VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Nguyễn Hữu Phước
PHÁP GIA TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI
XÃ HỘI PHONG KIẾN VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Nguyễn Hữu Phước
PHÁP GIA TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI
XÃ HỘI PHONG KIẾN VIỆT NAM
Chuyên ngành : Triết học
Mã số
: 62 22 03 01
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
5
1.1. Các công trình tiếp cận theo phương diện bối cảnh lịch sử Trung Hoa cổ đại và
những tiền đề cho sự ra đời của Pháp gia
5
1.2. Các công trình nghiên cứu chú trọng đến nội dung tư tưởng Pháp gia và vai
trò, vị thế của nó trong lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Trung Hoa cổ đại
11
1.3. Các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của Pháp gia trong đời sống chính trị xã hội Trung Quốc và Việt Nam thời phong kiến
17
1.4.Một số vấn đề cần giải quyết trong luận án
23
Tiểu kết chương 1
24
Chương 2. SỰ HÌNH THÀNH TRƯỜNG PHÁI PHÁP GIAVÀ NHỮNG
NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA NÓ
25
39
2.3. Hàn Phi – Tập đại thành những nội dung pháp trị căn bản của tư tưởng
Pháp gia
46
2.3.1. Quan niệm về “pháp”
47
2.3.2. Quan niệm về “Thế”
54
2.3.3. Quan niệm về “Thuật”
56
2.3.4. Mối quan hệ hữu cơ giữa “Pháp – Thuật – Thế” trong tư tưởng pháp trị của
Hàn Phi
62
2.4. Một số nhận định khái quát về vai trò, vị thế của Pháp gia trong lịch sử tư
tưởng chính trị - xã hội Trung Hoa cổ đại
66
112
Chương 4. ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ ĐẾN ĐỜI
SỐNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI DƯỚI CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN VIỆT
NAM TỪ THẾ KỶ X ĐẾN NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
113
4.1. Ảnh hưởng của tư tưởng pháp trị đến xây dựng và phát triển chế độ phong kiến
trung ương tập quyền Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XX
113
4.1.1. Ảnh hưởng của tư tưởng pháp trị trong việc tổ chức bộ máy nhà nước
phong kiến
113
4.1.2. Những biện pháp cơ bản nhằm củng cố và phát triển bộ máy nhà nước
phong kiến trung ương tập quyền
121
4.2. Ảnh hưởng tư tưởng pháp trị đến xây dựng luật pháp dưới chế độ phong kiến
Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XX
127
4.2.1. Sự ra đời của "Hình thư" và "Hình luật" của chế độ phong kiến Việt Nam
143
4.4.2. Tiếp thu những giá trị cơ bản từ học thuyết pháp trị của Pháp gia trong
việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
146
Tiểu kết chương 4
150
KẾT LUẬN
151
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
154
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
155
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Danh gia, Âm dương gia với tư cách là
sản phẩm của “Bách gia tranh minh” thì Pháp gia là một trong sáu học phái lớn
nhất, có tầm ảnh hưởng đến toàn xã hội Xuân Thu - Chiến Quốc ở Trung Quốc.
pháp luật trong bất kỳ thời đại nào cũng như cách thức vận dụng những nội
dung phù hợp của tư tưởng pháp trị, cho nên việc tìm hiểu mức độ ảnh hưởng,
cách thức ảnh hưởng của Pháp gia trong lịch sử cũng như ngày nay là việc làm
có ý nghĩa. Trải qua 70 năm chính thể mới của chúng ta, đặc biệt là sau 30 năm
đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta
đã đạt được những thành tựu quan trọng trong lĩnh vực pháp luật. Đó là đổi
mới, hoàn thiện Hiến pháp cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể, đáp
ứng nhu cầu về luật pháp để "đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước
công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương,
đồng thuận… tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau”
[31, tr.103]. Để hoàn thiện mục tiêu trên, chúng ta phải tiếp tục đổi mới toàn
diện và triệt để các lĩnh vực đời sống chính trị - xã hội, đặc biệt là hệ thống
chính trị XHCN, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ để xây dựng
Nhà nước pháp quyền XHCN, nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân.
Do đó, việc kế thừa có chọn lọc những tư tưởng và học thuyết chính trị - xã hội
trong lịch sử có vai trò rất quan trọng, trong đó có những giá trị tiến bộ của học
thuyết Pháp gia.
Để góp phần thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, với tinh thần “ôn cố nhi tri tân”
cũng như “tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa của nhân
loại” [30, tr.115], chúng tôi mạnh dạn lựa chọn “Pháp gia trong lịch sử tư tưởng
chính trị - xã hội Trung Quốc cổ đại và ảnh hưởng của nó đối với xã hội phong kiến
Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho Luận án tiến sĩ Triết học của mình.
2. Mục đích, nhiệm vụ của luận án
* Mục đích: Làm rõ vị thế, vai trò của Pháp gia trong lịch sử tư tưởng chính trị xã hội Trung Hoa cổ đại và ảnh hưởng của tư tưởng pháp trị trong học thuyết này đến
chế độ phong kiến Trung Hoa, Việt Nam trên một số phương diện tiêu biểu.
2
* Nhiệm vụ:Từ yêu cầu trên, luận án cần giải quyết và làm rõ những nội
4. Phương pháp nghiên cứu của luận án
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ đạo trong luận án là phương pháp
luận mácxít trong nghiên cứu lịch sử tư tưởng, cụ thể chúng tôi sử dụng tổ hợp các
phương pháp: lôgic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch... Bên cạnh đó,
luận án còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội khác như: khảo
cứu tài liệu, so sánh - đối chiếu…
5. Những đóng góp mới của luận án
Trên cơ sở kế thừa thành tựu của các học giả đi trước, chúng tôi phát triển và
đưa ra một số điểm mới như sau:
Một là, làm rõ vị thế, vai trò của Pháp gia trong lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội
Trung Hoa cổ đại.
Hai là, luận án đã làm sáng tỏ tư tưởng pháp trị của Pháp gia đã tác động lên
đời sống chính trị - xã hội Trung Hoa cổ đại, đặc biệt là sự thúc đẩy để thành lập nhà
nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền như thế nào, từ đó phân tích vì sao
tư tưởng pháp trị đã ảnh hưởng sâu sắc đến chế độ phong kiến Trung Hoa từ thời Hán
đến nửa đầu thế kỷ XIX.
Ba là, luận giải sự tiếp biến và vận dụng tư tưởng pháp trị của Pháp gia trong lịch sử xã
hội phong kiến Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XX (trên một số phương diện tiêu
biểu). Từ đó rút ra ý nghĩa, bài học của học thuyết pháp trị của Pháp gia đối với thực tiễn xây
dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài các nội dung theo quy định, luận án được kết cấu: 3 phần chính là mở
đầu, nội dung và kết luận được luận giải trong 4 chương 14 tiết.
4
NỘI DUNG
nhiên, gắn liền những thành công cho xã hội là hàng loạt kết cục bi thảm đến với
cuộc đời các đại biểu ưu tú này.
Cùng quan điểm với Sử ký, cuốn Lịch sử Trung Quốc của Nguyễn Gia Phu –
Nguyễn Huy Quý (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007) cho rằng:
Chủ trương dùng pháp luật để trị nước của Hàn Phi đưa ra để quản lý và phát triển xã
hội là đúng đắn… nhưng quá nhấn mạnh đến biện pháp trừng phạt nặng nề, lại phủ
nhận đạo đức, tình cảm, thủ tiêu văn hóa, giáo dục là đi ngược lại với văn minh, làm
cho mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt [78, tr.76].
Ngoài những nhận định về học phái Pháp gia, tác giả còn phân tích khá rõ nét
tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội. Đặc biệt, chính trị thời kỳ này với nhiều biến động:
… Các nước thất hùng ngày càng mạnh. Trừ vua Sở đã xưng vương từ thời Xuân thu,
đến thế kỷ IV TCN, vua của các nước Ngụy, Tề, Tần, Hàn, Yên, Triệu đều lần lượt bỏ
danh hiệu “Công”,“Hầu” để xưng “Vương” [78, tr.29]. Điều này cũng được tác giả
Nguyễn Hiến Lê miêu tả: Thời chiến quốc là thời bảy người đuổi bắt một con hươu, kẻ
nào mưu mô, nhanh chân, khéo tay là được. Nhân nghĩa không đủ để làm nước hùng,
quân mạnh [59, tr.8].
Bằng phương pháp đối chứng lịch, tác giả Lê Giảng có cuốn Các triều đại
Trung Hoa (Nxb Từ điển Bách khoa, 2010). Trong sách, những nhân vật, sự kiện
được miêu tả thông qua những câu chuyện, qua bảng đối chiếu các niên đại. Thời
Xuân thu – Chiến quốc trong các thiên: Ngũ bá tranh hùng; Vương triều Tần; Sự
phát triển của Tần và biến Pháp Thương Ưởng; Văn hóa Tần; Một số học giả; Tần
Chinh phục lục quốc; Tần Thủy Hoàng và sự cai trị của ông. Tác phẩm cùng các cứ
liệu lịch sử khác, sẽ là những căn cứ quan trọng giúp những nhận định, đánh giá về
vai trò của Pháp gia trong lịch sử của chúng tôi được thỏa đáng hơn.
Có thể nói, những tư liệu sử học, mà tiêu biểu là cuốn “Sử ký” của Tư Mã
Thiên là công cụ rất quan trọng để nghiên cứu về Pháp gia, bởi lẽ người ta tìm đến
với “Sử ký” như tài liệu để thẩm định khoa học do tính chân thực của nó. Hơn nữa,
nghị luận được viết dưới dạng văn xuôi. Cách viết này giúp độc giả có điều kiện
tiếp cận vấn đề rộng mở hơn, không gò ép, khô cứng.
Như vậy, tác phẩm “Hàn Phi Tử” là tài liệu quý giá cho những nhà nghiên
cứu ở các giác độ khác nhau, trong đó có chính trị học, triết học. Tuy nhiên, với tư
cách là một tác phẩm dịch, dịch giả Phan Ngọc chỉ tập trung đi vào chuyển tải ngôn
ngữ mà chưa có điều kiện để phân tích, đánh giá theo quan điểm của mình.
7
Cùng với “Hàn Phi Tử” do Phan Ngọc (dịch) là cuốn “Hàn Phi Tử” của
Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê (Nxb VHTT, Hà Nội, 1992), gồm hai phần: nghiên cứu
và trích dịch.
Liên quan đến tư liệu gốc, trong phần trích dịch, tác giả dành trọn vẹn hai
chương để miêu tả kỹ lưỡng đời sống, tác phẩm của Hàn Phi Tử, có đối chứng,
đánh giá khi khảo cứu các tài liệu, trước khi đi vào dịch 55 thiên sách dựa theo bản
dịch của ông Nguyễn Ngọc Huy (theo Nguyễn Hiến Lê).
So sánh hai tác phẩm dịch cùng tên “Hàn Phi Tử” của hai dịch giả khác
nhau, có thể nhận thấy là, tuy có cùng một mục đích là giới thiệu về thân thế, tác
phẩm của “Tập đại thành của tư tưởng Pháp gia - Hàn Phi”, nhưng có điểm khác
biệt đáng lưu ý. Về đối tượng nghiên cứu, nếu “Hàn Phi Tử” được Phan Ngọc dịch
là một tác phẩm văn học thì “Hàn Phi Tử” được Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê trích
dịch và giới thiệu là tác phẩm văn – triết học. Theo đó, Phan Ngọc tôn trọng cổ văn
với trách nhiệm của dịch giả, cho nên chưa phân tích, đánh giá nhiều, còn Giản Chi
– Nguyễn Hiến Lê đã đưa ra những ý kiến của mình để đánh giá, phân tích, loại bỏ
những yếu tố phức tạp. Vì những lý do trên, chúng tôi chọn bản dịch của Phan Ngọc
làm tài liệu quy chiếu, trích dẫn; kể từ đây các trích dẫn trong luận án về con người
và tư tưởng Hàn Phi đều lấy từ bản dịch này.
Bên cạnh hai công trình trên, là tác phẩm Quản Trọng với nước Tề thời Xuân
Thu của tác giả Cao Liên Hân, do dịch giả Ông Văn Tùng dịch (Nxb Văn học, Hà Nội,
* Các công trình nghiên cứu về nguồn gốc, sự hình thành trường Pháp gia
Trước hết là cuốn Lịch sử triết học (tập 1) – Triết học cổ đại của Trung tâm
KHXH&NV Quốc gia – Viện KHXH tại TP.HCM được Nxb KHXH, xuất bản năm
2002. Cuốn sách là công trình khoa học phản ánh sự chín muồi trong nghiên cứu
Lịch sử triết học của tác giả Nguyễn Thế Nghĩa, Doãn Chính, bởi tài liệu viện dẫn
hầu hết là những sản phẩm nghiên cứu đã được công bố của chính các tác giả này.
Trong công trình, Pháp gia và triết học Hàn Phi Tử được giới thiệu ở mục 12,
chương 2, phần thứ II. Qua mục này, tác giả đã lý giải vì sao Pháp gia xuất hiện
trong lịch sử, giới thiệu về thân thế, sự nghiệp của đại biểu tiêu biểu nhất trong
trường phái là Hàn Phi. Tư tưởng Hàn Phi Tử được tiếp cận từ các góc độ: Ảnh
hưởng từ trường phái nào, sự khác biệt ra sao [xem 116, tr.649-660]. Từ đó đưa ra
9
kết luận về tư tưởng Hàn Phi Tử là sản phẩm kế thừa xuất sắc của “Bách gia chư tử”
và học thuyết của ông có giá trị cho các nhà nước phong kiến trung ương tập quyền.
Tiếp đến, một công trình có chung đối tượng nghiên cứu với công trình trên là
cuốn Lịch sử triết học phương Đông (Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2006) của
Nguyễn Đăng Thục. Tuy nhiên, điểm đặc biệt ở công trình này là chỉ đi sâu vào hai nền
triết học lớn: Trung Hoa và Ấn Độ. Trong đó, tư tưởng Pháp gia và quan hệ với các
học phái khác được trình bày từ chương XII đến chương XVIII. Theo tác giả, Pháp gia
chính là sản phẩm của quá trình chuyển biến từ “Lễ” sang “Pháp” với hệ quả là: giải
phóng Nô lệ khỏi cai trị của vua chúa và khuynh hướng chính trị biến đổi… Các nhà
Lão học cũng nhận ra sự biến đổi thời đại, nhưng Pháp gia là người đem lại những
biến đổi mang tính hệ thống ở thời đại này [106, tr.305-306].
Nói về tính tất yếu phải có học thuyết pháp trị và lý giải vì sao Nho – Mặc –
Lão không thể dùng được trong bối cảnh xã hội Trung Hoa thời Xuân Thu – Chiến
Quốc, tác giả Đỗ Đức Minh có bài viết, “Sự hình thành, phát triển của học thuyết
Pháp trị Trung Hoa cổ đại và ý nghĩa đối với công tác lý luận hiện nay” (Tạp chí
* Khuynh hướng nghiên cứu đi sâu vào nội dung, đặc điểm tư tưởng Pháp gia
Về nội dung tư tưởng pháp trị của Pháp gia đã được nhiều học giả nghiên
cứu. Chẳng hạn trong cuốn Lịch sử triết học phương Đông do PGS.TS Doãn Chính
chủ biên (Nxb CTQG ST, Hà Nội, 2012), cho rằng, tư tưởng Pháp gia nói chung và
của Hàn Phinói riêng được trình bày theo ba nội dung căn bản:
Một là, Pháp gia là một trường phái triết học lớn nhất Trung Quốc với chủ
trương của nó là “Pháp - Thế - Thuật”; cơ sở triết học của Pháp gia là học thuyết về
Đạo. Xét về mặt nội dung, Pháp gia có thể được chia làm bốn phái “trọng thực”,
“trọng thế”, “ phái trọng thuật”, “ phái trọng pháp và biến pháp”.
Hai là, trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc cổ đại,quan điểm “hình pháp”
manh nha từ Quản Trọng khi ông cho rằng, cần phải chuyển từ trị nước bằng “lễ”
sang phép trị nước bằng “pháp luật”, đồng thời đề xuất việc lập pháp phải rõ ràng
và ban bố rộng rãi. Các trường phái khác có Tuân Tử được xem là một đại biểu của
Nho gia, hay Doãn Văn Tử của Danh gia cũng đều cho việc “kiểm hình”, “chính
danh, định phận” là cần thiết, vì thế mà quan điểm của hai nhà tư tưởng này, có thể
11
nói, cũng góp phần tạo cơ sở lý luận cho các Pháp gia sau này, bởi vì Hàn Phi từng
là học trò của Tuân Tử, người đề xuất học thuyết tính ác của con người.
Ba là, Hàn Phi xây dựng học thuyết của mình dựa trên hai trụ cột là “đạo”
và “lý”, từ đó kết hợp với nội dung “Pháp – Thuật – Thế” của các pháp gia tiền
bối, làm nên học thuyết Pháp gia hoàn chỉnh. Với công lao to lớn đó, ông trở thành
đại biểu ưu tú nhất của Pháp gia, được mệnh danh là "tập đại thành" của trường
phái Pháp gia.
Đánh giá về vai trò của Hàn Phi, trong cuốn Đại cương lịch sử triết học
Trung Quốc (Nxb CTQG, Hà Nội, 2004), Doãn Chính cho rằng: Hình pháp xuất
hiện sớm ở Trung Quốc, Hàn Phi là học trò đã tập hợp các học thuyết của Pháp
gia, nhưng phát triển “Pháp – Thuật – Thế” [12, 328]. Sự phát triển ấy về thực chất
thức sự vật, quan niệm về tiến hóa lịch sử; về tư tưởng chính trị - xã hội gồm: đường
lối chính trị với ba yếu tố “pháp – thuật – thế” và quan niệm làm cho nước giàu, binh
mạnh. Theo tác giả:
Tư tưởng triết học và tư tưởng chính trị của Hàn Phi có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Đường lối chính trị cần đến triết học ở cơ sở lý luận, phương pháp luận để
nhận thức và đánh giá sự vật… Cho nên, khi nghiên cứu lĩnh vực xã hội, ông không
chỉ là nhà chính trị, mà còn là nhà kinh tế tài ba [28, tr.101, 105].
Tiếp cận từ phương diện con người theo quan niệm của Hàn Phi, tác giả
Triệu Quang Minh, Trần Thị Lan Hương (Tạp chí KHXH, số 2-215/2009)trong
bài “Vấn đề con người trong quan niệm pháp trị của Hàn Phi”, trình bày quan
niệm bản chất con người và giáo hóa đạo làm người của Hàn Phi, cho rằng: Pháp
gia thường được đề cập tới như một thứ công cụ để trị người hơn là dạy người và
dùng người [76, tr. 68].
Trái ngược với quan điểm trên, trong cuốn Tư tưởng phương Đông gợi
những điểm nhìn tham chiếu của học giả Cao Xuân Huy (Nxb Văn học, Hà Nội,
1995), ở mục “Canh chiến”, tác giả có nhìn nhận, đánh giá tích cực hơn khi tiếp
cận tư tưởng con người dưới con mắt của Pháp gia Hàn Phi, đó là: Không nhọc vì
canh (cày) mà được giàu, không nguy vì chiến mà được quý [46, tr. 532]. Rõ ràng,
với Pháp gia thì người dân lao động chiếm một vai trò không nhỏ.
Khi nói về đặc điểm rõ nét nhất của Pháp gia trong hệ thống triết học Trung Hoa
cổ đại, trong cuốn “Lịch sử triết học phương Đông” mà chúng tôi đã dẫn ở trên, tác giả
Nguyễn Đăng Thục viết: về căn bản, điểm giống nhau giữa Nho gia, Mặc gia và Đạo
gia làlấy dân làm gốc. CònPháp gia đứng về nhà thống trị [106, tr. 305].
13
Lã Trấn Vũ được biết đến là một trong những học giả nổi tiếng trong lĩnh
vực nghiên cứu lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội của Pháp gia với công trình Lịch
14
cần thiết áp dụng tư tưởng pháp trị cho việc xây dựng nhà nước trung ương tập
quyền như thế nào? Tần Thủy Hoàng và mô hình nhà nước quân chủ thuần túy
trong lịch sử ra sao? Những hạn chế nào trong thuyết lợi kỷ của kẻ cầm quyền dẫn
đến sự thất bại trong đường lối trị nước của nhà Tần? Pháp gia với tư duy phát triển
kinh tế, quản lý và ổn định xã hội ra sao?..., cho đến nay chưa được đề cập sâu sắc,
đòi hỏi cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng hơn.
* Khuynh hướng nghiên cứu chuyên sâu về vai trò và vị thế của Pháp gia
trong lịch sử chính trị - xã hội Trung Hoa cổ đại
Nói về quan hệ của Pháp gia với các trường phái, trong cuốn Những tư tưởng
gia vĩ đại ở phương Đông của IAN P.McGREAL do Phạm Khải dịch (Nxb Lao động,
Hà Nội, 2005) có đoạn viết: “Hàn Phi Tử là cao đồ của Tuân Tử, nhà nho cuối cùng
của thời Chiến Quốc. Ông tổng hợp các thuyết chính danh của Nho gia, Danh gia và
Đạo gia để hình thành chính sách Vô vi độc đáo nhất” [51, tr.201].
Tương tự với cách tiếp cận trên, khi giải thích về quan hệ giữa Pháp gia với
Nho và Đạo, trong Từ điển triết học Trung Quốc, tác giả Doãn Chính viết:
Cơ sở triết lý của Pháp gia, đó là học thuyết về “đạo” và “lý” có tính truyền thống
trong triết học Trung Quốc nói chung cũng như quan điểm về “đạo” và “đức” của
Lão Tử nói riêng... Về mặt luân lý đạo đức, đó là học thuyết về bản tính ác của người,
được khởi xướng từ Tuân Tử, mà Hàn Phi đã vận dụng sinh động vào học thuyết
pháp trị của mình [14, tr.514].
Từ quan điểm Phật giáo, Thảo Đường Cư sĩ Trần Hải Minhtrong cuốn Bách
gia chư tử – phần hai, cũng cho rằng: Thương Ưởng, Hàn Phi, Lý Tư và Lã Bất Vi là
lớp học trò thứ tư của Nho gia [140]. Điều đó có nghĩa là các nhà thực hành chính trị
trên đều xuất phát từ đạo Khổng
Luận bàn về đóng góp của “Bách gia chư tử” trong việc hình thành tư tưởng
Còn khi bàn về quan hệ với Nho gia, Phùng Hữu Lan cũng đánh giá:
Tư tưởng Nho gia có tính chất lý tưởng, tư tưởng Pháp gia thì thực tế. Bởi vậy,
trong lịch sử Trung Quốc, Nho gia thường chê Pháp gia là tầm thường, còn Pháp
gia thì chê Nho là sách vở, thiếu thực tế [79, tr.172].
Trong Luận án tiến sĩ Chính trị học về Tư tưởng chính trị Hàn Phi Tử của
tác giả Trương Văn Huyền (HVTC HCQG HCM, Hà Nội, 2012), đã đề cập đến
bối cảnh ra đời tư tưởng chính trị của Hàn Phi. Nếu luận án của Vũ Kim Dung chủ
yếu bàn về tư tưởng làm cho nước giàu, binh mạnh thì luận án của Trương Văn
Huyền quan tâm nhiều hơn đến những nội dung tư tưởng khác, đó là sự cần thiết
phải thay đổi phương thức cai trị, tư tưởng về con người chính trị, đồng thời nêu
16
một số hạn chế, giá trị cần được kế thừa trong điều kiện nước ta hiện nay. Khi
phân biệt về sự khác nhau trong quan niệm “vua - tôi” giữa Nho gia với Pháp gia,
Trương Văn Huyền viết:
Điểm khác biệt trong quan niệm của Hàn Phi với các trường phái tư tưởng đương thời, đặc
biệt là trong tương quan với Nho gia là nhận thức về tiêu chuẩn của bậc vua chúa. Tuy vẫn
được đề cao, nhưng ông vua không như bậc thánh thần… mà chỉ yêu cầu một ông vua có
phẩm chất trung bình, nhưng biết đề ra pháp luật và điều hành xã hội… Đối với bề tôi,
quan trọng là sử dụng họ đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn… Đối với người dân,
chính là những người trực tiếp lao động làm cho nước giàu [47, tr.150-151].
Tựu trung lại, sự ra đời của Pháp gia và tư tưởng pháp trị của nó, ở mức độ nhất
định, có thể nói là sự tích hợp từ các dòng tư tưởng của “Bách gia chư tử” mà điển
hình là Nho, Mặc, Lão, Danh gia. Nhưng trải qua một quá trình hình thành và hoàn
thiện, nó thể hiện như một học thuyết triết học chính trị đặc thù, có tính thực tế cao, tạo
viết đưa ra những nhận định về giá trị của tư tưởng pháp trị:
… không chỉ ở chỗ đả phá tính giai cấp của xã hội phong kiến quý tộc, mà đã theo sự
tiến bộ của loài người, sự bình đẳng càng được tôn vinh là càng chứng tỏ cho xã hội
văn minh… là công cụ thiết thực, hữu ích trong việc giữ gìn trật tự xã hội [45, tr.5].
Nói về sức sống của tư tưởng pháp trị gắn liền với các quân vương, trong cuốn
Aristotle vàHàn Phi Tử - con người chính trị và thể chế chính trị, tác giả Nguyễn Văn
Vĩnh đã dẫn lời Will Durant (tác giả của bộ sách Lịch sử văn minh Trung Quốc):
Trong một thời gian dài trên trường chính trị, Pháp gia đã gây ảnh hưởng tới các vua
chúa ngang với ảnh hưởng của Nho giáo [137, tr.252]. Khi bàn về Pháp gia với tư
cách là một trong những sản phẩm đặc sắc của Trung Hoa, trong bài: “Trung Hoa
pháp hệ” - sảnphẩm đặc sắc của sự kết hợp giữa hai học thuyết Đức trị và Pháp trị
trong lịch sử phong kiến Trung Hoa (Tạp chíNhà nước và Pháp luật, số 3/2010), tác
giả Đỗ Đức Minh cho rằng:
Từ nền tảng ban đầu là học thuyết Đức trị của Khổng Tử và học thuyết Pháp trị của
Hàn Phi Tử, bằng sự tổng kết sâu sắc thực tiễn lịch sử đương thời (Tần Hán), Đổng
Trọng Thư, Lục Giả, Lưu Hâm và các thế hệ lý luận gia phong kiến đã không ngừng
tìm tòi, sáng tạo và phát triển lý luận theo nguyên tắc Lễ - Hình để hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ xây dựng nền tảng pháp lý của chế độ trung ương tập quyền tồn tại hơn
2000 năm [72, tr.17].
18
Tầm vóc tư tưởng của Pháp gia, mà đại biểu ưu tú nhất là Hàn Phi không chỉ
nổ bật ở Trung Quốc và một số nước Á Đông, mà còn lan tỏa ra tới phạm vi toàn cầu,
được chào đón với tư cách là một trong những tư tưởng gia tiêu biểu đặt nền móng
cho bộ môn khoa học chính trị và nền lập pháp trên thế giới. Do đó, trên lĩnh vực tư
tưởng chính trị, pháp lý, Hàn Phi được các nhà nghiên cứu xếp ngang hàng với các
học giả: Aristotle của Hy lạp cổ đại hay Machiavelli của nước Ý thời Phục Hưng.