đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học kinh tế
Nguyễn Thức Hạnh
Hoàn thiện chính sách tài khóa
việt nam đến năm 2020
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế
Ch-ơng trình định h-ớng thực hành
CHUYÊN NGàNH: QUảN Lý KINH Tế
Mã Số: 603401
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế
Ch-ơng trình định h-ớng thực hành
NGI HNG DN KHOA HC: PGS. PHM VN DNG
Hà Nội - 2015
1
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
2
1.4. Bi hc kinh nghim v chớnh sỏch ti khúa ca mt s nc 20
CHNG 2: THC TRNG CHNH SCH TI KHểA VIT NAM 25
2.1. Chớnh sỏch ti khúa giai on 1991-2001 27
2.2. Chớnh sỏch ti khúa giai on 2002-2007 28
2.3. Chớnh sỏch ti khúa giai on 2007-2008 30
2.4. Chớnh sỏch ti khúa giai on 2009 n nay 32
2.5. ỏnh giỏ tỏc ng ca chớnh sỏch ti khúa i vi nn kinh t nc ta 45
CHNG 3: CáC KHUYếN NGHị NHằM HOàN THIệN CHíNH SáCH TàI
KHOá TRONG NHữNG NĂM TớI 52
3.1. Bi cnh mi nh hng n chớnh sỏch ti khoỏ 52
3.1.1. Tỡnh hỡnh t nc 52
3.1.2. D bỏo nhng xu hng vn ng ca nn kinh t th gii 55
3.1.3. Mc tiờu phỏt trin kinh t - xó hi n nm 2020 62
3.2. Cỏc khuyn ngh nhm hon thin chớnh sỏch ti khoỏ 63
3.2.1. Hon thin mc tiờu chớnh sỏch ti khoỏ n nm 2020 63
3.2.2. Khuyn ngh hon thin cỏc gii phỏp ca chớnh sỏch ti khoỏ 66
3.2.2.1. Huy ng mi ngun lc ti chớnh phc v cho yờu cu phỏt trin ca
t nc 67
3.2.2.2. Phõn b, s dng hiu qu cỏc ngun lc ti chớnh 68
3.2.2.3. Tip tc i mi chớnh sỏch, c ch ti chớnh doanh nghip 69
3.2.2.4. Nõng cao nng lc v hiu qu thanh tra, kim tra, giỏm sỏt ti
chớnh 70
3.2.2.5. Ci cỏch hnh chớnh trong lnh vc ti chớnh, m bo hot ng ti
chớnh thụng sut, cht lng v hiu qu 72
3.2.2.6. Hon thin th ch ti chớnh, phng thc v cỏch thc iu hnh
chớnh sỏch ti chớnh, tin t 72
Kấ
21. TNDN : Thu nhp doanh nghip
22. TNCN : Thu nhp cỏ nhõn
23. KBNN : Kho bc nh nc
24. EIU : C quan nghiờn cu kinh t ton cu
25. CSTK : Chớnh sỏch ti khúa
26. CSTT : Chớnh sỏch tin t
4
Danh mục các biểu bảng và đồ thị
1. Hỡnh 1.1. th khi chớnh sỏch ti khoỏ m rng
2. Hỡnh 1.2. th khi chớnh sỏch ti khoỏ tht cht
3. Biu 2.1. Tng trng kinh t th gii, M, khu vc ng Euro, Nht Bn,
cỏc nc chõu ang phỏt trin v Vit Nam
4. Biu 2.2. Tng trng GDP 2000-2007
5. Biu 2.3. Chi ngõn sỏch Nh nc 2000-2007
6. Biu 2.4. Tng u t/GDP (%) giai on 2006-2011
7. Biu 2.5. H s ICOR ca Vit Nam v mt s quc gia chõu
8. Biu 2.6. Tng trng GDP theo quý cỏc nm 2009, 2010
9. Biu 2.7. GDP bỡnh quõn u ngi giai on 2000-2010
10. Biu 2.8. Thõm ht ngõn sỏch Vit Nam giai on 2005-2011
11. Biu 2.9. T l thc hin thu ngõn sỏch so vi d toỏn (%) nm 2005 2013
12. Biu 2.10. Tc tng thu NSNN, tng GDP v giỏ hng nm
13. Biu 2.11. T l thc hin cỏc khon chi NSNN so vi d toỏn nm (%)
14. Biu 2.12. Thc hin thu NSNN quý I giai on 2010-2014 (% so vi
d toỏn) 5
6
Về lý luận: Chính sách tài khoá là một trong hai công cụ quan trọng của
Chính phủ nhằm điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, nó lại chưa được nghiên
cứu đầy đủ và hệ thống. Những cuộc khảo sát và nghiên cứu còn mang tính hình
thức, chưa có kết quả cao. Dẫn tới tình trạng thiếu cơ sở về mặt lý luận để sử
dụng chính sách tài khóa trong thực tiễn nền kinh tế Việt Nam.
Về thực tiễn: Hiện nay chính sách tài khoá chưa chặt chẽ, còn có nhiều lỗ
hổng (kể cả chính sách thuế khoá và chi tiêu công cộng). Khi thực hiện chức
năng điều tiết nền kinh tế thì thiếu quyết liệt, đồng bộ dẫn tới hiệu quả không
cao, chưa phát huy toàn diện trong nền kinh tế, phản ánh chưa đúng khả năng và
sự đầu tư của Chính phủ vào chính sách này.
Năm 2012, Việt Nam có nhiệm vụ phải kiềm chế lạm phát, ổn định kinh
tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội, tăng trưởng hợp lý và phấn đấu đến năm 2020
Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Ổn định
kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát là điểm sáng của nền kinh tế trong năm 2013,
chính vì vậy tiếp tục phải giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát được lạm
phát”. Đó là những lý do để em chọn đề tài “Hoàn thiện chính sách tài khoá
Việt Nam đến năm 2020”.
2. Tình hình nghiên cứu
Một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài là:
- “Phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ ở một số nước và hàm ý chính
sách cho Việt Nam” của TS. Lê Thị Thùy Vân , ThS. Hồ Khắc Tế, bài đăng trên
Tạp chí Tài chính số 3 – 2013. Theo các tác giả, chính sách tài khóa và chính
sách tiền tệ là hai công cụ ổn định kinh tế vĩ mô quan trọng ở mọi quốc gia và có
mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau. Bài viết trình bày thực tiễn phối hợp hai chính
sách này ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản. Trên cơ sở đó, bài báo
rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc điều hành kinh tế vĩ mô.
- “Một số khuyến nghị về phối hợp chính sách tài khóa - tiền tệ” của ThS.
Nguyễn Thị Hải Thu - Viện Chiến lược và Chính sách Tài chính, bài đăng trên
như thế nào trong điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ ? Nếu thực tế chính
sách tài khoá không tác động đến kinh tế vĩ mô như lý thuyết đã nghiên cứu, ta
thử xem xét kinh tế vĩ mô Việt Nam năm 2011 đến năm 2013 và 3 tháng đầu
năm 2014 ? Thực sự nó có tác động lớn thì tác động của nó đến kinh tế vĩ mô
8
như thế nào ? Làm thế nào để chính sách tài khoá thực sự là công cụ điều tiết
nền kinh tế vĩ mô có hiệu quả của Chính phủ ?
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu. Dựa vào các kiến thức được tích luỹ trong khóa học
nhất là các môn Lý thuyết Kinh tế vĩ mô, Lý thuyết kinh tế vi mô, Hoạch định
chính sách, và các số liệu, đồ thị, biểu đồ từ các nguồn tài liệu thu thập được
để phân tích, đánh giá thực trạng về chính sách tài khoá của Việt Nam giai đoạn
từ 2000 đến quý I/ 2014, sự tác động của chính sách tài khóa vào nền kinh tế
như thế nào, mức độ ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô khi Chính phủ sử dụng
chính sách tài khóa trong điều tiết nền kinh tế, mối liên hệ giữa chính sách tài
khóa với các chính sách khác như chính sách tiền tệ, chính sách tỉ giá hối đoái,
chính sách thương mại , ảnh hưởng của độ trễ chính sách tài khóa, từ đó nêu
ra một số khuyến nghị cho chính sách tài khoá giai đoạn từ năm 2015 đến năm
2020.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách tài khoá.
- Qua các số liệu, dự liệu, biểu đồ phân tích, đánh giá thực trạng về chính
sách tài khoá và tác động của nó đến nền kinh tế vĩ mô.
- Nêu một số khuyến nghị về chính sách tài khoá cho nền kinh tế nước
nhà giai đoạn 2015 – 2020.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu. Là những vấn đề về lý luận và thực tiễn của chính
sách tài khoá mà Chính phủ đã vận dụng phù hợp hay chưa phù hợp để điều tiết
Trên cơ sở lý luận về lý thuyết kinh tế học vĩ mô để phân tích tác động
của chính sách tài khoá đến nền kinh tế.
10
Dựa vào các số liệu, tài liệu, dự liệu, biểu đồ liên quan để đánh giá thực
trạng tác động của chính sách tài khoá đến nền kinh tế, từ đó đưa ra một số
khuyến nghị cho mục tiêu chính sách tài khoá giai đoạn 2015 đến năm 2020.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách tài khoá.
Chương 2: Thực trạng về chính sách tài khoá ở Việt Nam giai đoạn 1991
đến năm 2013.
Chương 3: Các khuyến nghị nhằm hoàn thiện chính sách tài khoá trong
những năm tới. 11
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA
1.1. Chính sách tài khóa
1.1.1. Khái niệm về chính sách tài khóa
Chính sách tài khoá là việc Chính phủ sử dụng một hệ thống giải pháp
thông qua thuế khoá và chi tiêu công cộng để điều tiết mức chi tiêu của nền kinh
tế. Khi nền kinh tế ở cách xa mức sản lượng tiềm năng thì Chính phủ có thể sử
dụng chính sách tài khoá để đưa nó về mức sản lượng tiềm năng (J.M. Keynes
coi chính sách tài khoá là chính sách trung tâm trong quá trình điều tiết nền kinh
tế của Chính phủ).
Chính sách tài khóa (fical policy) là chính sách nhằm tác động đến định
dụng tăng sẽ kích thích tiêu dùng tăng theo. Tiêu dùng tăng lại làm tổng cầu tăng.
Khi tổng cầu tăng đường tổng cầu dịch chuyển lên trên thì làm cho sản
lượng tiến về sản lượng tiềm năng và thất nghiệp giảm xuống bằng thất nghiệp
tự nhiên (Hình 1.1) [13].
* Cơ chế tác động của chính sách tài khoá mở rộng.
G AD Y
T→ YD C AD Y
P
LSAS SRAS
P2 E2
P1 E1
AD2
AD1
- Đó là những thay đổi tự động về thuế. Hệ thống thuế hiện đại bao gồm
thuế thu nhập luỹ tiến với thu nhập cá nhân và lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi
P
LRAS SRAS
P1 E1
P2 E2
AD1
AD2 0 YE Y1 Y
Hình 1.2 - Đồ thị khi chính sách tài khoá thắt chặt.
14
thu nhập quốc dân tăng lên, số thu về thuế tăng theo, và ngược lại, khi thu nhập
giảm, thuế giảm ngay, mặc dù Quốc hội chưa kịp điều chỉnh thuế suất.
Sản lượng giảm, doanh thu thuế tự động giảm để cho thu nhập và chi tiêu cá
nhân sẽ bớt suy giảm. Trong thời kỳ lạm phát, doanh thu thuế tăng lên sẽ làm giảm
thu nhập cá nhân, kìm hãm chi tiêu, làm giảm tổng cầu và hạn chế lạm phát.
Vì vậy, hệ thống thuế có vai trò như là một bộ tự ổn định tự động nhanh
và mạnh.
- Hệ thống bảo hiểm, bao gồm bảo hiểm thất nghiệp và các chuyển khoản
Mục tiêu cụ thể là Chính phủ thay đổi về mức độ và thành phần của thuế
và chi tiêu của Chính phủ sẽ ảnh hưởng đến các biến số sau trong nền kinh tế.
- Tổng cầu và mức độ hoạt động của nền kinh tế.
- Kiểu phân bổ nguồn lực.
- Phân phối thu nhập.
1.2. Đặc điểm chính sách tài khóa các nƣớc
Mọi Chính phủ đều phải duy trì một chính sách tài khóa bền vững, có
nghĩa là có một mức độ thâm hụt tài khóa trong tầm kiểm soát ở ngắn hạn, đi
kèm với những khoản nợ công có thể trả được.
Ngoài ra, các nước đang phát triển còn có những trách nhiệm như làm
giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế, đảm bảo phúc lợi xã hội. Để làm được việc này
cần những chính sách tài khóa và các chương trình đầu tư công hiệu quả.
1.2.1. Đc đim chính sách tài khoá của các nưc phát trin
Ở các nước phát triển chế độ phúc lợi xã hội rất tốt đồng thời thu nhập của
người dân cũng rất cao vì vậy mức đóng góp của họ cũng chiếm tỷ trọng lớn
trong ngân sách quốc gia.
Các nước phát triển có thể thực hiện chính sách tài khóa ngược chu kỳ
thông qua các công cụ bình ổn tự động (autonomatic stabilizers). Gọi là công cụ
16
bình ổn tự động bởi vì chính cơ chế vận hành của các công cụ này “tự động”
đảm bảo chính sách tài khóa ngược chu kỳ.
Chẳng hạn, khi suy thoái, thất nghiệp tăng lên, khiến bảo hiểm thất nghiệp
và các khoản chuyển nhượng xã hội tăng lên theo. Để giúp đỡ người dân, Chính
phủ tăng các khoản trợ cấp, bảo hiểm, hỗ trợ người nghèo. Có nghĩa là chi tiêu
Chính phủ đã tăng trong thời kỳ suy thoái, giúp kích thích nền kinh tế.
Tương tự, chính sách thuế cũng có thể ngược chu kỳ, chẳng hạn khi suy
thoái thu nhập cá nhân giảm làm doanh số thu được từ thuế của Chính phủ cũng
giảm theo.
Cho đến khi nền kinh tế lâm vào tình trạng suy yếu, câu chuyện ngược lại
xảy ra khi dòng vốn chạy ra khỏi nền kinh tế, dẫn tới một hiện tượng mà các nhà
kinh tế gọi là “cú dừng đột ngột”(sudden stop). Chính phủ phải đối mặt với
lượng vốn đầu tư giảm đột ngột, và buộc phải giảm thâm hụt bằng cách cắt giảm
chi tiêu. Chính vì vậy, khi nền kinh tế suy yếu, G giảm, chính sách tài khóa rất
thuận chu kỳ.
Ở các nước nghèo, chi tiêu Chính phủ chủ yếu dành cho hai khoản: chi
lương cho công chức, viên chức và chi đầu tư. Ở Indonesia, khi đất nước lâm
vào suy thoái thì Chính phủ buộc phải cắt giảm ngân sách, họ thà cắt giảm đầu
tư còn hơn là cắt giảm lương, vì các lý do chính trị. Đa phần các Chính phủ sẽ
thường bị ám ảnh và việc dễ nhất là cắt giảm đầu tư, đặc biệt ở các nước đang
phát triển.
Trong dài hạn, chi tiêu Chính phủ dưới dạng đầu tư, như xây cầu đường,
cơ sở hạ tầng…, có quan hệ chặt chẽ với tăng trưởng. Nếu không có những dự
án công này, thật khó có thể tăng thuế trong dài hạn.
Đôi khi cắt giảm đầu tư là cần thiết, nhưng ở các nước đang phát triển,
điều tệ hại hơn là Chính phủ cắt giảm các khoản chi tiêu có thể thúc đẩy tăng
trưởng tương lai.
Vậy, ở các nước đang phát triển do đặc điểm phát triển kinh tế, xã hội làm
cho chính sách tài khóa rất thuận chu kỳ.
18
1.3. Các nguyên tắc tài khóa [13]
Chính sách tài khóa ngược chu kỳ là cần thiết để đưa nền kinh tế ra khỏi
tình trạng suy thoái hoặc lạm phát. Làm thế nào để các nước đang phát triển làm
cho các chính sách tài khóa bớt theo chu kỳ hơn ? Sau đây là bốn nguyên tắc tài
khóa giúp chính sách tài khóa bớt thuận chu kỳ hơn.
1.3.1. Nguyên tắc cân bằng ngân sách
Cân bằng ngân sách là cách giữ cho thu và chi của Chính phủ luôn cân
nguyên tắc này đòi hỏi phải rất nguyên tắc về tài khóa, các quỹ này phải ở ngoài
tầm với của các nhà chính trị.
1.3.4. Nguyên tắc 1% của Chile
Theo nguyên tắc này Chính phủ cần phải duy trì thường xuyên chu kỳ
điều chỉnh thặng dư ngân sách của mình ở mức ít nhất 1%GDP.
Nguyên tắc này được tạo ra để phá vỡ tính thuận chu kỳ của các chính sách.
Từ năm 2001 Chile đã đều đặn theo chu kỳ điều chỉnh thặng dư ngân sách
của mình ở mức ít nhất 1% GDP.
Vấn đề của Chile là chi tiêu và vay mượn cao khi giá đồng tăng cao, và
giảm khi giá đồng giảm – giá nguyên liệu đồng thường ở mức 33-34% doanh
thu ngân sách trong thời kỳ 1990-2006.
Các điều chỉnh theo chu kỳ có nghĩa là giá đồng cố định được dùng để
tính toán nguồn thu Chính phủ từ đồng, sao cho khi kinh tế bùng nổ Chính phủ
không thể mặc định rằng có thể phung phí tiền của.
Ngoài ra cũng phải điều chỉnh chi tiêu để tính cả các khoản chi phí xã hội
tăng lên trong thời kỳ suy thoái. Việc thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải có
một hệ thống cơ quan tài khóa mạnh sử dụng các chuyên gia để ước lượng
những doanh thu dài hạn mà không khuyến khích nhà nước chi tiêu quá nhiều.
Chất lượng của các định chế tài khóa là tối cao: Quy tắc nào trong số này
phát huy tác dụng hay không phụ thuộc vào mức độ minh bạch và rõ ràng của
các định chế này.
20
1.4. Bài học kinh nghiệm về chính sách tài khóa của một số nƣớc ở
châu Á
Trước khi xem xét thực trạng về chính sách tài khóa ở Việt Nam, chúng ta
nhìn nhận về chính sách tài khóa ở một số quốc gia ở châu Á như Singgapore,
Trung Quốc, Nhật Bản để rút ra bài học cho việc vận dụng chính sách tài khóa
vào điều hành nền kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Chính phủ nước này trong năm 2014 sẽ tiếp tục duy trì thận trọng trong quản lý
tỷgiá ngoại hối hiệu quả danh nghĩa (NEER) của đồng đô la Singapore (SGD),
tức là SGD được giao dịch theo tỷgiá không công bố. MAS khẳng định, chính
sách trên là phù hợp để khống chế được sức ép về lạm phát, giữ tỷlệ lạm phát
không thay đổi nhiều và hỗ trợ cơ cấu lại nền kinh tế. Singapore thực hiện CSTT
bằng cách điều chỉnh giá trị SGD so với một rổ tiền tệ không được tiết lộ, chứ
không điều chỉnh lãi suất. Trong khi đó, cuối tháng 02/2014, Ngân hàng Phát
triển Singapore (DBS) dự báo nền kinh tế Singapore đạt tốc độ tăng trưởng
khoảng 4% trong năm 2014.
Trong giai đoạn 2009 - 2010, Trung Quốc chịu ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng kinh tế thế giới, thị trường xuất khẩu của nước này bị thu hẹp, áp
lực của các ngành nghề sản xuất hàng xuất khẩu gia tăng, đầu tư bị thu hẹp, tốc
độ tăng trưởng kinh tế bắt đầu giảm sút. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc đã thực
hiện CSTK tích cực và CSTT nới lỏng.
Theo đó, trọng tâm của CSTK chuyển sang chú trọng vào chất lượng và
hiệu quả kinh tế, tăng chi NSNN cho các lĩnh vực cải thiện đời sống nhân dân,
tạo việc làm, phát triển nông nghiệp - nông thôn. Đồng thời, CSTT cũng được
nới lỏng theo hướng giảm tỷlệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương
mại, xóa bỏ hạn mức, mở rộng hợp lý quy mô cho vay tín dụng. Trong giai đoạn
hiện nay, Trung Quốc tiếp tục duy trì CSTK “tích cực”, và thực hiện CSTT “ổn
định” nhằm hỗ trợ hợp lý tăng trưởng kinh tế trong khi vẫn chú trọng kiểm soát
rủi ro tín dụng, ngăn ngừa nguy cơ lạm phát quay trở lại.
Vì vậy, việc kiềm chế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là ưu tiên
số một trong hoạch định và thực thi chính sách của Trung Quốc. Có thể thấy, vai
22
trò của việc phối hợp CSTK và CSTT trong điều tiết vĩ mô ngày càng được nâng
cao, thể hiện qua sự thay đổi tư duy của Chính phủ Trung Quốc những năm gần
đây.
ngân sách cơ bản vào năm 2011. Tuy nhiên, Chính phủ Nhật Bản cũng chú trọng
cân đối giữa hai mục tiêu, đảm bảo phục hồi kinh tế trong ngắn hạn song không
trì hoãn mà sẽ thực hiện CSTK thắt chặt đúng thời điểm nhằm duy trì kỷluật tài
chính và đạt mức thặng dư ngân sách cơ bản.
Ngoài tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu, nền
kinh tế Nhật Bản còn chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi động đất và sóng thần
hồi tháng 03/2011. Do đó, cùng với CSTK mở rộng, CSTT tiếp tục được nới
lỏng nhằm hỗ trợ cho các hoạt động tái thiết nền kinh tế. Theo đó, Ngân hàng
Trung ương Nhật Bản (BOJ) tiếp tục giữ mức lãi suất thấp từ 0 - 0,1%, đồng
thời tiếp tục cung cấp thanh khoản cho thị trường bằng các đợt “bơm” tiền liên
tục sau thảm họa kép. Bên cạnh đó, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện đồng thời
CSTK và CSTK mở rộng để vực dậy nền kinh tế.
Ngoài ra, BOJ có nghĩa vụ luôn phải duy trì liên lạc chặt chẽ và trao đổi
với chính phủ về CSTT, đảm bảo tương thích với những lập trường cơ bản của
chính sách kinh tế của chính phủ, Luật Ngân hàng Trung ương Nhật Bản quy
định BOJ sẽ “luôn luôn duy trì liên lạc chặt chẽ và trao đổi đầy đủ với chính
phủ” tại (Điều 4) của Luật Ngân hàng Trung ương Nhật Bản.
Nhật Bản đẩy nặng vai trò của BOJ trong việc thực thi các chính sách tiền
tệ. Nghĩa vụ cung cấp thông tin sẽ giúp minh bạch hóa thông tin về các quyết
định và qúa trình ra quyết định liên quan đến CSTT của ngân hàng trung ương
cũng như tăng cường hiệu quả của các CSTT.
Với cam kết thúc đẩy phục hồi tài chính trong năm 2014, Chính phủ Nhật
Bản sẽ hạn chế phát hành trái phiếu chính phủ mới ở mức 41.250 tỷYen, giảm
1.600 tỷYen so với tài khóa 2013, do doanh thu thuế ước tính sẽ đạt 50.000
tỷYen trong năm nay.
Năm tài khóa 2014 đánh dấu lần đầu tiên chi tiêu cho an sinh xã hội của
Nhật Bản vượt mức 30.000 tỷYen, do dân số già khiến lương hưu và chi phí y tế
tăng mạnh. Chi phí quốc phòng cũng sẽ tăng năm thứ 2 liên tiếp, lên tới gần