thơ đường luật việt nam nửa đầu thế kỷ xx - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

TRẦN THỊ LỆ THANH

THƠ ĐƯỜNG LUẬT VIỆT NAM
NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI – 2002



MỤC LỤC
MỤC LỤC ......................................................................................................................... 3
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ................................................. 6
MỞ ĐẦU............................................................................................................................ 7
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ........................................................................................................ 7
2. ĐỐI TƯỢNG - PHẠM VI VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI............................................... 10
2.1.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. ............................................................................... 10
2.2.Nhiệm vụ của luận án ................................................................................................... 11
2.2.1.Nhiệm vụ chính: .................................................................................................... 11
2.2.2.Nhiệm vụ phụ trợ: ................................................................................................. 11
3.LỊCH SỬ VẤN ĐỀ .............................................................................................................. 11
3.1.Thời điểm trước khi thơ Mới ra đời (đầu thế kỷ XX- 1931). ....................................... 12
3.2.Thời điểm từ 1932- 1945. ............................................................................................. 14
3.3.Thời điểm từ 1945 đến 1985. ....................................................................................... 18
3.4.Thời điểm từ 1986 đến nay. .......................................................................................... 21
4.CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................................................................. 27
5.NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN .................................................................... 27


Chương 3: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ NGÔN NGỮ CỦA TĐL VIỆT NAM
NĐTKXX ....................................................................................................................... 132
3.1.Đặc điểm về từ ngữ. ....................................................................................................... 133
3.1.1.Thơ ĐL Hán và sự xuất hiện của lớp từ bình dân. .................................................. 135
3.1.2.Đặc điểm từ trong TĐL Quốc ngữ........................................................................... 139
3.1.2.1.Đặc điểm từ vựng: ............................................................................................ 139
4


3.1.2.2.Đặc điểm từ loại. .............................................................................................. 149
3.2.Đặc điểm về ngữ pháp. .................................................................................................. 155
3.2.1.Đặc điểm ngữ pháp Đường luật Hán ....................................................................... 156
3.2.2.Đặc điểm ngữ pháp trong Đường luật Quốc ngữ. ................................................... 160
3.3.Những đặc điểm về ngữ âm ........................................................................................... 166

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT .......................................................................................... 174
CÁC CỒNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ..................... 180
TƯ LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 181
PHẦN PHỤ LỤC .......................................................................................................... 195

5


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1.

ĐL



1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong hệ thống thể loại của văn học Việt Nam, thơ Đường luật (TĐL) là một trong số các
thể loại có lịch sử lâu đời và trong một thời gian khá đài từng có vị trí gần như là độc tôn trên
thi đàn Việt Nam. Chưa đủ căn cứ để xác đinh TĐL vào Việt Nam năm nào, nhưng nếu thời
điểm ra đời văn học viết Việt Nam được tính ít nhất từ thế kỷ X, thì đến nay TĐL đã tồn tại ở
Việt Nam ngót mười thế kỷ. Ngót mười thế kỷ, một thể thơ ngoại nhập đã được người Việt
Nam sử đụng để sáng tạo biết bao giá trị. Không ai quên, với Đường luật, Nguyễn Trãi đã tạo
nên một "niềm ưu ái" đầy tâm huyết. Nguyễn Bỉnh Khiêm tạo nên một phong cách triết gia
trầm tĩnh, nhuần nhị. Hồ Xuân Hương để lại một phong cách trữ tình trào phúng "thi trung hữu
quỷ". Bà Huyện Thanh Quan, lại xứng đáng với một phong cách Đường thi mẫu mực.... Nghĩa
là trong suốt mười thế kỷ ấy, nền thơ Việt Nam đã đạt đến những đỉnh cao của nghê thuật thơ
ca cổ điển, một phần có sự đóng góp của thể loại thơ độc đáo này. Từ những thành qủa ấy,
TĐL đã trở thành món ăn tinh thần quen thuộc, hấp dẫn của hầu hết các thế hệ người Việt Nam
yêu thơ xưa.
Nhưng rồi, bước sang đầu thế kỷ XX, trước nhưng đổi thay lớn tao của thời đại, sự ảnh
hưởng của văn hoá phương Tây, những chuyển biến trong nhận thúc thẩm mĩ của lớp thanh
niên Tây học, đặc biệt là sự xuất hiện và chiếm ưu thế của nhiều thể loại mới, TDL mất dần địa
vị trên thi đàn. Không ít người, sau thất bại của "thơ Cũ" trong trận chiến với "thơ Mới" hồi 32
- 45, đã đi đến kết luận: Sinh mệnh nghệ thuật của thể TĐL đến đây là chấm dứt, hoặc nếu còn
cũng chỉ là cái xác không hồn...
Sự thật có hẳn như thế không với công việc nghiên cứu? Nhất là đến nay, thời gian đã cho
một độ lùi 6, 7 chục năm?
Đặt vấn đề nghiên cứu: “Thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX” là chúng tôi
muốn được lý giải lại một hiện tượng văn học đã có vấn đề như thế. Sau đây sẽ là những căn cứ
và cũng là những lý do cho việc chọn đề tài luận án.

7



8


Chế Tan Viên đã nêu lên quan điểm nhìn lại đẩu tiên về vấn đề này: "Mùa cổ điển bé bỏng,
nhưng quá đầy đủ, trước hết đã giải cho ta một mối lầm ác nghiệt, là phân chia bờ cõi thơ bằng
hai chữ Mới - Cũ chẳng có ý nghĩa gì " [tr 5 – 161]. Thực chất đây là sự nhìn lại khá lý thú,
được tồng kết có lẽ không chỉ dùng với Mùa cổ điển của Quách Tấn mà còn đúng với nhiều
hiện tượng thơ ca khác ở NĐTKXX, trong đó có TĐL.
Từ đó đến nay, khuynh hướng này vẫn tiếp tục được đặt ra và ngày càng cụ thể hơn. Có
thể có nhiều cách nhìn lại khác nhau nhưng khái quát trong một nhận xét chung là: ở
NĐTKXX, để tồn tại, TĐL Việt Nam đã dần dần chuyển hoá trên tất cả các phương điện như
ngôn ngữ, thể loại, nội dung, cấu tứ... nhằm đáp ứng nhu cầu của thời đại mới.
So với kết luận phủ nhận TĐL hồi thập kỷ 30, những nhận xét giờ đây về cơ bản đã mang
tinh thần khác. Nếu chưa xem những nhận xét này là một kết luận, thì ít ra chúng cũng chứng
tỏ giới nghiên cứu đã không chịu dừng lại ở một định kiến như đã có.
1.4.Với thực tế tồn tại, với độ lùi của thời gian và một khuynh hướng “xét lại” về TĐL
NĐTKXX, chúng tôi thấy đã đến lúc phải tìm hiểu lại hiện tượng thơ Đường luật Việt Nam
nửa đầu thế kỷ XX trong một tâm thế mới như sau:
- Một mặt, phải thừa nhận rằng trong bối cảnh nền văn học đang chuyển mình theo hướng
hiện đại, việc đưa ra quan điểm phủ nhận TĐL là có căn cứ. Bởi như mọi người đều biết trong
dòng chảy của thơ ca nhân loại cũng như thơ ca dân tộc, vấn đề cũ-mới là vấn đề có thật đã
từng điễn ra và nhất là hay điễn ra khi có sự thay đổi hình thái xã hội. Xã hội Việt Nam những
năm đầu thế kỷ XX, đặc biệt là sau 1930 lại ở vào thời điểm có nhiều thay đổi, về điệu sống,
tâm lý sống, đặc biệt là thị hiếu văn chương trong đó một tầng lớp công chúng mới đã xuất hiện
trong hoàn cảnh mới của xã hội... nên việc phủ nhận TĐL là một hiện tượng gần như tất yếu
lịch sử và chuyện có mới nới cũ là điều thường tình, dễ hiểu.
- Nhưng mặt khác trong đánh giá văn học lại phải thấy rằng không được tuyệt đối hóa, cố
định hóa vĩnh viễn vấn đề cũ – mới. Bởi cũng là thực tế, cái gọi là cũ - mới trong thế giới nghệ
thuật trong đó có thơ ca lại hoàn toàn không phải là chuyện đơn giản. Không ít hiện tượng
người này cho là cũ, thì người khác cho là mới và ngược lại, có cái nhất thời cho là cũ đáng bỏ

cho nên trong phần lịch sử vấn đề, luận án chỉ điểm lại những chuyên đề, tiểu luận, bài viết, ý
kiến đánh giá xung quan vấn đề TĐL Việt Nam giai đoạn NĐTKXX, còn những giai đoạn khác
xin không nhắc đến.
Trong quá trình thu thập tư liệu và nghiên cứu lịch sử vấn đề, chúng tôi nhận thấy, TĐL
Việt Nam NĐTKXX, được nhìn nhận rất khác nhau trong những thời điểm nhất định đặc biệt
là trước và sau phong trào thơ Mới ). Vì vậy, để tiện cho việc theo dỏi, chúng tôi sẽ trình bày
11


lịch sử vấn đề theo trình tự thời gian và các xu hướng đánh giá theo những hướng nghiên cứu
đã có.
Cũng xin nói thêm: vì có sự trái ngược nhau trong cách nhìn nhận hiện tượng TĐL Việt
Nam NĐTKXX do đó trong lịch sử vấn đề, chúng tôi xin được nói cặn kẻ mà có thể bị coi là
đài dòng để giúp cho việc trình bày kiến giãi về sau của mình, cũng như sự suy nghĩ của người
theo dõi công trình.
3.1.Thời điểm trước khi thơ Mới ra đời (đầu thế kỷ XX- 1931).
Lâu nay các nhà nghiên cứu thường nhắc tới bài Bàn về thơ nôm của Phạm Quỳnh (Nam
phong số 5 - 1917) như một phản ứng thị hiếu đầu tiên đối với TĐL. Mặc dù, nói đến sự
chuyển biến trong thơ ca, hay sự xâm nhập của cái mới vào địa hạt cái cũ, lại phải lấy năm
1914 làm mốc. Vì sự xuất hiện bài thơ dịch từ tiếng Pháp của Nguyên Văn Vĩnh, đăng trên
Đông Dương tạp chí (1914 số 40),(bài Con ve sầu và con kiến của Ta Fontaine) bằng một lối
thơ vừa ngộ nghĩnh vừa không có quy luật vô số tiếng và cách gieo vần, ít nhiều đã gieo vào
lòng người Việt Nam, một mối nghi ngờ vẻ sự tồn tại vĩnh hằng và vị trí độc tôn của TĐL trên
thi đàn. Hơn nữa ngay từ 1915, khi chính phủ bảo hộ thực hiện việc bãi bỏ chề độ khoa cử (ở
Bắc kỳ), (trong đó có môn thi TĐL), đã gây nên một phản ứng bất ngờ với lớp thanh niên Tây
học, với nền Hán học nói chung và với cả việc sáng tác TĐL nói riêng, tuy nhiên, nếu để ghi
nhận một phát ngôn hay một thái độ cụ thể, thì dùng Phạm Quỳnh là người đầu tiên đưa ra ý
kiến có tính chất mở màn ở NĐTKXX. Trong bài Bàn về thơ Nôm Phạm Quỳnh có đoạn viết:
."Người ta thường nói thơ là cái tiếng kêu tự nhiên của con tâm. Người Tàu định luật nghiêm
cho nghề thơ, thực là muốn chữa lại, sửa lại cái tiếng kêu ấy cho nó hay hơn, trúng vần trúng

và sự cảm nhận ban đầu về những đổi thay trong nhận thức và thị hiếu của bạn đọc, chứ chưa
hẳn là ý thức công kích để tẫy chay TĐL như không ít người đã phần nào ngộ nhận. Trên văn
đàn bằng ngôn luận, không ai phản bác hay phản ứng gì thêm, bằng sáng tác cá tập Khối tính
con I 1916, Khối tính con II 1918, Còn chơi 1921, của Tản đà, Duyên nợ phù sinh I 1921,
Suyên nợ phù sinh II 1923, Bút quan hoài 1927 của Trần Tuấn Khải...liên tiếp ra đời, mà trong
đó cá bài thơ được sáng tác bằng ĐL vẫn chiếm một số lượng tương đối lớn. Hơn thế, việc
những lời tựa, lời bạt, nhận xét, bình điểm, của nhiều học gia về những bài TĐL có giá trị của
Tản Đà, Á Nam... vẫn được bạn đọc hưởng ứng, còn cho thấy, ở vào cuối những năm 20 của
thế kỷ này, những đánh giá về ĐL vẫn diễn ra bình thường, chứ chưa có chuyển biến gì đặc biệt
so với giai đoạn trước đó.

13


3.2.Thời điểm từ 1932- 1945.
Năm 1932, được coi là năm chính thức mở màn của phong trào thơ Mới. Bài Tình già của
Phan Khôi xuất hiện ngày 10 - 3 - 1932 trên Phụ nữ tân văn, đã tạo nên làn sóng hưởng ứng của
lớp thanh niên và gây hoàng mang cho lớp Nho học. Vì thế trên văn đàn, một biến cố văn học
đã diễn ra và thế chiến chia thành hai mặt trận: theo phải Mới có Phan Khôi, Thế Lữ, Nguyễn
Thị Kiêm, Vũ Đình Liên, Lưu Trọng Lư.., theo phái cũ có Nguyễn Văn Hanh, Thái Phỉ, Tùng
Lâm, Hoàng Duy Từ... Ở giữa hai phải (gọi là phe trung gian), người ta ghi nhận sự hiện diện
của thi sĩ Tán Đà.
Cũng cần nói thêm, sở dĩ số phận TĐL thường đi liền với cái gọi là thơ Cũ vì: khái niệm
thơ Cũ là do phải mới đặt ra, mà theo cách hiểu của phải mới thì thơ Cũ, chủ yếu ám chỉ lối thơ
sáng tác theo thể ĐL (phần lớn là lối thơ thất ngôn bát cú), đăng trên các báo công khai hồi đó.
Hơn nữa, mặc dù sự tấn công của thơ Mới vào thành trì thơ Cũ, không chi đơn thuần là sự phá
bỏ hình thức thơ truyền thống, mà phần nào còn là sự tấn công những giá trị tinh thần, những
tiêu chuẩn thẩm mỹ của thời đại phong kiến trung đại...nhưng cái mà phải mới làm được lúc đó
là tẩy chay sự gò bó nghiêm ngặt của thể ĐL cho nêu trong chừng mực nào đó, TĐL đại diện
cho thơ Cũ trên phương điện hình thức. Vì thế cuộc đấu tranh mới - cũ ở đây vô hình chung

những bài thơ dở, còn những bài thơ hay thì hầu như không bàn đến. Vì thế việc chê thơ Mới là
"luộm thuộm", "Văn xuôi", chê các nhà thơ Mới là "dốt về luật" xem ra chẳng thu được kết quả
gì đáng kể. Cho nên san đó, tổng kết lại phong trào thơ Mới trong Thi nhân Việt Nam, Hoài
Thanh - Hoài Chân mới có lý khi nói rằng: "Công kích những bài thơ Mới lủng củng là một
chuyện thừa vậy. Công kích được những bài có giá trị mới mong tiệt được mầm thơ Mới" [tr 26
– 168] và khẳng định, trong tình thế cấp bách ấy "...chỉ có một người hoặc có thể làm nên
chuyện. Người ấy là Tản Đà, một nhà thơ có tài” [tr.25 - 168].
Đúng là, trong cơn nước sổi lửa bỏng ấy, một người vừa có tài, vừa đầy mâu thuẫn như
Tản Đà, rất dễ bị cả hai phái tranh giành. Tuy nhiên cái "khối mâu thuẫn lớn" (chữ dùng của
Tầm Dương) ấy vẫn hướng về thơ Cũ, có cảm tình đặc biệt với thơ Cũ nhiều hơn là thơ Mới.
Bằng chứng là, dẫu có lúc ông hô hào mọi người "phá cách vút điệu luật", nhưng sau đó ông lại
tỏ ý trách mọi người "có mới nới cũ” và khẳng khái thừa nhận "tôi vì hơi có chút Hán học, xin
đứng theo về trong đám người cũ..."[tr 137- 216]. Trên An Nam tạp chí, ông đã viết nhiều bài
bình luận về TĐL, ông khen TĐL của Tham Toàn, Quách Tấn là “rất hay", “rất tử công phu"...
. Theo ông thì "cái hay trong nghề thì mỗi người mỗi vẽ mỗi người mỗi môn" [tr.140-216]. Cho

15


nên, tuy kéo Tản Đà về phe nào, cũng chỉ có một nửa của sự hợp lý, nhưng chính sự ra mặt
bênh vực của Tản Đà, cùng một số bài TĐL khá nhuần nhị của Quách Tấn, Bích Khê, Tham
Toàn... đăng trên An Nam, đã khiến nhiều tác gia thơ Cũ lấy lại được chút tự tin trong sáng tác.
Năm 1935, hai tác giá Tường Vân và Phi Vân cho xuất bản tập thơ Cũ Những bông hoa trái
mùa ở Vinh. Năm 1936, Hàn Mặc Tử cho xuất bản tập Gái Quê ở Quy Nhơn, trong đó cũng có
TĐL. Tất nhiên, số TĐL này là quá ít vù so với sự ra mắt ngày càng rầm rộ của thơ Mới thì
chẳng thấm vào đâu, cho nên dù cố gắng, các nhà thơ Cũ không thể cân bằng được cục diện. Vì
thế phải đến năm 1939, khi Quách Tấn cho xuất bản Một tấm lòng (nhà in Thụy Ký - Hà Nội)
thì cái nhìn đầy thiện cảm của Tản Đà trong lời lựa và sự ngưỡng mộ của Hàn Mặc Tử trong lời
bạt, đã xua tan phần nào không khí u ám của địa phận thơ Cũ. Hơn thế Một tấm lòng còn được
tạp chí Ngày nay giới thiệu. Tuy chưa phải là lời khen, nhưng nhiều người nhận thấy, việc một

những bài Đường luật của Quách Tấn, Bích Khê... vào Thi nhân Việt Nam còn chứng tỏ một sự
chuyển biến trong nhận thức, từ chỗ khẳng định: “Thời oanh liệt của thất ngôn luật đã đến lúc
tàn... cái thời vận của luật Đường đã cực kỳ suy vi" [18, 19 - 168] đến chỗ thừa nhận khả năng
thích ứng của thể ĐL với cái hồn thơ Mới. Chỉ tiếc rằng Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh Hoài Chân đã bỏ qua một phần nhẽ ra nên có, về những diễn biến của dòng TĐL trong bộ phận
thơ ca cách mạng, trước sự ra đời và thắng thế của thơ Mới. Tất nhiên đây là một tác phẩm
tuyển chọn thơ Mới nên việc đòi hỏi như thế với Hoài Thanh Hoài Chân có thể là quá đáng.
Điều cần nói là, ở vào thời điểm đó có được cái nhìn bao quát như Thi nhân Việt Nam đã rất
đáng quý.
Sau Thi nhân Việt Nam, một tác phẩm được coi là cuốn lịch sử văn học Việt Nam có tính
cách phổ thông đầu tiên bề thế nhất - tác phẩm Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng
Hàm ra đời đã đóng góp nhiều giá trị quý báu cho ngành văn học sử Việt Nam, trong đó nhiều
kết quả nghiên cứu lại có thể coi là thành tựu của ngành lý luận. Riêng với thể TĐL sự quan
tâm chủ yếu cũng ở góc độ này. Có điều hơi tiếc là Dương Quảng Hàm đã không phân biệt sự
khác nhau giữa những quy định của TĐL ở chính quốc, với TĐL sau khi đã nhập vào Việt
Nam. Đặc biệt trong khi phác thảo lại diện mạo của văn học nữa đầu thế kỷ, trong đó có Nam
Phong, ông hầu như cũng quên không đả động gì đến mục Văn uyển và một số lượng TĐL
khổng lồ được in trong đó.

17


Như vậy là, trong suốt thời gian thơ Mới ra đời, tấn công thơ Cũ thắng lợi và dần dần đi
đến hòa giải, không có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào đành cho TĐL. Ngoài một
số lời tựa, lời bạt cho những tập thơ của Quách Tấn, Đồng Hồ, Tú Mỡ, Hàn Mặc Tử... và
những bài bình giảng TĐL trong mục Thi đàn giảng tập trên An Nam tạp chí, là còn có tính
chất đánh giá một số phương diện của TĐL. Những công trình, bài viết khác, tuy có nhận xét
về TĐL nhưng hoặc là nhận xét trên cơ sở đối lập với thơ Mới, hoặc là khái quái bằng con mắt
lý luận, cho nên nhìn chung những tư liệu mà chúng tôi hiện có liên quan đến vấn đề TĐL ở
giai đoạn này chưa cho được cái nhìn đầy đủ cụ thể. Mặc dù vậy, đây vẫn là nhũng tư liệu rất
quý, giúp chúng tôi rất nhiều trong việc tìm hiểu những tác động chủ quan, khách quan có ảnh

dám than phiền về nỗi niêm luật ràng buộc mình trong việc diễn tả tình ý, nhưng họ cũng đã
buồn bực phải nằm mãi trong một khuôn khổ nhất định”[tr.248-92. Còn đối với các tác giả của
bộ phận thơ ca cách mạng như Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Ngô Đức Kế, Phan Chu
Trinh... thì lại là: "Nội dung thơ vươn tới một quần chúng cách mạng đông đảo, rộng rải hơn
trước, đề cập đến nhiều vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, Hình thức thơ, do đó, cũng có
một sinh khí mới... Một xu hướng tự do, phóng túng bắt đầu nảy nỡ, lung tay những khuôn khổ
nền nếp cũ. Sức sống mới của nội dung cách mạng hầu như không còn ép mình nổi trong
khuôn khổ đi mà như muốn phá vỡ ra, tìm một hình thái mới..." [tr 139-92].
Những nhận định này tuy xuất phát từ những cảm nhận chủ quan, khách quan khác nhau,
nhưng không hề mâu thuẫn và đều cho thấy một cái nhìn toàn cục, không chỉ đối với những
diễn biến về mặt thể loại của văn học nói chung, thơ ca nói riêng, mà còn xác định những lý do
dẫn đến tình trạng TĐL không còn giữ vị trí độc tôn trên thi đàn nữa.
Cũng trong những công trình vừa nêu và một số cuốn sách biên soạn cho các chương
trình giảng dạy ở phổ thông và đại học, những đánh giá riêng về TĐL, của một số tác giả có tên
tuổi, bắt đầu gây chú ý đối với nhiều bạn đọc. Hướng đánh giá này tập trung trong phần nghiên
cứu từng tác giả cụ thể. Tất nhiên, trong thời điểm mà việc nghiên cứu văn học theo loại thể,
chưa được dặt ra một cách cấp thiết, hướng nghiên cứu này tuy có đem đến nhiều nhận định
mới mẻ và thú vị về những nét phong cách riêng của từng tác giả, nhưng rất tiếc lại ít ý kiến
trực tiếp bàn riêng về TĐL của họ một cách tỉ mỉ. Vì vậy, từ những đành giá riêng này chúng
tôi chỉ có thể thu lượm được những ý kiến sắc sảo về một số khía cạnh liên quan đến TĐL của
họ, chứ chưa phải là những kết luận mang ý nghĩa khái quát cho cả máng thơ nay. Tiêu biểu có
thể kể đến ý kiến của Nguyễn Đình Chú về TĐL của Tản Đà, nhận xét của Võ Long Tê trong

19


thiên khảo luận bằng tiếng Pháp "L’Expérience poétique et I’itinérairc spirituel de Han Mac
Tư" (Kinh nghiệm thơ và hành trình tinh thần của Hlàn Mạc Tử) xuất bản năm 1972, về sự gia
nhập cái Mới của Hàn Mặc Tử, ngay trong những bài ĐL từ rất sớm của ông.
Trong thời kỳ này, không ít người bất đầu lưu tâm đến vấn đề sưu tập tư liệu, chú giải,

22


Nguyễn Hữu Huân, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng còn tiếp tục làm
sáng danh cho thơ Đường luật...Sau này, Thơ Đường luật còn được Tú Mỡ, Đô Phôn vận dụng
trong thơ trào phúng”[tr.90-142].
Năm 1996, cuốn Thơ Việt Nam-thơ Nôm Đường luật (từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX)
của tác giả Hà Xuân Liêm ra đời đã đành gần 1/3 số trang để in tuyển thơ của các tác giả, tác
phẩm TĐL NĐTKXX trong khi tựa đề tác giả chọ nội dung là thế kỷ XIX. Điều đó chứng tỏ có
sự đứt đoạn. Thậm chí ác giả Hà Xuân Liêm còn cho rằng: “Thời kỳ thịnh nhất của Hàn luậthay Đường luật cũng thế- có lẽ vào khoảng 1917 đến 1935”[tr.13, 14-91].
Đáng kể hơn, vừa qua Viện Hán Nôm kết hợp với hội các "thi huynh thi hữu" yêu TĐL
trong toàn quốc, tổ chức một cuộc hội thảo về TĐL tại Văn Miếu Quốc tử giám. Tuy nội dung
chính của cuộc hội thảo là tổng kết 10 năm TĐL Việt Nam (1990 - 2000) để đánh giá những
được và chưa được của dòng thơ này khi nó xuất hiện trở lại trên thi đàn văn học dân tộc,
nhưng nhiều ý kiến trong đó có thể coi là sự nhìn lại đối với số phận của thể TĐL, từ đầu thế
kỷ XX đến nay. Sau đó hai tập thơ Bút xưa I và II.(tuyển chọn 1734 bài TĐL của 268 tác giả
cuối thế kỷ XX) do tác giả Hoài Yên sưu tầm biên soạn đã ra mắt bạn đọc và trở thành một
trong những tập thơ được nhiều độc giả châu Á quan tâm. Việc trở lại của dòng ĐL vào những
năm cuối của thế kỷ XX bằng một số lượng tác giả, tác phẩm khá lớn như thế đã có tác động
không nhỏ tới không chỉ bạn đọc mà cả giới nghiên cứu. Tác giả Nguyễn Quang Hồng tuy rất
thận trọng song không thểdđấu nổi hào hứng của mình khi viết lời tựa cho tác phẩm: “Tôi
không muốn nói rằng thơ Đường luật ở nước ta đang được "hồi sinh", bởi vì trên thực tế nó
chưa bao giờ lâm vào tình trạng hấp hối hay chết hẳn. Nó đã thu mình lại, nhung vẫn luôn
mang giữ một sức sống tiềm tàng, và một khi gặp môi trường thuận lợi nó có thể cựa mình
vươn dậy, để mong góp một bề trâm cho âm hưởng chủ đạo của thể lục bát, trong hệ thống các
thể thơ truyền thống" [tr.10 – 223]. Còn tác giả Đinh Công Vĩ trong "Từ trước đến - "10 năm”
cuối thế kỷ XX - với "sơ tuyển của Hoài Yên - thơ Đường luật Việt vẫn đầy sức sống, cần tiếp
tục chăm sóc" thì không ngần ngại khẳng định: "thơ Đường luật Việt Nam bất tử ở mọi thời
đại".
Nhu vậy, tuy không phải là các công trình nghiên cứu trực tiếp về thơ ĐL- NĐTKXX,


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status