văn học viết tiền giang từ đầu thế ký XX đến 1945 - Pdf 25

Võ Phúc Châu – V n h c vi t Ti n Giang t đ u TK XX đ n 1945ă ọ ế ề ừ ầ ế
VĂN HỌC VIẾT TIỀN GIANG
TỪ ĐẦU THẾ KỶ XX ĐẾN 1945
Võ Phúc Châu
***
1. Văn học viết Tiền Giang trên đường hiện đại hóa
Từ đầu thế kỷ XX đến 1945, theo sự vận động chung của nền văn học dân
tộc, văn học viết Tiền Giang cũng làm cuộc chuyển mình trên đường hiện đại
hóa.
Lúc này, văn học Việt Nam thực sự thoát khỏi ảnh hưởng nặng nề của văn
hóa Trung Hoa cổ; chuyển sang tiếp nhận thành tựu tiến bộ của văn hóa phương
Tây với tinh thần nhân văn sâu sắc.
Đây là nền “văn học mới”, còn được gọi là văn học ở các đô thị. Bởi lực
lượng tác giả chủ yếu là trí thức tân học; công chúng là những thị dân. Ở Tiền
Giang, đời sống văn học chủ yếu tập trung ở thị xã Mỹ Tho và Gò Công.
Lúc này, sự phát triển của chữ Quốc ngữ, báo chí, nhà in… tiếp sức cho
văn học đổi thay toàn diện. Thay văn tự Hán – Nôm, nhà văn chuyển sang dùng
chữ Quốc ngữ. Thể loại cũ được cách tân (thơ, tiểu thuyết, tùy bút …), thể loại
mới được đẩy mạnh (truyện ngắn, kịch nói, phóng sự, dịch thuật, phê bình …).
Nhà văn cũng mạnh dạn thay đổi cách chọn đề tài, cách nhìn, cách cảm, cách
nghĩ về hiện thực. Lần đầu tiên, viết văn được xem là một nghề; nhà văn có thể
sống nhờ nhuận bút …
Lúc này, do hoàn cảnh chính trị – xã hội tác động, văn học phân hóa phức
tạp thành nhiều khu vực (hợp pháp, bất hợp pháp, bán hợp pháp); tách ra nhiều
xu hướng (lãng mạn, hiện thực, cách mạng).
Những đặc điểm trên, nhìn chung, đều hiện diện ở văn học viết Tiền Giang.
2. Điều kiện phát triển thuận lợi của văn học viết Tiền Giang
Văn học viết Tiền Giang nửa đầu thế kỷ XX có nhiều thành tựu là nhờ khởi
hành và vận động trong một môi trường văn hóa đầy thuận lợi.
1
Võ Phúc Châu – V n h c vi t Ti n Giang t đ u TK XX đ n 1945ă ọ ế ề ừ ầ ế

2
Võ Phúc Châu – V n h c vi t Ti n Giang t đ u TK XX đ n 1945ă ọ ế ề ừ ầ ế
hệ mật thiết với các cây bút Tiền Giang: Imprimerie F.H. Schneider, Imprimerie
de L’Union, Lửa Hồng, Tấn Phát, Phan Yên, Sông Kiên, Phương Nam, Bốn
Phương,… cùng tôn vinh Hồ Biểu Chánh; Đông Phương Thư Xã tiếp sức cho
Nguyễn Văn Nguyễn; Đức lưu phương khẳng định tầm vóc Sơn Vương, vẽ chân
dung Trần Quang Nghiệp; Xưa và Nay tạo dáng Bửu Đình; …
Sau nữa, thư quán cũng có vai trò tiếp sức cho công cuộc hiện đại hóa văn
học. Người đọc biết đến tác phẩm, tác giả nhờ thường xuyên giao lưu, mua và
đọc sách ở các thư quán. Từ 1928 đến 1945, Mỹ Tho có nhiều thư quán: Chiêu
Anh thơ quán, Đông Phương thơ xã, Nam Cường thơ xã, Ánh sáng thơ viện. Ở
Gò Công, nổi tiếng nhất là Nữ lưu thơ quán .
2.3. Tinh thần dân tộc của các nhà văn
Lúc này, Nam Bộ là nơi thực hiện tích cực nhất, có hiệu quả nhất chủ
trương của các nhà văn: viết bằng thứ “tiếng An Nam ròng”. Đây là chủ trương
đề cao lối văn đơn sơ, dễ hiểu, ít điển tích, ít chữ Nho. Nó chú ý khai thác những
từ ngữ mà mọi người hằng nói. Nó là một cách chống lại sự ảnh hưởng quá sâu
đậm của tiếng Hán, là cách hiệp sức để tiêu hóa tình trạng “phát ách tiếng chệch
”. Nó gắn liền với ước vọng chân thành: “muốn cho tiếng nước ta đứng riêng
một cõi, chẳng còn làm mọi Tàu nữa” (Nguyễn Háo Vĩnh), để “cái hồn của tiếng
mẹ đẻ” không chết mất. Ủng hộ chủ trương này, các nhà văn đã phổ cập được
văn chương đến với rộng rãi nhân dân, nhất là giới bình dân. Thực tế, các nhà
văn Tiền Giang đều định hình văn phong của mình qua “tiếng An Nam ròng” ấy.
3. Đặc điểm, thành tựu của các thể loại
3.1. Truyện ngắn, tiểu thuyết
Đây là lĩnh vực gắn liền với công cuộc hiện đại hóa văn học đầu thế kỷ XX.
Trong văn học viết Tiền Giang, nó tập hợp được nhiều tác giả nhất, có số lượng
tác phẩm nhiều nhất. Những tìm tòi, đổi mới của các nhà văn Tiền Giang hầu hết
được ghi nhận qua lĩnh vực này. Đặc biệt, đây là nơi các nhà văn thể hiện rõ
nhất thứ tiếng “An Nam ròng”. Nó gắn liền các tên tuổi: Hồ Biểu Chánh,

Tiền Giang đầu thế kỷ XX hầu hết đều có một vốn Hán văn đầy đặn. Họ lại sẵn
có một kho từ ngữ “An Nam ròng”. Dang tay tiếp đón họ là hàng loạt tòa báo,
nhà in. Háo hức chờ đọc họ là đội ngũ thị dân mới. Vì vậy, khá nhiều tác phẩm,
4
Võ Phúc Châu – V n h c vi t Ti n Giang t đ u TK XX đ n 1945ă ọ ế ề ừ ầ ế
tác giả dịch thuật (người Tiền Giang) được ghi nhận trong giai đoạn này: Liêu
Trai chí dị (Trần Thế Vĩnh – quê Cai Lậy), Càn Long hạ Giang Nam (Huỳnh Tứ
Phú – quê Mỹ Tho), Thanh Xà – Bạch Xà diễn nghĩa (Cao Hải Để – quê Cai
Lậy), Phản Đường diễn nghĩa (Lê Sum – quê Gò Công), Lửa ngúng thình lình
(Hồ Biểu Chánh – quê Gò Công), …
Đặc điểm chung của tác phẩm dịch là văn phong rất bình dân, thậm chí
nôm na, thô mộc. Hiện tượng câu văn lủng củng, sai chính tả, … không hiếm
trong nhiều trang sách. Các dịch giả chưa chú trọng tạo ra phong cách, dấu ấn
riêng cho mình.
Do vậy, kết quả lĩnh vực dịch thuật chỉ tính bằng lượng chứ chưa có chất.
3.4. Phóng sự, biên khảo,…
Hai thể loại này đến với bạn đọc nhanh nhất, phù hợp nhất qua con đường
báo chí. Nhiều nhà văn đã nhạy bén lập danh bằng cách viết phóng sự và biên
khảo. Bấy giờ, hiện thực đời sống phong phú, đa dạng giúp các nhà văn rộng
đường khai thác. Nhiều vấn đề văn hóa – xã hội trong di sản và hiện tại vẫn còn
bỏ ngỏ. Tuy nhiên, số nhà văn đeo đuổi và thành đạt ở lĩnh vực này không
nhiều. Có thể kể: Thu Giang – Nguyễn Duy Cần (đề tài tâm lý, rèn nhân cách,
…); Hồ Biểu Chánh (đề tài các nhân vật lịch sử), Nguyễn Thị Manh Manh (đề
tài đời sống phụ nữ tân thời), Nguyễn Văn Nguyễn (đề tài Côn Đảo), Phù Ngọc
Lũy (đất và người Phan Thiết), Phan Văn Gia (đề tài Khám Lớn Sài Gòn)…
4. Những gương mặt văn học tiêu biểu
Từ đầu thế kỷ XX đến 1945, văn học viết Tiền Giang quy tụ được một lực
lượng tác giả nhiệt tình, có học thức. Họ có quê quán ở Tiền Giang hoặc được
sinh ra trên đất Tiền Giang. Đó là Nguyễn Văn Nguyễn, Thu Giang, Ngô Tấn
Lương, Trịnh Hoài Nghĩa… ở Mỹ Tho; Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Thị Manh

Chợ Lớn. Năm 1946, nhận lời làm Cố vấn và Đổng lý Văn phòng cho Chính
phủ Nam kỳ Cộng hòa Tự trị (thực chất là chính phủ bù nhìn do Pháp giật dây).
Mấy tháng sau, chính phủ này tan rã, ông về ẩn dật và mất ở Phú Nhuận, Sài
Gòn (nay là TP. Hồ Chí Minh).
Về chính trị, tuy theo con đường thân Pháp nhưng ông làm việc rất thanh
liêm và tận tụy giúp đỡ đồng bào. Sang lĩnh vực văn chương, ông càng hết lòng
đứng về phía nhân dân lao động, bênh vực người nghèo. Bút danh Hồ Biểu
6
Võ Phúc Châu – V n h c vi t Ti n Giang t đ u TK XX đ n 1945ă ọ ế ề ừ ầ ế
Chánh đã thể hiện quan điểm sáng tác và phương châm sống cao đẹp ấy của
ông: biểu dương chánh nghĩa.
Nhìn chung, cuộc đời Hồ Biểu Chánh chia thành hai chặng: thời sĩ hoạn
(1906 – 1946); thời hưu trí (1946 – 1958). Riêng sự nghiệp sáng tác có 5 giai
đoạn: tập sự viết văn, làm thơ (1907 – 1917); viết báo (1918 - 1925); chuyên
viết tiểu thuyết (1925 – 1941); làm báo, biên khảo (1942 – 1955); trở lại viết tiểu
thuyết (1953 – 1958).
Là nhà văn, nhà báo có bút lực dồi dào, Hồ Biểu Chánh sáng tác không mệt
mỏi. Ông xông xáo thử sức qua nhiều lĩnh vực, với khối lượng tác phẩm đáng
kể: 64 tiểu thuyết, 8 đoản thiên tiểu thuyết, 3 tập truyện ngắn, 2 truyện dịch, 5
vở hài kịch, 4 vở hát bội, 3 vở cải lương, 3 bài văn vần, 5 bài tùy bút - phê bình,
6 bài hồi ký, 8 bài diễn thuyết. Ngoài ra, ông còn hai tập di cảo thơ: Tâm hồn tôi
và Biểu Chánh thi văn. Trong đó, ông sáng tác và dịch được 192 bài thơ luật, 4
bài song thất lục bát, 4 bài ca khúc, 2 bài lục bát, 1 bài thơ tự do; kèm theo 16
câu đối, 9 bài văn tế, 3 bài thư tín.
Xét qua khối lượng sáng tác, Hồ Biểu Chánh tự khẳng định sở trường của
ông ở lĩnh vực tiểu thuyết. Tác phẩm lấy khung cảnh chủ yếu ở các thành thị và
miền quê Nam Bộ. Về đề tài gia đình, nổi trội là cảnh hôn nhân éo le: ép gả, vụ
lợi, tiền dâm hậu thú, môn đăng hộ đối, bất đồng tín ngưỡng, đa thê … Kế đến là
cảnh tranh giành gia tài, cảnh mẹ ghẻ cha ghẻ … Về đề tài xã hội, ở thành thị là
cảnh khổ của thợ thuyền, trẻ bán báo, gái điếm; … cảnh xa hoa phè phỡn của

ngắn và đoản thiên bằng tiếng Việt còn ít ỏi và lạ lẫm. Ông có công góp phần
hình thành thể loại tiểu thuyết trên chặng đường phôi thai bằng chữ Quốc ngữ.
Ở lĩnh vực báo chí và biên khảo, Hồ Biểu Chánh quan tâm đặc biệt đến các
vấn đề lịch sử – xã hội. Làm báo, ông thường bênh vực quyền lợi thương mãi
cho đồng bào nhà nông. Viết biên khảo, ông nêu cảm nhận của mình về tư
tưởng, sự nghiệp của các nhân vật lịch sử như Pétain, Võ Tánh, Hai Bà Trưng,
Mạc Đăng Dung, Gia Long… Các bài viết tuy còn nặng cảm tính chủ quan,
thiếu khoa học… nhưng chứng tỏ một kiến thức sâu rộng, một tấm lòng thiết tha
với tiền đồ văn học, văn hóa nước nhà. Văn phong biên khảo của ông giản dị
như lời nói thường.
8
Võ Phúc Châu – V n h c vi t Ti n Giang t đ u TK XX đ n 1945ă ọ ế ề ừ ầ ế
Ở lĩnh vực thơ ca, ông hoàn toàn theo lối cũ (thể Đường luật, hình ảnh ước
lệ, từ ngữ cổ xưa, đăng đối chặt chẽ…). Ông làm thơ chỉ với mong muốn con
cháu ngày sau hiểu được tâm chí mình: con người trong sạch, không chuộng lợi
danh, ước mong cảnh đoàn tụ, hòa thuận một nhà…
Có thể nói, tính cả những thành tựu và hạn chế, Hồ Biểu Chánh là nhà văn
có công khai phá thể loại tiểu thuyết Việt Nam hiện đại vào buổi phôi thai, là
người góp phần đặt nền móng cho sự hình thành trào lưu hiện thực phê phán
(1930 – 1945). Sự hiện diện của ông trên văn đàn đã khiến nền văn học dân tộc
có được một ngòi bút sung sức, rặt chất Nam Bộ, viết bởi thứ “tiếng An Nam
ròng”.
4.2. Nguyễn Thị Manh Manh
Nguyễn Thị Manh Manh (1914 - ?) tên thật Nguyễn Thị Kiêm, là nhà báo,
diễn giả, nhà thơ theo xu hướng lãng mạn (giai đoạn 1932 – 1945). Bút danh
khác: Mym, Nguyễn Văn Mym, Nguyễn Thị Kim…
Bà sinh tại Gò Công, tỉnh Tiền Giang. Cha là Nguyễn Đình Trị, làm tri
huyện và nghị viên thành phố Sài Gòn – Gia Định. Người mẹ thông thạo cả Nho
học lẫn Tây học, sớm định hướng cho các con hấp thụ một nền giáo dục toàn
diện.

Lạnh như đồng
Ngồi mơ tưởng
Tình xưa phất phưởng
Ấm dịu cõi lòng”
(Viếng phòng vắng)
Còn đây là nỗi lạnh vắng của một tâm hồn cô đơn lúc canh tàn:
“Canh tàn, nghe lòng nghe
Gió đêm thoáng qua cửa
Lụn tàn một góc lửa
Lạnh ngắt chốn buồng the
*
Gió đêm thoáng qua cửa
Não dạ gió tỉ tê
Lạnh ngắt chốn buồng thư
10
Võ Phúc Châu – V n h c vi t Ti n Giang t đ u TK XX đ n 1945ă ọ ế ề ừ ầ ế
Em ơi, khêu chút lửa.
*
Não dạ gió tỉ tê
Gió ru … “thiết chi nữa !”
Em ơi khêu chút lửa
Rồi lại ngồi đây nghe.
*
Gió ru thiết chi nữa…
Sụt sùi mấy cành tre
Em ngồi đây có nghe
Tơ lòng bi đứt nửa !”
(Canh tàn)

Không chỉ làm thơ, bà còn hăng hái diễn thuyết, tranh luận, bênh vực “Thơ

nghèo. Năm ông 10 tuổi, cha mất. Bà mẹ một mình tần tảo nuôi dạy 6 người
con.
Học tiểu học ở Mỹ Tho rất giỏi, ông được học bổng lên học trường sư
phạm ở Sài Gòn. Tại đây, ông háo hức tìm đến tư tưởng xã hội chủ nghĩa qua
sách báo cách mạng, qua tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc. Năm 1925, ông ở hàng
đầu trong phong trào học sinh Sài Gòn chống đế quốc. Bị đuổi học, ông xin việc
ở Công ty xe lửa Đông Dương, gia nhập tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách
mạng Đồng chí Hội. Khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập, ông là đảng viên
lớp đầu tiên.
Sau hai lần bị bắt, bị dụ dỗ, tra tấn, ngày 23-4-1932, ông nhận án đày ra
Côn Đảo. Nơi đây, các chiến sĩ cộng sản đối mặt với nhiều thử thách: cảnh sống
tồi tệ, bọn cai ngục đọa đày, bọn tù Việt Nam Quốc dân Đảng luôn tìm cách
khẩu chiến, bút chiến, kể cả đòi huyết chiến với các đảng viên cộng sản. Để giữ
vững tinh thần cho đồng chí, tăng cường sức mạnh, ảnh hưởng của Đảng, ông
tham gia thành lập chi bộ nhà tù Côn Lôn. Ông hăng hái dạy văn hóa cho anh
em tù, viết báo, viết kịch, soạn cải lương, diễn văn nghệ. Nhiệt tình cách mạng
12
Võ Phúc Châu – V n h c vi t Ti n Giang t đ u TK XX đ n 1945ă ọ ế ề ừ ầ ế
cùng nhân cách cứng cỏi của ông khiến nhiều tù nhân và cai ngục phải kính nể
những người cộng sản.
Ngày 20-8-1934, ông mãn hạn tù. Về Mỹ Tho thăm mẹ, thăm anh em, làng
xóm chỉ mấy ngày, ông liên lạc ngay với Đảng, lao vào cuộc chiến bằng ngòi
bút. Do báo tiếng Việt bị cấm đoán gắt gao, ông viết loạt phóng sự bằng tiếng
Pháp Côn Lôn – hòn đảo địa ngục, đăng lần lượt trên báo La Lutte (Sài Gòn).
Đây là bản tố khổ chế độ nhà tù thực dân, là cáo trạng hùng hồn, đanh thép về
tội ác của kẻ thù trên hòn đảo địa ngục này. Tác phẩm làm rung động trái tim
những người Việt Nam yêu nước, đồng thời tranh thủ được sự đồng tình rộng rãi
của nhân dân Pháp, trí thức Pháp trong cuộc đấu tranh đòi ân xá chính trị phạm
ở Đông Dương.
Năm sau, ông viết thiên truyện Tình trong tù bằng tiếng Việt, bút danh Ngũ

tù đày, lại thiếu thuốc chữa, ông suy kiệt dần và từ trần ngày 25-3-1953. Để ghi
nhớ công lao suốt đời hy sinh vì cách mạng của ông, ngày 30-4-1957, Chủ tịch Hồ
Chí Minh ký sắc lệnh số C15 truy tặng ông Huân chương độc lập hạng nhất và
ngày 5-1-1980, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký quyết định số 10-Ttg tặng bằng Tổ
quốc ghi công.
4.4. Sơn Vương
Sơn Vương (1909 - 1994) là nhà văn Nam Bộ đầu thế kỷ XX. Ông tên thật
là Trương Văn Thoại, tự là Vạn Năng, hiệu Sơn Vương. Bút danh Sơn Vương
được chiết tự từ tên thật (ba chữ Sơn, Vương và Nhi ghép lại thành chữ Thoại).
Ông quê ở làng Bình Nghị (Gò Công), là con thứ năm trong gia đình có
học thức, giàu tiền của và giàu lòng nhân ái. Cha là điền chủ Trương Đình Cung
Anh. Bản thân học hết chương trình lớp Nhất. Vừa đọc thông sách tiếng Pháp,
ông chuyển sang học chữ Hán. Cuối 1925, ông lên Thất sơn học võ và học đạo
với một ẩn sư và bắt đầu viết truyện. Năm 1931, thầy mất, ông xuống núi, về ở
trọ tại Sài Gòn để tiếp tục viết văn. Thời gian này, ông đi bán báo, hết sức ái mộ
Nguyễn An Ninh, chủ bút tờ Tiếng chuông rè, thủ lĩnh Đảng Thanh niên cao
vọng. Ông trở thành cộng sự đắc lực cho tờ báo này và cho Nguyễn An Ninh.
Những năm 1932 – 1933, nhờ các tiểu thuyết đăng báo, ông nổi danh khắp Sài
Gòn, Lục tỉnh. Nhà xuất bản Đức lưu phương cho in lại, tổng cộng 21 tác phẩm.
14
Võ Phúc Châu – V n h c vi t Ti n Giang t đ u TK XX đ n 1945ă ọ ế ề ừ ầ ế
Đơn cử vài tên sách: Chén cơm chan máu, Bạc trắng lòng đen, Phản bạn vì tình,
Luật rừng xanh, Lỗi hẹn quên thề
Là nhà văn nhưng Sơn Vương cũng là một tướng cướp nghĩa khí, chuyên
lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo. Có lần, để giúp vốn làm ăn cho Nguyễn
Phương Thảo (anh em kết nghĩa, sau là trung tướng Nguyễn Bình, tư lệnh Khu 7
thời kháng Pháp), ông tổ chức cướp 50.000 đồng của giám đốc hãng caosu
Minot. Với tội danh này, ông bị bắt, bị kết án khổ sai chung thân, bị lưu đày Côn
Đảo năm 1933. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, tất cả tù chính trị được về đất
liền. Nhưng ông ở lại đảo, dựng chính quyền riêng, tự phong mình làm chúa

1959) …
Sau 1945, ông còn tham gia các hội nghị quốc tế về Đông phương học và
Hán học, tổ chức tại Malaysia, Mỹ và Đài Loan. Ông diễn thuyết nhiều đề tài về
Phật học, Triết học và Văn hóa tại một số chùa lớn, trường Đại học ở sài gòn.
Ông mất năm 1997 tại thành phố Hồ Chí Minh, thọ 90 tuổi.
5. Kết luận
Văn học viết Tiền Giang từ đầu thế kỷ XX đến 1945 đã phản ánh sinh động
diện mạo, sức sống và triển vọng của tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.
Văn học phát triển thuận lợi nhờ những điều kiện văn hóa – xã hội giàu chất
nhân văn. Nó gặt hái thành tựu ở mọi thể loại, nhất là truyện ngắn và tiểu thuyết.
Nó góp cho nền văn học dân tộc một số cây bút tài năng, tâm huyết… Nó tạo
một bệ phóng vững chắc cho văn học Tiền Giang sau 1945 thực sự mang tính
hiện đại, vừa có nét riêng, vừa hội nhập tốt đẹp với các vùng văn học, văn hóa
trẻ trung, đặc sắc trong cả nước.
Viết xong 15/5/2005
Võ Phúc Châu
16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status