tư sản, tiểu tư sản và sự hình thành trào lưu dân chủ tư
sản ở Việt Nam.
II. Sự phát triển và biến đổi của trào lưu dân chủ tư sản từ đầu thế kỉ XX đến
trước 1930

cải cách ở Xiêm, hội Liên hiệp phật giáo ở Mianma…
Tình hình thế giới như trên đã tác động rất lớn đến phong trào đấu tranh ở
nước ta đầu thế kỉ XX. Những tác động này đã làm thay đổi nhận thức và tư
tưởng của giới sĩ phu và những người yêu nước Việt Nam.
1.2. Trong nước
Cuối thế kỉ XIX, phong trào vũ trang chống Pháp dưới ngọn cờ Cần
Vương đã thất bại với sự thất bại hoàn toàn của cuộc khởi nghĩa Hương Khê
năm 1896. Bên cạnh đó các phong trào của thổ hào địa phương cũng lần lượt
thất bại, chỉ còn cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh
đạo cũng đang gặp rất nhiều khó khăn. Trong lúc này một số nhà ái quốc của ta
đã phải đi tìm một cuộc sống Èn dật chờ thời, một số chán đời tiêu cực không ra
làm quan, cũng không ra hoạt động yêu nước, một số lại hợp tác với kẻ xâm
lược ở Việt Nam lúc này đang đòi hỏi và có nhu cầu tìm kiếm một con đường
cứu nước mới.
Sau khi đã căn bản hoàn thành công cuộc bình định ở Việt Nam, thực dân
Pháp đã chuyển hướng trong chính sách cai trị. Chúng từng bước kiện toàn bộ
máy thống trị và tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất một cách có hệ
thống trên đầy đủ các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá:
4
Sự hình thành và phát triển của khuynh hướng dân chủ tư sản
ở Việt Nam và sự biến đổi của khuynh hướng đó từ đầu thế kỉ XX đến trước năm
1930
Về chính trị: chúng thành lập chính phủ chung cai trị năm xứ Đông
Dương đứng đầu là một viên toàn quyền người Pháp. Chúng lập ra những đội
quân thuộc địa người ngoại quốc, lính cơ người Việt, toà án Tây và toà án Nam,
nhà tù để đàn áp, xét xử và giam cầm những người chống đối.
Về kinh tế: chúng thực hiện chính sách bóc lột ruộng đất là tư liệu sản xuất
quan trọng của người nông dân. "Đến năm 1912, địa chủ người Pháp đã chiếm tới
470.000 hecta đất ở Bắc kì"
1

ở Việt Nam và sự biến đổi của khuynh hướng đó từ đầu thế kỉ XX đến trước năm
1930
(1)
Đại cương lịch sử Việt Nam, Đinh Xuân Lâm chủ biên, NXB Giáo dục,
tập II, trang 121
Trong quá trình phát triển tư sản Việt Nam phân hóa thành hai bộ phận là tư sản
mại bản và tư sản dân tộc. Tư sản mại bản là giai cấp có quyền lợi gắn liền với
tư bản lũng đoạn Pháp, trực tiếp phục vụ cho nhà tư bản đế quốc và được chúng
nuôi dưỡng. Tư sản mại bản là những thầu khoán lớn những chủ đại lý lớn được
Pháp cho hưởng độc quyền nào đó hay có chung một phần vốn hùn với tư bản
Pháp. Chính vì vậy mà tư sản mại bản không có thái độ chống Pháp.
Số lớn còn lại là giai cấp tư sản dân tộc họ bao gồm tư sản loại vừa và
nhỏ. Họ có xu hướng đi vào kinh doanh trong các ngành sản xuất và lưu thông
Ýt nhiều đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của nước nhà. Họ tán thành
độc lập dân tộc và ủng hộ phong trào dân tộc trong chừng mực không mâu thuẫn
với lợi Ých của họ. Họ bị các công ty tư bản độc quyền Pháp chèn Ðp, kìm hãm
gắt gao, họ chỉ nắm được những ngành phụ thuộc và phần đông không thoát
khỏi con đường tư bản kiêm địa chủ nên họ mâu thuẫn với Pháp.
Cùng với sự phát triển của tầng lớp tư sản, tầng lớp tiểu tư sản cũng phát
triển. Họ bao gồm những tiểu thương, trí thức, công chức, học sinh, sinh viên…
Đông nhất là những người hoạt động thủ công nghiệp và thương nghiệp, phần
lớn họ bị thực dân Pháp chèn Ðp, có cuộc sống chật vật. Tiểu tư sản Việt Nam
bị phân biệt đối xử cả về vật chát lẫn tinh thần, họ mâu thuẫn sâu sắc với Pháp,
họ nhiệt tình yêu nước và nhạy bén với tình hình thế giới , họ là một lực lượng
cách mạng hùng hậu trong phong trào giải phóng dân tộc.
Bước vào cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, tư sản và tiểu tư sản Việt
Nam phát triển mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng do những nguyên nhân chủ
yếu sau: thứ nhất là do hàng hóa đưa ra thị trường ngày càng nhiều làm cho sự
cạnh tranh trở nên gay gắt, một số người bị phá sản và một số người lại giàu lên.
Nhờ sự cạnh tranh này mà kĩ thuật được cải tiến, đã xuất hiện xí nghiệp sử dụng

đang trong tình trạng cáo chung chuyển sang thời kì thắng lợi của các cuộc cách
mạng tư sản, phong trào giải phóng dân tộc vươn cao theo xu hướng mới. Các
luồng tư tưởng mới được truyền vào qua sách Tân thư, Tân văn lần đầu tiên tư
sản và tiểu tư sản Việt Nam được nghe đến các từ Môngtexkiơ, Rutxô,
Xpenxe nghe đến các tác phẩm Khế ước xã hội tấn công nhà thờ thiên chúa
giáo, chế độ phong kiến, đề cao cái tôi và ca ngợi chủ nghĩa tư bản. Đặc biệt là
cuộc cải cách của Nhật Bản và cuộc Duy Tân ở Trung Quốc.
Ảnh hưởng của Nhật Bản: Trước 1868, Nhật Bản là nước phong kiến và
đứng trước nguy cơ bị chủ nghĩa thực dân xâm lược. Năm 1868, Nhật thực hiện
7
Sự hình thành và phát triển của khuynh hướng dân chủ tư sản
ở Việt Nam và sự biến đổi của khuynh hướng đó từ đầu thế kỉ XX đến trước năm
1930
cuộc Duy Tân Minh Trị đi theo con đường tư bản chủ nghĩa nhờ vậy mà Nhật đã
giữ được độc lập, phát triển cường thịnh và cũng sớm có chính sách bành trướng
thực dân. Chính sự phát triển của Nhật sau cải cách khiến những người yêu
nước Việt Nam lúc này đang trong bế tắc muốn học hỏi theo Nhật coi Nhật là
nước đồng văn, đồng chủng đặc biệt là sau sự kiện Nhật thắng Nga. Huỳnh Thúc
Kháng đã thừa nhận “Địa ngục mấy tầng, ngọn triều Âu tràn vào bốn mặt. Đồng
nội mịt mù, đêm dài dằng dặc, bỗng đâu gà hàng xóm gáy lên một tiếng, giấc
mộng quần chúng thoạt tỉnh dậy mà một tiếng sét nổ đùng có sức kích thích
mạnh nhất, thấm vào tâm não người Việt Nam ta là trận chiến tranh 1904 Nhật
Bản thắng Nga”
1
Ảnh hưởng của Trung Quốc: Cuộc vận động cải cách của Khang Hữu Vi
và Lương Khải Siêu mặc dù thất bại nhưng đã gây được tiếng vang lớn. Những
sĩ phu Việt Nam rủ nhau tìm cách tiếp cận tư tưởng mới qua sách báo của Trung
Quốc như “Trung đông chiến kỉ”, “Pháp- Phổ chiến kỉ” , sách Tân thư, Tân văn
đã giúp giới sĩ phu nhanh chóng khắc phục lòng luyến tiếc về chế độ phong
kiến, cung cấp cho họ nhiều kiến thức mới về tư tưởng chính trị và truyền cho

chủ tư sản, quan niệm “ái quốc trung dân” được đề cao. Cuộc vận động này diẽn
ra theo một chủ đích là hướng tới xây dựng một nước Việt Nam độc lập, tự do,
phát triển kinh tế, văn hoá dân tộc theo lối Tây phương.
Các sĩ phu yêu nước tiến bộ là những nho sĩ được đào tạo trong nền khoa
cử cũ nhưng đã chuyển biến theo tư tưởng mới của thời đại với hai gương mặt
tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Họ đã mất niềm tin vào chế độ
quân chủ chuyên chế, thấy rõ sự thối nát của chế độ vua quan của Việt Nam, bắt
đầu có ý thức dân chủ, dân quyền, mong muốn nước nhà độc lập, đuổi kịp các
quốc gia văn minh trên thế giới.
Gắn với tư tưởng chính trị mới là những biện pháp, hình thức đấu tranh và
tổ chức mới. Nếu như trước đây, phong trào thuộc phạm trù phong kiến chỉ sử
dụng hình thức khởi nghĩa vũ trang, thì nay phong trào thuộc phạm trù tư sản,
ngoài hình thức bào động vũ trang còn sử dụng cả hình thức chính trị, tư tưởng
văn hoá ngoại giao trên quy mô toàn quốc, mở trường học, xuất bản sách báo
là những hình thức chưa hề có trước đó. Năm 1900, Phan Bội Châu đã cùng
Nguyễn Hàm, Đặng Thái Thân, Phạm văn Ngôn thành lập Tân Đảng với tôn chỉ
là khôi phục nước Việt Nam và xây dựng chính thể độc lập. Năm 1904, trên cơ
sở Tân Đảng đã thành lập Duy Tân Hội ở Quảng Nam do Kì Ngoại hầu Cường
Để làm Hội trưởng. Hội chủ trương khôi phục nước Việt Nam độc lập và ba
nhiệm vụ trước mắt là: phát triển thế lực của hội về người và tài chính, xúc tiến
chuẩn bị bạo động và xuất dương cầu viện. Sau đó hội phát động phong trào
9
Sự hình thành và phát triển của khuynh hướng dân chủ tư sản
ở Việt Nam và sự biến đổi của khuynh hướng đó từ đầu thế kỉ XX đến trước năm
1930
Đông du với mục đích tạo ra nhân tài, dân trí, dân khí. Từ cuối năm 1905 đến
1908, Duy Tân Hội đã tuyển chọn và đưa gần 200 thanh niên ưu tú gồm cả 3
miền Bắc, Trung, Nam sang Nhật. Du học sinh Việt Nam được đưa vào học
trong trường Đồng văn thư viện của Đông Á đồng Văn hội. Một số Ýt được vào
học trong trường quân sự là Chấn Vũ học viện của chính phủ Nhật. Học sinh

bồi dưỡng nhân tài
Từ Đông Kinh nghĩa thục mà những lối sống mới, nếp suy nghĩ mới được
phổ biến trong đó có việc hô hào chấn hưng thực nghiệp. Nhiều cửa hàng cửa
hiệu, hãng buôn được lập ra. Các hình thức kinh doanh tư bản chủ nghĩa được
áp dụng cả trong công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp. Các “Đông Kinh
Nghĩa Thục” khác đã nổi lên ở nhiều khu phố, nhiều tỉnh được nhân dân hưởng
ứng rầm rộ. Núp dưới vỏ Đông kinh nghĩa thục nhiều hội yêu nước công khai đã
được lập ra để che đậy những tổ chức bí mật bất hợp pháp tức là các tổ chức
cách mạng. Sau một thời gian Đông kinh nghĩa thục đã bị giải tán (tháng 11 năm
1907) vì thực dân Pháp kết tội là một “trung tâm phiến loạn”, nhưng trong thực
tế một số mặt của nó vẫn còn tồn tại trong một thời gian.
Ở Trung kì có cuộc vận động Duy tân và Phong trào nông dân chống
thuế. Người khởi xướng cuộc vận động Duy tân ở miền Trung là Phan Châu
Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quí Cáp. Cuộc vận động diễn ra hết sức sôi
nổi và trên nhiều lĩnh vực:
Về kinh tế: ông chú ý đến việc cổ động thực nghiệm lập hội kinh doanh là
những hoạt động trước đó không lâu còn bị các nhà nho rẻ rúng, coi khinh. Theo
lời hô hào của các sĩ phu cải cách tại Quảng Nam- trung tâm của phong trào duy
tân xuất hiện nhiều hội buôn nh Quảng Nam hiệp thương công ty, Triều Dương
thương quán, Liên Thành Ngoài lập hội buôn, các sĩ phu cải cách còn chú ý
phát triển nghề thủ công, lập các cơ sở dệt vải, làm mũ, may quần áo
Về văn hoá: ông chú ý đặc biệt mở trường học theo kiểu mới dạy chữ
quốc ngữ, dạy các môn học mới thay thế Tứ thư, Ngò kinh của nho học xưa.
Tại các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Thuận và các tỉnh Bắc Trung Bé đã
có các trường học theo kiểu này. Riêng ở Quảng Nam có 4 trường lớn là Liên
Phong, Phước Bình, Phú Lâm và Quảng Phước, mỗi trường có từ 70 đến 80 học
sinh, trường đông nhất có tới 200 học sinh.
Đặc biệt là cuộc vận động cải cách lối sống: vận động quần chúng bỏ lối
ăn mặc cổ hủ, tiếp nhận lối ăn mặc “Âu hoá” với các kiểu quần áo may bằng vải
nội, vận động cắt tóc ngắn, để răng trắng. Những thói mê tín dị đoan bị lên án

1
.
Nh vậy, nếu Duy Tân hội còn khuôn theo mô hình chính trị Nhật Bản thì Việt
Nam quang phục hội đã bắt đầu khuôn theo mô hình cách mạng Tân Hợi. Một
Chính phủ lâm thời đã được thành lập, cờ năm sao được chế tạo, quân dụng
phiếu và thông dụng phiếu được phát hành, Việt Nam quang phục quân cũng ra
đời. Nhưng vào chính lúc này ở trong nước phong trào đang bị địch đàn áp,
12
Sự hình thành và phát triển của khuynh hướng dân chủ tư sản
ở Việt Nam và sự biến đổi của khuynh hướng đó từ đầu thế kỉ XX đến trước năm
1930
hàng ngàn chí sĩ bị bắt, bị giam cầm, tù đày, giết chóc, tổ chức yêu nước bị tan
vì.
(1)
Tư tưởng dân chủ Sdd, trang 208
Cho nên Việt Nam quang phục hội tuy có tổ chức quy mô vẫn không thể gây
dựng được phong trào quần chúng trong nước như Duy Tân hội trước đây. Cho
đến sát chiến tranh thế giới thứ nhất, Phan Bội Châu cùng một số lãnh tụ Việt
Nam quang phục hội bị bắt, phong trào cách mạng Việt Nam bước vào một giai
đoạn thử thách mới.
2. Sự phân hoá trào lưu dân chủ tư sản thành các khuynh hướng khác nhau
từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, khuynh hướng cứu nước theo trào lưu
dân chủ tư sản vẫn tiếp tục nhưng có sự biến đổi và có những bước thăng trầm
do cuộc cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi có ảnh hưởng lớn đến phong trào
đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước phương Đông. Khuynh hướng dân chủ
tư sản ở Việt Nam đã bị phân hóa thành hai xu hướng là chủ nghĩa dân tộc cải
lương và chủ nghĩa dân tộc tư sản cách mang.
2.1. Chủ nghĩa dân tộc cải lương
Chủ nghĩa dân tộc cải lương ra đời từ trong phong trào ái quốc dân chủ

kì thành lập thành lập năm 1923. Họ gồm những nhà kĩ nghệ, thương mại,
nghiệp chủ, những quan chức cao cấp như bác sĩ, kĩ sư tiêu biểu Nguyễn Phan
Long, Bùi Quang Chiêu, Lê Quang Liêm, Trương Văn Bền Gọi là một tổ chức
đảng song thực ra không có một tổ chức, chương trình hành động, huấn luyện
đảng viên, điều lệ đảng và cũng không xác định đảng theo chủ nghĩa gì nghĩa
là những đièu cần thiết của một chính đảng đều không có. Thực chất đây là một
nhóm người hoạt động chính trị.
Phương pháp đấu tranh của Đảng là dùng nghị trường, các cuộc tổng
tuyển cử vào các cơ quan chức trách như hội đồng quản hạt Nam kì, Viện dân
biểu Bắc kì, đòi gia nhập quốc tịch Pháp, dùng sách báo công kích đòi mấy cái
tự do cho người bản xứ như tự do hội họp, phát hành sách báo, đi lại Đảng Lập
hiến có vai trò trong đấu tranh chống độc quyền cảng Sài Gòn và thủ lĩnh Bùi
Quang Chiêu đã biết dựa vào phong trào quần chúng khi sang Pháp vận động về
14
Sự hình thành và phát triển của khuynh hướng dân chủ tư sản
ở Việt Nam và sự biến đổi của khuynh hướng đó từ đầu thế kỉ XX đến trước năm
1930
chính trị nên có gây được chút Ýt ảnh hưởng. Khi phong trào yêu nước- dân chủ
lên cao thì Bùi Quang Chiêu đả kích bọn thống trị Pháp. Nhưng đến khi Pháp
ban bố một chút quyền lợi cho họ thì Đảng này ngả về phía đế quốc. Họ đề cao
chủ nghĩa “Pháp- Việt đề huề”. Bùi Quang Chiêu lãnh tụ của đảng nói rằng
“Việc chính của chúng ta ngày nay lấy chủ nghĩa Pháp- Việt đề huề làm gốc”
1
(1)
Sự phát triển tư tưởng Việt Nam từ thế kỉ XIX đến cách mạng tháng
Tám, Trần Văn Giàu, NXB Uỷ ban khoa học xã hội, tập II, trang 76, năm 1975
Nh vậy, chúng ta có thể nhận xét “Đảng lập hiến là Đảng theo chủ nghĩa
dân tộc cải lương, ngay cái tên “Lập hiến” cũng thể hiện điều đó. Đảng này chỉ
cổ động thực hành những sự cải tiến mà không đòi tiêu diệt. Những cơ sở chủ
yếu của giai cấp thống trị thực hành những cải tiến phù hợp với sù duy trì

vụ điều khiển các cuộc họp. Song còng nh hai Đảng kia, Đảng Thanh niên chưa
có điều lệ và không xác định được Đảng theo chủ nghĩa gì. Nh vậy, Đảng thực
chất chỉ là một nhóm người nhiệt tình yêu nước mà thôi nhưng cũng có tác dụng
thúc đẩy phong trào cách mạng chung phát triển. Do những hạn chế của Đảng
cho nên khi phong trào yêu nước dân chủ đi xuống thì Đảng còng tan rã.
Đảng Thanh niên cao vọng, thành lập năm 1926 do Nguyễn An Ninh,
một trí thức Tây học chịu ảnh hưởng tư tưởng cách mạng tư sản dân quyền Pháp
sáng lập đã tập hợp được đông đảo lực lượng yêu nước xung quanh mình, hình
thành nên tổ chức Thanh niên cao vọng (Niềm hy vọng lớn của thanh niên)
Điều đáng chú ý là đông đảo nông dân miền Nam đã tham gia nhiệt liệt
phong trào này. Về sau người đứng đầu đảng là Nguyễn An Ninh bị bắt, thực
dân Pháp đàn áp mạnh phong trào tan rã.
Việt Nam nghĩa đoàn, thành lập năm 1925, là tổ chức của nhóm thanh
niên yêu nước trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội với một số người tiêu biểu là
Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Phạm Thiều Sau một thời gian, Việt Nam
nghĩa đoàn đổi tên là Hội Phục Việt. Sau một thời gian hoạt động hội Phục Việt
bị lộ nên đổi tên thành hội Hưng Nam và Hội này đã có những bản dự án nêu ra
một chương trình hoạt động gồm 10 điểm do Trần Mộng Bạch khởi thảo nội
dung chủ yếu đề cập đến vấn đề, nhiệm vụ, lực lượng, huấn luyên đảng viên,
phương pháp cách mạng Do ảnh hưởng của hội Việt Nam cách mạng thanh
niên nên hội đã đổi tên là Việt Nam cách mạng đảng. Đến năm 1927, uy thế của
hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã lên cao và nhiều người trong Việt Nam
cách mạng đảng muốn sang đảng này. Tháng 7 năm 1927, đảng đã họp hội nghị
toàn quốc ở Huế đã thông qua chương trình của Đảng và cuối cùng quyết định
16
Sự hình thành và phát triển của khuynh hướng dân chủ tư sản
ở Việt Nam và sự biến đổi của khuynh hướng đó từ đầu thế kỉ XX đến trước năm
1930
đổi tên Đảng là Tân Việt cách mạng Đảng theo khuynh hướng cách mạng vô
sản.

ở Việt Nam và sự biến đổi của khuynh hướng đó từ đầu thế kỉ XX đến trước năm
1930
Việt Nam quốc dân đảng là tổ chức tiêu biểu nhất cho khuynh hướng dân
tộc tư sản cách mạng.
Cùng lúc Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội và bộ phận tiên
tién của Tân Việt cách mạng đảng đang dần dần chuyển sang lập trường cách
mạng vô sản thì Việt Nam quốc dân đảng cũng đẩy mạnh hoạt động. Việt Nam
quốc dân đảng thành lập ngày 25 tháng 12 năm 1927 trên cơ sở một nhóm trí thức
tư sản, tiểu tư sản tập hợp trong “Nam Đồng thư xã” ở Hà Nội. Nam Đồng thư xã
là một nhà xuất bản tiến bộ do Phạm Tuấn Tài lập ra vào đầu năm 1927 cùng với
Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính, Hoàng Phạm Trân.
Khi mới ra đời, Quốc dân đảng chưa đề ra đường lối chính trị rõ ràng.
Trong bản điều lệ chỉ ghi một cách chung chung là “trước làm dân tộc cách
mạng, sau làm thế giới cách mạng”
1
(tức là trước tiên đánh đổ đế quốc chủ
nghĩa trong nước, sau giúp các nước khác đánh đổ đế quốc giành độc lập dân
tộc). Đến bản điều lệ tháng 7 năm 1928 lại xác định tôn chỉ của Đảng là “chủ
nghĩa xã hội dân chủ”, Đảng có mục đích đoàn kết cả nam lẫn nữ để: “đẩy mạnh
cách mạng dân tộc, xây dựng nền dân chủ trực tiếp và giúp đỡ các dân tộc bị áp
bức”. Tiếp đó trong bản điều lệ sửa đổi công bố tháng 2 năm 1929, Việt Nam
quốc dân đảng lại thay bằng 3 nguyên tắc tư tưởng của cách mạng tư sản Pháp
năm 1789 là “Tự do- bình đẳng- bác ái”. Mục đích của đảng là tiến hành “cách
mạng dân tộc, cách mạng chính trị và cách mạng xã hội”. Cuộc cách mạng này
sẽ diễn ra qua 4 thời kì: Thời kì bí mật (tập hợp lực lượng), thời kì dự bị (chuẩn
bị các điều kiện vật chất như lương thực, vũ khí đạn dược cho cuộc khởi nghĩa
vũ trang), thời kì công khai (đánh đổ giặc Pháp lật đổ ngôi vua), thời kì kiến
thiết (thành lập chính phủ cộng hoà, thực hiện các quyền tự do dân chủ). Cho
đến trước cuộc khởi nghĩa Yên Bái, Đảng lại tiếp thu chủ nghĩa Tam Dân của
Tôn Trung Sơn đúng vào lúc phong trào cách mạng dân chủ dân tộc ở Trung

Việt Nam quốc dân đảng hầu nh không phát triển được lực lượng, vì đây là nơi
Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội và Tân Việt cách mạng đảng được
xây dựng cơ sở khá mạnh.
Ngoài các chi bộ, Việt Nam quốc dân đảng còn chủ trương thành lập các
tổ chức quần chúng bao gồm Đoàn phụ nữ, Đoàn công nhân, Đoàn nông dân,
Đoàn học sinh và các binh đoàn quân sự. Các hội đoàn này là lực lượng cảm
tình của Đảng, có nhiệm vụ hỗ trợ, phối hợp với các đảng viên trong đấu tranh
giành chính quyền khi có thời cơ.
Thành phần xã hội trong Đảng đa số xuất thân từ sinh viên, học sinh, trí
thức, công chức, người làm nghề tự do, một số tư sản thành thị. Ngoài ra còn kết
nạp cả thân hào địa chủ, phú nông ở nông thôn và một số binh lính Việt Nam ở
19
Sự hình thành và phát triển của khuynh hướng dân chủ tư sản
ở Việt Nam và sự biến đổi của khuynh hướng đó từ đầu thế kỉ XX đến trước năm
1930
quân đội Pháp (lực lượng công- nông chưa được chú ý). Nhìn chung thành phần
đảng viên phức tạp, công tác tổ chức lỏng lẻo, vì vậy những phần tử cơ hội dễ
chui vào làm chỉ điểm cho thực dân Pháp. Ngay nội bộ Đảng cũng bị chia rẽ
nghiêm trọng (một bên là phái của Nguyễn Thái Học - Nguyễn Khắc Nhu, mét
(1)
Đại cương lịch sử Việt Nam, Sdd, trang 276
bên là phái của Nguyễn Thế Nghiệp). Lúc đầu Việt Nam quốc dân đảng không
có tổ chức quần chúng, đến năm 1929 mới có một số hội đoàn xuất hiện vì cần
tranh giành ảnh hưởng với Thanh niên và Tân Việt. Công tác giáo dục tuyên
truyền yếu kém, không có sự huấn luyện đào tạo đảng viên, cán bộ một cách
khoa học. Trong thời gian hoạt động, Đảng có báo Hồn cách mạng nhưng chỉ ra
được một số thì đóng cửa. Nói chung, Đảng không có một cơ quan ngôn luận,
hoặc tài liệu, văn kiện chính thức nào để giải thích rõ tôn chỉ mục đích của đảng
và để tuyên truyền huấn luyện đảng viên. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho
công tác phát triển đảng tiến hành tuỳ tiện, thiếu cơ sở và chuẩn mực, đồng thời

Cuộc khởi nghĩa nổ ra có tiếng vang hơn cả là ở tỉnh lỵ Yên Bái vào đêm
ngày 9 rạng ngày 10 tháng 2 năm 1930. Gần một tuần sau (ngày 15 tháng 2)
khởi nghĩa mới lẻ tẻ nổ ra ở Hải Dương, Thái Bình.
Việt Nam quốc dân đảng tiến hành khởi nghĩa một cách hoàn toàn bị
động trong tình thế tổ chức đảng đang tan rã, lực lượng mỏng, rải nhiều nơi, kế
hoạch ngày giờ, địa điểm không thống nhất, bị lộ. Do đó cuộc khởi nghĩa bị dập
tắt nhanh chóng. Tuy nhiên, khởi nghĩa này đã nêu cao tấm gương hy sinh quả
cảm của các chiến sĩ Việt Nam quốc dân đảng trước đồng bào trong nước và
kiều bào ở nước ngoài nên có tác dụng cổ vũ động viên mạnh mẽ.
Tóm lại, Việt Nam quốc dân đảng về căn bản là một tổ chức phỏng theo
mô hình cách mạng của Quốc dân đảng ở Trung Quốc. Nó đại diện cho quyền
lợi và tư tưởng của tư sản dân tộc và tiểu tư sản lớp trên. Vì thiếu một cơ sở kinh
tế và giai cấp đủ mạnh lamf chỗ dựa nên trong suốt thời gian tồn tại của mình,
Việt Nam quốc dân đảng không thể đưa ra được một đường lối chính trị độc lập.
Thêm vào đó, công tác tổ chức và phát triển đảng rất sơ hở, lỏng lẻo, công tác
tuyên truyền huấn luyện thì sơ sài không đủ khả năng đảm nhiệm vai trò lãnh
đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam.
3. Hạn chế của trào lưu dân chủ tư sản
21
Sự hình thành và phát triển của khuynh hướng dân chủ tư sản
ở Việt Nam và sự biến đổi của khuynh hướng đó từ đầu thế kỉ XX đến trước năm
1930
Nhìn lại các tổ chức nói trên dù là lấy tên hội này hay đảng kia đều chưa
có đường lối chính trị rõ ràng và một hình thức tổ chức chặt chẽ. Tính chất rời
rạc trong hoạt động của các tổ chức Êy phản ánh thực chất khả năng lãnh đạo
cách mạng của giai cấp tư sản. Vì thế không có một tổ chức nào trong số đó
đóng được vai trò lãnh đạo, có khả năng tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân
trong cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tuy nhiên, dưới chế độ
thực dân phong kiến, do bị bóc lột về kinh tế, áp bức về chính trị, kìm hãm về
văn hóa, giai cấp tiểu tư sản dân tộc có tinh thần dân tộc và dân chủ vượt xa giới

khuynh hướng cách mạng dân tộc hoàn toàn thất bại, hệ tư tưởng tư sản cũng
(1)
Đại cương lịch sử , Sdd, trang 289
hoàn toàn bất lực trước các nhiệm vụ lịch sử của cuộc cách mạng giải phóng dân
tộc. Ngọn cờ cách mạng chuyển sang tay giai cấp vô sản với trào lưu cách mạng
vô sản đang thắng thế ở Việt Nam.
4. Khuynh hướng cách mạng vô sản xuất hiện và sự lựa chọn của lịch sử
Việt Nam
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tuy là nước thắng trận nhưng thực dân
Pháp bị thiệt hại nặng nề. Để bù đắp thiệt hại do chiến tranh gây ra và khôi phục
địa vị của Pháp trong thế giới tư bản mà Pháp đã tăng cường bóc lột nhân dân
lao động trong nước và tăng cường đầu tư khai thác bóc lột thuộc địa. Pháp đã
tiến hành chính sách khai thác bóc lột ở Việt Nam lần thứ hai kéo dài từ 1919
đến 1929.
Do chính sách khai thác bóc lột của Pháp làm cho xã hội Việt Nam phân
hoá sâu sắc hơn sau chiến tranh. Đặc biệt là giai cấp công nhân (ra đời từ cuộc
khai thác lần thứ nhất) đã tăng nhanh về số lượng và cũng trưởng thành nhanh
hơn về ý thức chính trị, họ nhanh chóng tiếp thu ảnh hưởng của cách mạng
tháng Mười Nga đã được Nguyễn Ái Quốc truyền bá vào trong nước thông qua
sách báo và những hội viên của hội Việt Nam cách mạng thanh niên.
Hoạt động của hội Việt Nam cách mạng thanh niên sau một thời gian đã
có tác động rất tích cực đến các đảng phái đang hoạt động trong nước, làm cho
các tổ chức cách mạng bị phân hoá và thực hiện theo cương lĩnh của hội Việt
Nam cách mạng thanh niên. Khuynh hướng cứu nước vô sản hình thành tồn tại
song song với khuynh hướng tư sản. Các tổ chức cách mạng bị phân hoá thành
23
Sự hình thành và phát triển của khuynh hướng dân chủ tư sản
ở Việt Nam và sự biến đổi của khuynh hướng đó từ đầu thế kỉ XX đến trước năm
1930
các tổ chức cộng sản khác nhau dẫn đến yêu cầu thành lập một Đảng cộng sản

Trong những năm đầu thế kỉ XX có một thực tiễn lịch sử là có hai khuynh
hướng cứu nước tư sản và vô sản song song tồn tại ra sức tuyên truyền hoạt
động để tập hợp lôi kéo quần chúng về phía mình. Song khuynh hướng nào có
được đường lối đúng đắn, đáp ứng được nguyện vọng của quần chúng đông đảo
và phù hợp xu thế của thời đại thì khuynh hướng đó sẽ tranh thủ được trái tim
của dân chúng và khuynh hướng đó sẽ giành được bá quyền lãnh đạo cách mạng
Việt Nam.
Mặc dầu ra đời trước khuynh hướng cách mạng vô sản nhưng trào lưu
cách mạng dân chủ tư sản đã không có được một mảnh đất tốt để gieo mầm bởi
kinh tế Việt Nam phụ thuộc kinh tế đế quốc, giai cấp tư sản Việt Nam nhỏ bé
yếu đuối và hạt giống tư sản tuy là mới so với Việt Nam nhưng lại là cũ so với
thời đại nên không đáp ứng được yêu cầu của thời đại. Bên cạnh đó, những tấm
gương của trào lưu tư sản là Anh, Pháp, Mĩ đến thời điểm đầu thế kỉ XX đều là
những nước đế quốc “trong thì nó tước lục công nông ngoài thì nó bóc lột thuộc
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status